ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
---------------------
Đặng Thị Huyền
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI
CHO SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội, 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI
-----------------------Đặng Thị Huyền
NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI
CHO SINH KẾ NGƯỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Văn Thụy
Hà Nội - 2013
LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp trong chương trình đào tạo Thạc sỹ Khoa học môi
trường của học viên được hoàn thành là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện và
3
1.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái
1.1.1. Hệ sinh thái và các dịch vụ của chúng
3
3
1.1.2. Mối quan hệ giữa dịch vụ hệ sinh thái đối với con người và sự phát triển
kinh tế xã hội
1.1.3. Sinh kế 5 xã vùng đệm (VQGXT) phụ thuộc vào ĐNN
1.1.4. Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái
1.2. Sử dụng tài nguyên phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường.
Chương 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6
8
10
14
19
2.1. Phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực địa
19
2.2. Phương pháp điều tra xã hội
19
26
2.6.3. Chức năng hỗ trợ/các dịch vụ hỗ trợ
26
2.6.4. Chức năng thông tin/dịch vụ văn hóa
26
2.7. Phân tích các chủ thể liên quan
27
2.8. Phương pháp phân tích tổng hợp:
28
2.9. Phương pháp viễn thám, hệ thống thông tin địa lý:
28
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ
29
3.1. Đánh giá khái quát đặc điểm tự nhiên, tài nguyên, môi trường và kinh tế xã
hội khu vực nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên
43
3.1.4.1. Nông nghiệp trồng lúa:
44
3.1.4.2. Phát triển kinh tế biển
44
3.1.4.3. Thương mại dịch vụ
46
3.1.4.4. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
46
3.2. Hiện trạng các HST và dịch vụ hệ sinh thái ở VQGXT
47
3.2.1. HST Rừng ngập mặn ven biển
48
3.2.1.1. Đặc tính rừng ngập mặn
48
59
3.2.3.2. Hiện trạng quản lý ở các diện tích này
62
3.2.3.3. Các dịch vụ
63
3.2.4. HST Cồn cát
64
3.2.4.1. Đặc tính của cồn cát
64
3.2.4.2. Hiện trạng quản lý
65
3.2.4.3. Các dịch vụ
66
3.2.5. HST các kênh rạch (lạch triều, sông, biển)
66
73
3.3.5. Đánh bắt cá
74
3.3.6. Thu gom thực phẩm (khai thác thủ công)
75
3.3.7. Mật ong
77
3.3.8. Giá trị phòng hộ đê biển
79
3.3.9. Du lịch sinh thái
81
3.3.7. Đánh giá giá trị kinh tế các dịch vụ hệ sinh thái đối với sinh kế người
dân vùng đệm
83
3.3.7.1. Giá trị kinh tế tổng cộng
88
3.4.5. Mở rộng diện tích VQGXT
89
3.4.6. Các nghiên cứu tiếp theo trong tương lai
89
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1:Khu vực nghiên cứu VQGXT
29
Hình 3.2:Bản đồ các hệ sinh thái Vườn quốc gia Xuân Thủy
48
Hình 3.3:Rừng ngập mặn ở VQGXT
49
Hình 3.4:Đầm nuôi tôm
57
Hình 3.5:Đầm lầy ngập triều
9
Bảng 1.4:Bảng so sánh cách nhìn nhận trong quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường
16
Bảng 3.1:Các HST và diện tích của chúng ở VQG
47
Bảng 3.2:Danh sách 11 loại chim hiếm VQGXT
55
Bảng 3.3: Hiện trạng nuôi tôm khu vực vùng đệm
69
Bảng 3.4:Thống kê mô tả về hoạt động nuôi tôm
70
Bảng 3.5:Lợi nhuận nuôi tôm tại Xuân Thủy
71
Bảng 3.6:Diện tích nuôi ngao trong vùng đệm VQGXT
73
Bảng 3.14:Giá trị kinh tế của các HST
84
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐDSH:
Đa dạng sinh học
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐNN:
Đất ngập nước
HST:
Hệ sinh thái
IUCN:
Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên
MEA:
Hiệp định môi trường đa phương
PES:
Sách đỏ thế giới). Bên cạnh đó, nhiều loài có giá trị kinh tế cao như ngao (Meretrix
meretrix), cua hoa (Portunus pelagicus), tôm sú (Penaeus monodon).
Rừng ngập mặn nói chung và Vườn quốc gia Xuân Thủy nói riêng mang lại
một loạt các loại hình dịch vụ và hàng hóa như: thực phẩm; đất để chăn thả gia súc,
nuôi trồng các loài thủy, hải sản; kiểm soát lũ và nơi trú ẩn cho các loài chim cư trú
cũng như các loài chim di cư. Ngoài ra Vườn quốc gia Xuân Thủy còn có các dự án
được tài trợ bởi Chính phủ Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ như trồng rừng
ngập mặn và phát triển du lịch sinh thái dựa trên cộng đồng như là phương tiện sinh
kế tại địa phương.
Tuy nhiên các lợi ích thu được từ Vườn quốc gia Xuân Thủy đã bị suy giảm
đáng kể do việc khai thác quá mức nguồn thủy sản, hoạt động nuôi trồng hải sản
không phù hợp, chặt phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi tôm, thải các chất thải gây ô
nhiễm từ các khu dân cư của năm xã vùng đệm Vườn Quốc gia.
Vì vậy, việc làm sáng tỏ hiện trạng sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái ở Vườn
quốc gia Xuân Thủy và các tác động của con người tới Vườn quốc gia là rất cần
thiết để từ đó có các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển Vườn quốc gia đồng
thời tạo thu nhập và sinh kế tại địa phương. Đề tài: “Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ
sinh thái cho sinh kế người dân vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định” sẽ
tập trung nghiên cứu những dịch vụ tạo giá trị thu nhập cho cộng đồng trong vùng
đệm.
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu các loại hình dịch vụ HST ở VQGXT
Xác định các phương tiện sinh kế và sự phụ thuộc vào việc sử dụng các chức
năng (dịch vụ) HST VQGXT của người dân địa phương 5 xã vùng đệm.
Ước tính giá trị thu nhập từ các dịch vụ hệ sinh thái Vườn quốc gia Xuân
Thủy.
Đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường Vườn
quốc gia Xuân Thủy.
được sử dụng lần đầu tiên từ cuối những năm 60 của thế kỉ XX. Có nhiều định
nghĩa khác nhau về dịch vụ HST. Các dịch vụ hệ sinh thái được định nghĩa là:
"Những lợi ích mà con người có được từ hệ sinh thái" (TEEB, 2005a)
Hoặc "Sự đóng góp trực tiếp và gián tiếp của hệ sinh thái dành cho sự
thịnh vượng của con người" (TEEB, 2010a).
Dịch vụ HST ở đây được dùng để chỉ cả các nguồn lợi hữu hình (như nước
ngọt, lương thực) và các nguồn lợi vô hình (như các giá trị văn hóa). Theo các tiêu
chí khác nhau, các dịch vụ HST được phân chia theo nhiều cách khác nhau.
Trong luận văn, các dịch vụ HST được phân loại theo các chức năng cung cấp,
điều tiết, văn hóa và hỗ trợ. Theo đó, cũng có bốn nhóm dịch vụ tương ứng là:
(i) Dịch vụ cung cấp
Đây là những sản phẩm có được từ các HST, bao gồm lương thực, tơ sợi,
nhiên liệu, nguồn gen, các chất sinh hóa, dược phẩm và thuốc tự nhiên, các sản
phẩm trang trí, nước ngọt.
(ii) Dịch vụ điều tiết
Dịch vụ điều tiết là những nguồn lợi có được từ hoạt động điều tiết của các
quá trình HST, bao gồm duy trì chất lượng không khí, điều tiết khí hậu, điều tiết
nước, kiểm soát xói lở, lọc nước và xử lí chất thải, điều tiết dịch bệnh ở người,
kiểm soát sinh vật, thụ phấn, phòng chống bão.
(iii) Dịch vụ văn hóa
Đây là những nguồn lợi phi vật chất mà con người có được từ các HST thông
qua sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo, và trải
nghiệm về mỹ học. Những dịch vụ này bao gồm sự đa dạng về văn hóa, các giá trị
tinh thần và tôn giáo, hệ thống tri thức, các giá trị giáo dục, cảm hứng, các giá trị
mỹ học, các mối quan hệ xã hội, cảm giác về nơi chốn, các giá trị di sản văn hóa,
giải trí và du lịch sinh thái.
(iv) Dịch vụ hỗ trợ
Các dịch vụ hệ sinh thái trong báo cáo
TEEB
Các dịch vụ cung cấp
Thực phẩm
Nước
Nguyên vật liệu
Tài nguyên gen (di truyền)
Tài nguyên y học
Tài nguyên trang trí
Các dịch vụ điều tiết
Điều hòa chất lượng không khí
Điều hòa khí hậu
Điều tiết các hiện tượng cực đoan
Điều tiết dòng chảy
Xử lý nước
Phòng chống xói mòn
Duy trì độ phì nhiêu của đất
Thụ phấn
Kiểm soát sinh học
Dịch vụ hỗ trợ
16
Duy trì chu kỳ sống của các loại di cư
17
Duy trì đa dạng gen
18
triển kinh tế xã hội
Mối quan hệ giữa HST và các dịch vụ của chúng với con người hay sự phát
triển kinh tế rất đa dạng và phức tạp. Hơn nữa, mối quan hệ này cũng biến đổi
theo thời gian. Trong quá trình tương tác với tự nhiên, các hoạt động của con
người luôn tạo ra, ngoài những kết quả theo dự tính, những hệ quả không mong
muốn, và rất nhiều hệ quả không mong muốn này lại rất có hại cho chính sự phát
triển kinh tế.
Chức năng cung cấp của HST cung cấp những hàng hoá và dịch vụ đảm bảo
duy trì sự phát triển kinh tế ở những khía cạnh khác nhau. Nếu như các HST
không cung cấp đủ lương thực, thực phẩm, nước sạch,... cho con người thì không
những sẽ gây ra những tác động xấu đối với sự phát triển kinh tế mà còn có thể
xoá bỏ sự phát triển kinh tế đã đạt được.
Chức năng điều tiết của các HST cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
của con người theo những cách khác nhau. Sự điều tiết của các HST liên quan đến
đời sống con người có thể thấy ở các quá trình lọc khí, lọc và điều tiết nước, giảm
lũ lụt và hạn hán, ổn định khí hậu, kiểm soát dịch bệnh. Những biến đổi trong
chức năng điều tiết của các HST sẽ đưa đến những tác động đối với sức khoẻ con
người cũng như các yếu tố khác của sự phát triển kinh tế.
Các HST cũng tác động đến sự phát triển kinh tế thông qua các dịch vụ văn
hoá mà chúng cung cấp. Các HST có thuộc tính và chức năng ảnh hưởng đến các
lĩnh vực mỹ học, giải trí, giáo dục, văn hoá và tinh thần của con người. Sự giàu có
của các HST về sinh cảnh, cảnh quan,... góp phần làm tăng chất lượng đời sống
tinh thần của con người và ngược lại, những biến đổi tiêu cực của các HST như ô
nhiễm, huỷ diệt,... có thể gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa,
tinh thần của cộng đồng người sống trong HST đó.
Với các dich vụ hỗ trợ, do chúng có chức năng hỗ trợ sự hình thành của các
dịch vụ khác nên tác động của chúng tới sự phát triển kinh tế cũng là gián tiếp.
Sự phát triển kinh tế xã hội được quyết định bởi một số thành tố quan trọng:
- Có không khí
trong sạch để thở
- Có đủ năng lượng
để dùng
- Có cơ hội thể hiện
các giá trị mỹ học và
giải trí liên quan đến
các HST
- Có cơ hội thể hiện
các giá trị văn hóa
và tinh thần liên
quan đến các HST
- Có cơ hội để học
tập, nghiên cứu về
các HST
Thành tố an ninh và thành tố sức khỏe bị ảnh hưởng bởi cả sự biến đổi của
dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết và dịch vụ văn hóa. Thành tố vật chất có mối
liên hệ rõ ràng và mạnh mẽ nhất với các dịch vụ cung cấp và dịch vụ điều tiết
trong khi quan hệ xã hội bị chi phối nhiều bởi các dịch vụ văn hóa. Sự phát triển
có thể được tăng cường thông qua sự tương tác có tính bền vững giữa con người
với các HST, với sự hỗ trợ của các công cụ, thể chế, tổ chức và công nghệ cần
thiết.
Để khai thác bền vững các dịch vụ HST nhằm làm cho sự phát triển theo đó
cũng trở nên bền vững, yêu cầu trước hết là phải hiểu được đầy đủ về mối quan hệ
giữa những hoạt động của con người, các biến đổi của HST và sự phát triển ở cả
qui mô ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Việc quản lí tốt các dịch vụ HST còn phụ
thuộc nhiều vào thể chế hiện hành và trọng tâm quản lí là hướng vào việc đáp ứng
nhu cầu của người nghèo kẻ yếu hay người giàu kẻ mạnh.
Trong năm xã vùng đệm có gần ½ hộ gia đình có sinh kế phụ thuộc gián
tiếp và trực tiếp vào tài nguyên ĐNN trong khu vực VQGXT. Trong nhóm cộng
đồng này, đại đa số là tham gia khai thác trực tiếp và phụ thuộc trực tiếp nguồn lợi
thủy sản, còn các hình thức gián tiếp cung cấp dịch vụ chỉ thu hút khoảng 6% hộ.
Trong các hình thức khai thác trực tiếp thì đáng lưu ý nhất là hoạt động khai thác
tự do thủ công (hơn 40%), sau đó là đi làm thuê cho các chủ đầm tôm và vây vạng
ngoài bãi (gần 16%), còn các hình thức khai thác như đánh cá biển và nuôi trồng
thủy sản đòi hỏi đầu tư và đất đai thì mỗi hình thức chỉ có trên dưới 10% hộ tham
gia.
Bảng 1.3:Các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào ĐNN
Loại hình sinh kế
Tỷ lệ
Nuôi tôm
9.54%
Nuôi ngao
7.88%
Đánh cá biển
11.62%
Làm thuê ngoài bãi
15.77%
Khai thác thủ công
41.08%
Đăng đáy
2.07%
Dịch vụ phục vụ nuôi trồng khai thác thủy sản
1.66%
Chế biến thủy sản
0.41%
pháp lý và các cơ chế quản lý ĐNN, lý giải cho sự phân bổ nguồn lực cho bảo tồn
ĐNN, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, là cơ sở để giải quyết
tranh chấp khiếu nại cũng như là một thành tố cơ bản trong các chương trình giáo
dục, truyền thông ĐNN.
Thực tế cho thấy, có một số hàng hóa và dịch vụ của VQG mặc dù có được
mua bán, giao dịch trên thị trường nhưng giá thị trường không phản ánh đầy đủ
giá trị của các hàng hóa và dịch vụ này. Khi đó, người ta phải xác định giá trị của
hàng hóa, dịch vụ mà VQG cung cấp dựa vào việc phân tích thông tin trên thị
trường thay thế. Có hai phương pháp truyền thống thuộc nhóm này là chi phí du
lịch và giá trị hưởng thụ. Ngoài ra một số hàng hóa và dịch vụ không được giao
dịch trên thị trường (ví dụ như tham quan động vật hoang dã) nên đôi khi không
trả trực tiếp nhiều cho giá trị hệ sinh thái.
Một vài dịch vụ HST được giao dịch trên thị trường và giá trị được xác định
bằng giá thị trường. Chẳng hạn, giá trị quyền sử dụng khu nghỉ mát ven biển có
thể được ước tính bằng cách ước tính lượng du khách và giá trị thặng dư cũng như
với bất kỳ hàng hóa thị trường khác. Dịch vụ HST khác như nước sạch cũng được
sử dụng như nguyên liệu đầu vào trong sản xuất và giá trị của nó có thể được tính
bằng sự đóng góp của nó vào lợi nhuận của sản phẩm.
Nhưng không phải bất kỳ dịch vụ hệ sinh thái nào cũng có thể mua và bán
trên thị trường để có thể tính giá trị của nó bằng tiền. Điều quan trọng là ước tính
xem sức mua là bao nhiêu, mọi người sẵn sàng chi trả để có được dịch vụ của hệ
sinh thái hoặc mọi người cần được trả bao nhiêu để từ bỏ nó, nếu họ được yêu cầu
lựa chọn một điều tương tự họ có thể thực hiện trên thị trường.
Một số dịch vụ hệ sinh thái, như tham quan thẩm mỹ hay giải trí, có thể
không được mua và bán trực tiếp trên thị trường. Tuy nhiên, giá cả mà mọi người
sẵn sàng chi trả trên thị trường cho hàng hóa liên quan có thể được sử dụng để ước
tính giá trị của chúng. Ví dụ, người ta thường trả giá cao hơn cho căn nhà hướng
ra biển, hoặc sẽ dành thời gian để đi du lịch đến một nơi đặc biệt như Xuân Thủy
* Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Cùng với những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của hệ sinh
thái ven biển và biển, đã có một số nghiên cứu về các giá trị của HST ven biển ở
Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay các nghiên cứu tập trung vào lợi ích trực tiếp của
hệ sinh thái ven biển và biển như gỗ, củi đốt, thủy hải sản và du lịch và một vài
nghiên cứu về các giá trị gián tiếp như bảo vệ đê, bờ biển. Trong thực tế, giá trị hệ
sinh thái ven biển và biển rất khác nhau, phụ thuộc vào từng hệ sinh thái, tương
ứng với các loại hàng hóa và dịch vụ với giá trị kinh tế khác nhau sẽ có những
phương pháp đánh giá thích hợp.
Tác giả Mai Trọng Nhuận và các cộng sự sử dụng phương pháp giá thị
trường để đánh giá giá trị kinh tế của một số điểm trình diễn ĐNN tại VN năm
2000, trong đó ước tính sơ bộ các giá trị sử dụng trực tiếp của một số khu vực ĐNN
tiêu biểu tại VN. Cũng sử dụng phương pháp này, tác giả Đỗ Nam Thắng (2005) đã
tính toán giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên ĐNN vùng ĐBSCL, đồng thời tiếp
tục hoàn thiện việc áp dụng phương pháp giá thị trường tại VN thông qua điều
chỉnh một số nhân tố sai lệch để đưa ra kết quả khá tin cậy về những khối giá trị
trực tiếp của ĐNN tại địa bàn nghiên cứu. Tác giả Lê Thu Hoa và các cộng sự
(2006) cũng sử dụng kỹ thuật giá thị trường để tính toán giá trị nuôi tôm tại khu
ĐNN của VQGXT, Nam Định. Có thể nói, phương pháp giá thị trường là phương
pháp đánh giá giá trị môi trường được sử dụng phổ biến và hoàn thiện nhất ở VN
hiện nay.
Ngoài ra, trong những năm trở lại đây, để đánh giá những phần giá trị khác
trong tổng giá trị kinh tế của tài nguyên, các nhà nghiên cứu của VN cũng đã bước
đầu nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp phức tạp hơn, phổ biến là phương
pháp Chi phí du lịch và đánh giá ngẫu nhiên. Các phương pháp này dựa trên giá trị
sẵn có hoặc xây dựng các thị trường giả định để đánh giá phúc lợi của người sử
dụng tài nguyên khi tham gia thị trường, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính
“Khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên”. Như vậy bảo vệ tài nguyên và môi
trường như thế nào là tốt nhất, từ năm 2010, chương trình môi trường Liên Hợp
Quốc (UNEP) đã có những tiếp cận mới trong bảo vệ tài nguyên và môi trường, đó
là quản trị môi trường (Environmental Governance) và kinh tế xanh (Green
Economy) nhằm thay đổi cách nhìn nhận và tiếp cận mới về tài nguyên và môi
trường phù hợp với xu thế phát triển hiện nay trên quy mô toàn cầu.
Để bảo vệ tài nguyên và môi trường cần có những thay đổi trong cách tiếp
cận mới sau đây.
- Thứ nhất, thay đổi cách nhìn nhận mới có tính tổng hợp, bảo vệ tài nguyên
và môi trường phải dựa trên cơ sở nền tảng của hệ sinh thái, nghĩa là không quản lý
đơn lẻ một thành phần nào mà tiếp cận dựa trên tính đặc thù của từng hệ sinh thái để
đảm bảo sự liên kết và cân đối hài hòa của các thành phần tự nhiên trong hệ sinh
thái vốn có của nó, không phá vỡ thành phần cấu trúc cũng như chức năng vốn có
của hệ sinh thái.
- Thứ hai, thay đổi cách thức nhìn nhận trong quản lý đối với bảo vệ tài
nguyên và môi trường so với trước đây giữa cách nhìn nhận quản lý truyền thống
với cách nhìn nhận quản lý mới đối với hệ sinh thái thể hiện quan bảng so sánh sau
đây.
Bảng 1.4:Bảng so sánh cách nhìn nhận trong quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường
Quản lý truyền thống
Nhấn mạnh vào các sản vật và sự khai thác
tài nguyên thiên nhiên
Quan điểm cứng nhắc, ổn định, cao trào
cộng đồng
Giảm thiểu, đặc tính xác định
Dự đoán và kiểm soát
Các giải pháp được phát triển bởi các cơ
quan quản lý tài nguyên và môi trường đưa
đạo đức, khơi dậy cái “tâm” của con người đối với thiên nhiên. Ngoài ra cần phải
lượng giá được tài sản của thiên nhiên để có sự so sánh giữa các phương án lựa