ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
LÊ THỊ THU HẰNG
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN HƢƠNG SƠN, TỈNH HÀ
TĨNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
LÊ THỊ THU HẰNG
KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÀ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN HƢƠNG SƠN, TỈNH HÀ
TĨNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60.22.03.08
Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm
2016.
Học viên thực hiện
Lê Thị Thu Hằng
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Ban chủ nhiệm khoa Triết học, Bộ phận quản lý học viên sau Đại học
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội đã tận tình dạy dỗ tôi
trong quá trình học tập và hướng dẫn quy trình thực hiện luận văn. Đặc biệt, tôi
xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Ngô Thị Phượng - người trực tiếp hướng
dẫn, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dân huyện Hương Sơn, gia
đình, bạn bè đã đồng hành, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình vừa qua. Mặc dù đã cố
gắng hết sức song khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót,
kính mong nhận được sự góp ý của quý thầy, cô giáo để đề tài được hoàn thiện
hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn.
Hà Nội, ngày 08 tháng 03 năm
2016
Học viên: Lê Thị Thu Hằng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do lựa chọn đề tài ...................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
2.1.4. Vai trò của phụ nữ trong phân phối .................................................. 62
2.1.5. Vai trò của phụ nữ trong huy động vốn, sử dụng nguồn lực để phát
triển kinh tế.................................................................................................. 65
2.2. Những vấn đề đặt ra liên quan đến vai trò ngƣời phụ nữ trong phát
triển kinh tế hộ gia đình................................................................................ 69
2.2.1. Trình độ chuyên môn của phụ nữ chưa đáp ứng với yêu cầu của sự
phát triển kinh tế - xã hội ............................................................................ 69
2.2.2. Sự bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
..................................................................................................................... 71
2.2.3. Phong tục tập quán lạc hậu và định kiến xã hội đối với phụ nữ ...... 75
2.2.4. Tâm lý an phận, tự ti của người phụ nữ ............................................ 77
2.3. Giải pháp tiếp tục phát huy vai trò của phụ nữ với phát triển kinh tế
hộ gia đình ở huyện Hƣơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay .......................... 79
2.3.1. Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức của người phụ nữ .............. 79
2.3.2. Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực tổ chức quản lý và phát triển
phát triển kinh tế cho phụ nữ ...................................................................... 82
2.3.3. Nhóm giải pháp về xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật lồng ghép
nội dung bình đẳng giới .............................................................................. 83
2.3.4. Xây dựng và phát huy vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ cấp huyện, xã
..................................................................................................................... 87
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 94
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế tư nhân là một thành phần quan trọng trong
cơ cấu kinh tế của xã hội. Kinh tế tư nhân đang có mặt ở nhiều ngành, nghề cả
nông thôn và thành thị. Đây cũng là thành phần kinh tế có điều kiện phát huy
nhanh, hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình và
Tĩnh. Tuy là một huyện miền núi với điều kiện tự nhiên khó khăn nhưng người
dân nơi đây không cam chịu phận nghèo. Với gần 70% dân cư hoạt động trong
lĩnh vực nông nghiệp, trong thời gian gần đây, đặc biệt là khi cả nước thực hiện
chương trình xây dựng “nông thôn mới”, người dân Hương Sơn đã khai thác
hiệu quả thế mạnh của tự nhiên để xây dựng, phát triển kinh tế hộ gia đình. Nhờ
vậy, đời sống xã hội toàn huyện đã có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực.
Theo “Đánh giá kết quả tiêu chí thu nhập năm 2014, kế hoạch thực hiện năm
2015” của Ủy ban Nhân dân huyện Hương Sơn, tính đến ngày 31/12/2014,
huyện Hương Sơn có tổng 1341 mô hình kinh tế trong lĩnh vực trồng trọt, chăn
nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, tổng hợp. Trong đó,có 52 mô hình kinh tế cho doanh
thu trên 1 tỷ đồng/năm;77 mô hình đưa lại doanh thu 500 triệu - 1 tỷ đồng/năm;
543 mô hình cho doanh thu gần 500 triệu/năm. Đặc biệt, huyện có 83 mô hình
trang trại đã được công nhận và hoạt động có hiệu quả, đưa lại nguồn thu nhập
cao cho người dân.
Trong quá trình phát triển đó, có sự đóng góp không nhỏ của đông đảo
phụ nữ trong các hộ gia đình. Tuy nhiên, do một số trở ngại mà vai trò của họ
chưa được đánh giá một cách khách quan, và họ chưa có điều kiện để phát huy
hết khả năng và vai trò của mình. Việc phát huy một cách có hiệu quả vai trò của
phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình không chỉ là cách giúp các gia đình
thoát nghèo, cải thiện cuộc sống, phát triển kinh tế, vươn lên làm giàu mà còn
góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đồng thời là con đường để giải
phóng phụ nữ. Chính vì vậy, tôi chọn vấn đề “Kinh tế hộ gia đình và vai trò của
2
phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến đề tài luận văn, đã có nhiều công trình công bố. Luận văn
phân chia các công trình đó theo các nhóm vấn đề sau:
việc của gia đình và xã hội.
Lê Thị Thúy (2013), Phát triển nguồn nhân lực nữ nhằm tăng trưởng kinh
tế và thực hiện công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sĩ
Kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. Luận án đã phân tích một
số cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nguồn nhân lực nữ đối với tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội; thực trạng phát triển nguồn nhân lực và ảnh
hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc
Việt Nam; giải pháp để phát triển nguồn nhân lực nữ để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và thực hiện công bằng xã hội ở miền núi phía Bắc Việt Nam đến năm
2020…
Thứ hai, nhóm công trình nghiên cứu về kinh tế tư nhân (kinh tế hộ gia
đình) có một số công trình:
Sa Trọng Đoàn (2000), “Phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi trong quá
trình chuyển sang cơ chế thị trường”, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Trong công trình này, tác giả đã trình bày diện mạo
mô hình kinh tế hộ gia đình, nhất là kinh tế hộ gia đình ở miền núi, đặc điểm, sự
phát triển và vai trò của mô hình kinh tế này trong sự phát kinh tế của đất nước
thời kỳ chuyển đổi từ kinh tế tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường ở nước
ta.
Nguyễn Đức Truyến (2003), Kinh tế hộ gia đình và các quan hệ xã hội ở
nông thôn đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, nhà xuất bản Khoa học
xã hội. Trong công trình này, tác giả đã trình bày về sự phát triển kinh tế hộ gia
đình trong thời kỳ đổi mới và phân tích hiện trạng những quan hệ xã hội ở nông
thôn đồng bằng sông Hồng, khi mà kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển. Qua
4
đó, cho thấy sự phát triển kinh tế hộ gia đình như là một yếu tố tác động đến
những biến đổi của các quan hệ xã hội, và ngược lại.
Trịnh Thị Hoa Mai (2005), Kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong tiến trình
Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái
Nguyên. Luận văn đã trình bày thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế huyện Phú Lương; quan điểm, phương hướng và những giải
pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ ở
huyện Phú Lương.
Phan Đức Tùng (2014), Nghiên cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong
phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Đông Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn
Thạc sĩ Phát triển nông thôn, Đại học Nông Lâm.
Uông Thị Kim Yến (2011), Nghiên cứu đặc tính nông sinh học và một số
biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng cam bù ở Hương Sơn, Hà
Tĩnh, Luận văn thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
….
Như vậy, có thể thấy, vấn đề phát huy vai trò phụ nữ là một vấn đề quan
trọng và được nhiều tác giả đề cập đến. Song cho đến nay, chưa có một công
trình độc lập nào nghiên cứu về kinh tế hộ gia đình mà vai trò của phụ nữ trong
phát triển kinh tế hộ gia đình ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích
Luận văn làm rõ vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; từ đó đề xuất các giải pháp tiếp tục phát huy
vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà
Tĩnh hiện nay.
- Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
6
+ Trình bày một số vấn đề lý luận về kinh tế hộ gia đình, vai trò của người
phụ nữ.
hội học, phỏng vấn, phân tích, tổng hợp.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của người phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ gia đình ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh và đề xuất một số biện
pháp giúp phụ nữ Hương Sơn tiếp tục phát huy vai trò đó trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ thêm vai trò của người phụ nữ trong phát triển
kinh tế hộ gia đình ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu cho việc nghiên cứu những vấn đề liên quan
đến phụ nữ và vai trò của người phụ nữ trong xã hội.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn bao gồm 2 chương, 4 tiết.
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1. KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH VÀ KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH Ở
HUYỆN HƢƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
1.1 Một số vấn đề lý luận về kinh tế hộ gia đình
1.1.1 Khái niệm và các hình thức cơ bản của kinh tế hộ gia đình
Khái niệm kinh tế hộ gia đình
Kể từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày
05/4/1988 về “Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, với mục đích giải phóng
sức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chuyển giao đất đai và các tư liệu
sản xuất khác cho hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, thì các hộ nông dân
đã trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp. Điều đó có nghĩa
giả nhấn mạnh đến tính cộng đồng trong quan hệ kinh tế của hộ gia đình
Còn tác giả Trần Hoàng Phong, dưới góc độ Quản lý Nhà nước về kinh tế
thì lại nhấn mạnh “Kinh tế hộ gia đình là một loại hình tổ chức sản xuất gắn
nông dân với đất đai, khai thác tốt tiềm năng của từng gia đình nông dân, là một
đơn vị kinh tế tự chủ, là chủ thể phát triển kinh tế trong cơ chế thị trường. [36,
tr.41]… Nhìn chung, các ý kiến trên căn cứ vào góc độ và mục đích của từ
ngành khoa học để có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau về kinh tế
hộ gia đình.
Kế thừa những ý kiến trên, luận văn quan niệm, kinh tế hộ gia đình là mô
hình kinh tế độc lập, tự chủ, lấy gia đình làm đơn vị, thuộc sở hữu của hộ gia
đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt
động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực
sản xuất, kinh doanh khác.
Như vậy, kinh tế hộ gia đình cùng với kinh tế cá thể, tiểu chủ là một khu
vực, bộ phận của kinh tế tư nhân, được bình đẳng với các thành phần kinh tế
khác trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay, như tinh thần của Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nêu “Thực hiện nhất quán chính sách phát
10
triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp
luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập
thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân… kinh tế
cá thể, tiểu chủ cả ở nông thôn và thành thị có vị trí quan trọng lâu dài…”1
Các hình thức cơ bản của kinh tế hộ gia đình
Kinh tế hộ gia đình có những hình thức khác nhau, tùy theo tiêu chí xác
định.
Xét theo tính chất và trình độ sản xuất, kinh tế hộ gia đình bao gồm kinh
gồm trang trại trồng trọt, trang trại chăn nuôi, trang trại lâm nghiệp, trang trại
nuôi trồng thủy sản, trang trại tổng hợp.
Như vậy, trang trại là hình thức của kinh tế hộ gia đình, có quy mô sản
xuất lớn và tính chất sản xuất hoàn toàn khác. Tính chất sản xuất của trang trại
chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tức là sản xuất nhằm mục đích để đáp ứng nhu cầu
của thị trường. Đây là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp,
nông thôn trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng
rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn một số điều kiện. Đối với cơ
sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải có diện tích trên mức
hạn điền, tối thiểu 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long; 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại. Giá trị sản lượng hàng hóa đạt trên 700
triệu đồng/năm. Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ
1.000 triệu đồng/năm trở lên. Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện
tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu
đồng/năm trở lên.[5]
Xét theo cơ cấu ngành nghề, kinh tế hộ được phân chia thành các loại: hộ
thuần nông, hộ kiêm nghề, hộ chuyên nghề và hộ kinh doanh tổng hợp.
Hộ thuần nông lấy nông nghiệp là ngành sản xuất chính, không có kinh
doanh và phát triển thêm các ngành nghề khác. Trong hộ thuần nông lại chia hai
loại hộ là hộ sản xuất nông nghiệp ở mức tái sản xuất giản đơn và hộ đạt mức tái
12
sản xuất mở rộng. Hộ sản xuất nông nghiệp ở mức tái sản xuất giản đơn là hộ có
mức đầu tư về tư liệu sản xuất và sức lao độn như cũ, khối lượng sản phẩm nông
nghiệp sản xuất ra như năm trước, không có sự tăng thêm. Hộ sản xuất nông
nghiệp đạt mức tái sản xuất mở rộng là hộ có sự đầu tư thêm về tư liệu sản xuất
và sức lao động để tăng thêm lượng nông sản tạo ra.
nghề phi nông nghiệp là chính. Một bộ phận nông dân bên cạnh sản xuất nông
nghiệp tiếp tục theo đuổi các ngành nghề truyền thống do cha ông để lại và một
bộ phận khác phát triển các ngành nghề mới. Những hộ có kinh nghiệm với
nghề truyền thống, có kỹ thuật tinh xảo sẽ chuyển sang làm nghề như đồ gốm
sứ, chế biến nông sản, thủ công, mỹ nghệ… phục vụ cho thị trường trong nước
và xuất khẩu. Đây chính là loại hộ đại diện cho sức sản xuất mới đang xuất hiện
và phát triển ở nông thôn, là nhân tố cơ bản kích thích quá trình chuyển nền
nông nghiệp tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa. Đối với
nhóm hộ này, xu hướng vận động phát triển là tiến tới hình thành các trang trại
và doanh nghiệp ngành nghề theo hướng tiểu chủ. Khi đó thị trường thuận lợi,
các ngành nghề được phát triển nhanh chóng và trở thành các hoạt động sản xuất
chính. Như vậy, hộ chuyên nghề là những hộ gia đình hoạt động kinh tế trong
các lĩnh vực ngành nghề và dịch vụ.
Hộ kinh doanh tổng hợp là những hộ gia đình hoạt động trong cả lĩnh vực
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Mô hình này thường hình thành ở các thị
tứ hoặc các trung tâm cụm xã theo đầu mối giao thông. Sản xuất nông lâm
nghiệp - kinh doanh tổng hợp là mô hình kinh tế hộ ngày càng có hiệu quả ở
nhiều địa phương, nhất là ở các tỉnh trung du, miền núi. Xu hướng phát triển các
hộ gia đình này sẽ thành các trang trại gia đình hoặc doanh nghiệp tư nhân.
Đồng thời với quy mô và có vốn lớn, các hộ này còn kinh doanh phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng hoặc thu gom, chế biến sản phẩm.
Như vậy, kinh tế hộ gia đình là một trong các thành phần kinh tế ở nước
ta, tồn tại độc lập, thuộc sở hữu của hộ gia đình. Kinh tế hộ gia đình được phân
14
chia thành nhiều hình thức khác nhau tùy theo tính chất, trình độ sản xuất, cơ
cấu ngành nghề.
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ gia đình
nhưng khi qua thời điểm đó việc phân công lao động lại có thể dựa trên ưu thế
từng cá nhân. Như vậy ngay trong một hộ có thể kết hợp nhiều hình thức tổ chức
lao động và tùy theo tính chất công việc có thể hợp tác hay phân công lao động.
Việc tổ chức lao động trong hộ rất linh hoạt vì nó hoàn toàn dựa trên cơ sở tự
nguyện của mỗi thành viên. Hơn nữa, lao động trong kinh tế hộ phần nhiều là
lao động giản đơn nên một cá nhân có thể đảm nhận nhiều công đoạn của quá
trình sản xuất. Chính vì vậy hiệu quả của việc sử dụng lao động trong kinh tế hộ
rất cao.
Lao động quản lý và lao động sản xuất có mối quan hệ gần gũi.
Ở các xí nghiệp lớn sử dụng nhiều lao động, nhất là trong các xí nghiệp
nông nghiệp tư bản chủ nghĩa đòi hỏi cần phải có người điều hành, quản lý sản
xuất, người quản lý ở đây có thể là nhà tư bản, nhưng cũng có thể tư bản thuê
lao động quản lý để điều hành, ở đây chủ thể quản lý và đối tượng quản lý được
phân định rõ ràng. Nếu một sự điều hành không tốt, không có sự thống nhất chặt
chẽ giữa chủ thể và đối tượng quản lý rất dễ gây ra những bất ổn định trong sản
xuất. Ngược lại, trong kinh tế hộ, do tổ chức sản xuất với quy mô nhỏ, chủ yếu
là nguồn lao động của hộ, người chủ hộ thường là người đứng ra điều khiển mọi
hoạt động sản xuất trong đơn vị của mình. Mọi thành viên trong hộ thường có sự
gắn bó với nhau theo quan hệ huyết thống, hơn nữa kinh tế hộ có quy mô nhỏ
hơn so với các xí nghiệp nông nghiệp, các nông trang tập thể nên việc điều hành
quản lý đơn giản, gọn nhẹ và hiệu quả hơn.
Kinh tế hộ gia đình có quy mô nhỏ, dễ thích nghi với những biến động của
thị trường và có khả năng tổ chức sản xuất hiệu quả
Kinh tế hộ thường dựa trên quy mô gia đình làm cơ sở để tiến hành sản
xuất kinh doanh chủ yếu trên quy mô gia đình nên có quy mô nhỏ. Sản xuất với
quy mô nhỏ trong công nghiệp hay trong nông nghiệp bao giờ cũng có sự thích
16
ứng dễ dàng hơn so với xí nghiệp có quy mô lớn. Đặc trưng này có khả năng
Trong sản xuất, động lực lớn nhất thúc đẩy cá nhân hoạt động chính là lợi
ích kinh tế. Khi mục đích sản xuất và lợi ích người lao động tách rời nhau thì
không thể tạo ra động lực mạnh mẽ thôi thúc người lao động quan tâm đến kết
quả sản xuất. Sự thống nhất đó đem lại lợi ích chính đáng của các thành viên
trong hộ, vậy lợi ích kinh tế đã thật sự trở thành một động lực thúc đẩy hoạt
động cá nhân, là nhân tố làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản
xuất của kinh tế hộ, làm cho nó có ưu thế hơn hẳn so với các xí nghiệp nông
nghiệp quy mô lớn.
Trên đây là một số đặc trưng cho thấy ưu việt của kinh tế hộ gia đình. Tuy
nhiên, trong quá trình phát triển, kinh tế hộ gia đình cũng gặp những khó khăn
nhất định. Đó là khó khăn về khả năng huy động vốn lớn để đáp ứng nhu cầu mở
rộng quy mô sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới. Nguồn vốn cho
hoạt động của hộ gia đình chủ yếu là vốn vay. Nhưng hộ gia đình thường chưa
đủ mạnh, đủ niềm tin để có thể dễ dàng vay vốn từ các ngân hàng thương mại.
Khả năng huy động vốn hạn chế, thì cơ hội cho việc đầu tư tiến bộ khoa học
công nghệ hiện đại cũng không nhiều. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến khả
năng cạnh tranh của hộ gia đình trong phát triển kinh tế là rất thấp, nguy cơ rủi
ro cao.
Kinh tế hộ gia đình thường tránh những lĩnh vực sản xuất kinh doanh
không đem lại nhuận cao, lĩnh vực sản xuất hàng hóa công cộng, hay là lĩnh vực
hoạt động công ích. Hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà việc tiêu dùng của
người này không loại trừ sự tiêu dùng của người khác, như khu vui chơi công
cộng, hạ tầng cơ sở… Kinh doanh những lĩnh vực này thường đem lại lợi nhuận
thấp và đôi khi, quy mô vốn lại rất lớn, ngoài khả năng của hộ gia đình. Do vậy,
hộ gia đình thường để trống loại hàng hóa này trên thị trường. Có quan điểm lại
cho rằng, đây là hạn chế của kinh tế hộ gia đình. Tuy nhiên, bản thân tôi không
đồng tình với quan điểm đó mà chỉ cho rằng, đó là một đặc điểm khách quan của
kinh tế hộ gia đình mà thôi.
18