ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
***
HOÀNG THỊ THANH NHÀN
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CHỈ THỊ QUAN TRẮC
ĐA DẠNG SINH HỌC ĐẤT NGẬP NƯỚC VEN BIỂN Ở
VIỆT NAM - TRƯỜNG HỢP TẠI VƯỜN QUỐC GIA
XUÂN THUỶ, NAM ĐỊNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS. TS. Lê Xuân Cảnh
2. TS. Võ Thanh Sơn
HÀ NỘI, NĂM 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các kết quả nghiên cứu tham khảo của các tác giả khác đã được trích
dẫn đầy đủ trong luận án.
Tác giả luận án
Hoàng Thị Thanh Nhàn
Cuối cùng, lòng tri ân vô cùng sâu sắc dành cho những người thân trong gia
đình: bố, mẹ, chồng, con và các anh, chị luôn là nguồn động viên, đã cảm thông,
chia sẻ và giúp đỡ để tôi hoàn thành nghiên cứu này. Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2014
Hoàng Thị Thanh Nhàn
iii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH
BIP
Biến đổi khí hậu
Đối tác về Chỉ thị đa dạng sinh học (Biodiversity Indicators
Partnership)
BVMT
Bảo vệ môi trường
CBD
Công ước Đa dạng sinh học (Biological Diversity Convention)
DPSIR
DSR
Động lực- Áp lực- Tình trạng- Tác động- Phản hồi (Driver,
Pressure, State, Impact, Response)
Động lực- Tình trạng- Phản hồi (Driver, State, Response)
ĐDSH
Đa dạng sinh học
TNTN
Tài nguyên thiên nhiên
UNEP
Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (United Nations
Environment Programme)
iv
VQG
Vườn Quốc gia
WCMC
Trung tâm Quan trắc bảo tồn Thế giới (World Conservation
Monitoring Center)
WWF
Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (World Wide Fund For
Nature)
v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 5
1.1 CÁC KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ BẢN CHẤT CỦA CHỈ THỊ ĐA DẠNG SINH
HỌC 5
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45
3.1 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TIÊU CHÍ LỰA CHỌN CHỈ THỊ
ĐA DẠNG SINH HỌC 45
3.1.1 Các bước xây dựng chỉ thị 45
3.1.2 Tiêu chí lựa chọn chỉ thị đa dạng sinh học 50
3.2 KIỂM KÊ, ĐÁNH GIÁ THÔNG TIN VỀ VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY53
3.2.1 Nhận dạng các áp lực đối với đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Thuỷ 53
3.2.2 Tình trạng đa dạng sinh học Vườn quốc gia Xuân Thủy 64
3.2.3 Lợi ích từ đa dạng sinh học 82
3.2.4 Các phản hồi đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học 84
3.2.5 Tóm tắt các đặc điểm PSBR của Vườn Quốc gia Xuân Thủy 88
3.3 XÂY DỰNG BỘ CHỈ THỊ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VƯỜN QUỐC GIA
XUÂN THỦY 90
3.3.1 Bối cảnh chính sách và mục tiêu quản lý 90
3.3.2 Các bên tham gia 93
3.3.3 Xác định câu hỏi cốt lõi và phát triển mô hình khái niệm 94
3.3.4 Xác định bộ chỉ thị tiềm năng và cốt lõi 96
3.4 THỬ NGHIỆM QUAN TRẮC VÀ HIỆU CHỈNH CHỈ THỊ 101
vii
3.4.1 Thiết kế và quan trắc thử nghiệm chỉ thị 101
3.4.2 Đánh giá và hiệu chỉnh chỉ thị dựa trên kết quả quan trắc 101
3.5 DIỄN GIẢI MỘT SỐ CHỈ THỊ TIÊU BIỂU 117
3.5.1 Xu hướng áp lực (trực tiếp và gián tiếp) từ hoạt động phát triển kinh tế- xã hội
tới đa dạng sinh học 117
3.5.2 Xu hướng biến đổi hệ sinh thái đất ngập nước 120
3.5.3 Xu hướng biến động các loài chim 126
3.5.4 Xu hướng lợi ích có được từ bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học 128
3.5.5 Mức độ phản hồi về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học 129
3.6 THẢO LUẬN CHUNG 137
Bảng 3.16 Tình trạng khai thác tài nguyên trong vùng lõi năm 2013 119
Bảng 3.17 Diện tích NTTS qua các thời kỳ 120
Bảng 3.18 Biến động diện tích các kiểu HST ĐNN 121
Bảng 3.19 Số lượng cò thìa qua các năm 126
Bảng 3.20 Chính sách, quy định về bảo tồn và phạm vi ảnh hưởng 130
Bảng 3.21 Tình trạng phản hồi của chính sách 132
Bảng 3.22 Thống kê các vụ vi phạm bảo vệ tài nguyên ĐNN 136
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tháp thông tin và tháp quan trắc ĐDSH 9
Hình 1.2 Khung (a) PSR, (b) DSR, (c) DPSIR, (d) PSBR 11
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu: VQG Xuân Thủy và vùng đệm 31
Hình 2.2 Sơ đồ các điểm quan trắc tại khu vực nghiên cứu 41
Hình 3.1 Các bước xây dựng chỉ thị ĐDSH 50
Hình 3.2 Tỷ lệ % ý kiến xác định các áp lực cao gây suy giảm ĐDSH 60
Hình 3.3 Hàm lượng trung bình của DO, BOD
5
, COD trong nước mặt 62
Hình 3.4 Bản đồ phân bố các kiểu HST ĐNN VQG Xuân Thuỷ 66
Hình 3.5 Khung phân tích xây dựng chỉ thị ĐDSH của VQG Xuân Thuỷ 95
Hình 3.6 Mô hình khái niệm các vấn đề bảo tồn tại VQG Xuân Thuỷ 95
Hình 3.7 Tỷ lệ % về địa điểm khai thác của người dân 119
Hình 3.8 Biến động diện tích RNM tại vùng lõi và vùng đệm của VQG 122
Hình 3.9 Bản đồ các kiểu HST ĐNN qua các thời kỳ 124
Hình 3.10 Bản đồ biến động RNM qua các thời kỳ 125
Hình 3.11 tỷ lệ % số lượng cá thể cò thìa di cư về VQG Xuân Thủy trên tổng quần thể
của loài 127
Hình 3.12 Số lượng và doanh thu từ du khách đến VQG Xuân Thuỷ 128
có phù hợp trong điều kiện ở Việt Nam không, đặc biệt là với quy mô của một khu
vực cụ thể.
Việt Nam với sự đa dạng về địa hình, địa mạo, điều kiện địa chất, chế độ khí
hậu, thủy - hải văn đã hình thành nguồn tài nguyên ĐNN phân bố rộng khắp, đa dạng
về kiểu, loại hình cảnh quan và sinh thái, phong phú về tài nguyên và ĐDSH [8]. Các
2
vùng ĐNN của Việt Nam có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã
hội, hạn chế thiên tai và bảo vệ môi trường (BVMT). Trong số các loại hình ĐNN thì
ĐNN ven biển là một tài nguyên quan trọng, là nơi luôn diễn ra các hoạt động tương
tác mạnh mẽ giữa hoạt động phát triển kinh tế - xã hội (KT- XH), tài nguyên thiên
nhiên (TNTN) và ĐDSH. Đây cng là một trong những HST dễ bị tổn thương bởi
các tác động của con người và tai biến thiên nhiên, cần được quan trắc, theo dõi
thường xuyên để có biện pháp quản lý thích ứng, kịp thời nhằm bảo đảm sử dụng bền
vững nguồn tài nguyên sinh học phục vụ PTBV của xã hội con người [47].
Vườn Quốc gia (VQG) Xuân Thuỷ tỉnh Nam Định được ghi nhận là một vùng
ĐNN tiêu biểu có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế, thể hiện khu vực này nằm trong
vùng chim quan trọng của quốc tế [83] và đã được quốc tế công nhận là khu Ramsar
đầu tiên ở Việt Nam từ năm 1989, được công nhận là trung tâm của Khu dự trữ sinh
quyển đồng bằng Sông Hồng từ năm 2005, là khu vực có giá trị to lớn về bảo tồn
ĐDSH. Mặc dầu đã có nhiều nghiên cứu về ĐDSH ở đây, nhưng đến nay VQG vẫn
chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu nền và bộ chỉ thị ĐDSH để đánh giá diễn biến
ĐDSH và hiệu quả quản lý tại khu vực này. Vì thế, VQG vẫn còn khó khăn trong
việc thực hiện nhiệm vụ báo cáo ĐDSH của VQG đối với Quốc gia cng như nghĩa
vụ đối với Công ước Ramsar về bảo tồn các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng
quốc tế [14]. Đây cng là một khó khăn chung đối với các khu bảo tồn thiên nhiên
(KBT) hiện có của Việt Nam. Vì vậy, việc xác lập phương pháp luận về thiết lập bộ
chỉ thị ĐDSH trên cơ sở hướng dẫn của CBD và ứng dụng ở các KBT không những
có ý nghĩa đối với việc quản lý của VQG Xuân Thuỷ mà còn có nghĩa đối với các
VQG, KBT khác ở Việt Nam.
tích PSBR và phương pháp cho điểm để lựa chọn chỉ thị ĐDSH cho quy mô KBT ở
Việt Nam.
- Cơ sở dữ liệu của ĐDSH của VQG Xuân Thủy được cập nhật, hệ thống hóa.
- Các đặc điểm PSBR của VQG Xuân Thủy được xác định.
- Lần đầu tiên đề xuất được bộ chỉ thị quan trắc ĐDSH VQG Xuân Thuỷ, tỉnh
Nam Định nhằm hỗ trợ công tác quản lý ĐDSH của VQG.
4
6. Ý nghĩa của luận án
Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của việc
xây dựng bộ chỉ thị ĐDSH, phục vụ mục tiêu bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH,
góp phần bảo vệ tài nguyên sinh vật của đất nước.
Các dữ liệu, thông tin cập nhật về VQG Xuân Thuỷ làm cơ sở cho các nghiên
cứu khoa học tiếp theo về ĐDSH, KT- XH, quản lý bảo tồn tại khu vực.
Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án giúp xây dựng được bộ chỉ thị quan trắc ĐDSH
của VQG Xuân Thuỷ, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý ĐDSH của VQG.
Những kết quả thử nghiệm xây dựng chỉ thị ĐDSH cho VQG Xuân Thuỷ là
bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng chỉ thị ĐDSH ở cấp quốc gia và tại các KBT
trong giai đoạn tới.
7. Bố cục của luận án
Bố cục luận án được trình bày như sau:
Mở đầu: 4 trang
Chương 1. Tổng quan: 25 trang
Chương 2. Phương pháp luận, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên
cứu: 15 trang
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 97 trang
Kết luận và khuyến nghị: 2 trang
6
và hợp lý các lợi ích có được từ nguồn tài nguyên di truyền. Để đạt được các mục tiêu
này, cần phải có thông tin về ĐDSH cng như cần đánh giá được hiệu quả của các
chính sách, các chiến lược cng như các biện pháp quản lý. Chính vì thế, CBD đã yêu
cầu mỗi quốc gia thành viên phải xác định các thành phần của ĐDSH có tầm quan
trọng bảo tồn và sử dụng bền vững, quan trắc các thành phần này xem chúng biến
động ra sao, từ đó có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm bảo tồn hiệu quả ĐDSH
[160, 163]. Mục tiêu của quan trắc ĐDSH nhằm xác định tình trạng, điều kiện và sự
biến đổi ĐDSH để đề xuất các giải pháp quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý,
đồng thời cải thiện sự hiểu biết cơ bản về ĐDSH [95, 121, 149].
Tuỳ vào mục tiêu quản lý, quan trắc ĐDSH có thể ở các quy mô khác nhau.
Các chương trình toàn cầu, quốc gia, vùng và điểm là những quy mô căn bản của
quan trắc ĐDSH. Trong đó, các chương trình quan trắc cấp điểm là mức thấp nhất
nhưng lại cần thiết để cung cấp thông tin cho việc quan trắc ĐDSH ở cấp cao hơn.
Đối tượng chính của quan trắc ĐDSH là HST, loài và gen. Trong đó, các đối
tượng HST và loài được quan trắc khá phổ biến, trong khi quan trắc về gen tương đối
ít do tính phức tạp của nó. Ngoài ra, cùng với sự đổi mới tư duy về bảo tồn, kể từ khi
CBD đưa ra nguyên lý tiếp cận HST, trong đó coi con người là một thành phần quan
trọng và có mối tác động đa chiều tới các thành phần khác của hệ, thì việc quan trắc
không chỉ dừng lại ở các đối tượng là thành phần ĐDSH, mà còn quan tâm đến các
yếu tố tác động từ con người cng như các phản hồi của họ nhằm cải thiện ĐDSH.
ĐDSH cng như các mối quan hệ giữa chúng với hệ xã hội con người hết sức phức
tạp, thế nên chúng ta không thể quan trắc tất cả mọi đối tượng. Chính vì vậy, chỉ thị
ĐDSH được sử dụng làm thước đo cho ĐDSH và nhằm để đánh giá việc thực hiện
mục tiêu quản lý [82, 89, 95, 100, 108, 149].
Để quan trắc ĐDSH, Gaines và cộng sự (1999) [107] đã đề xuất cách tiếp cận 3
bước:
Xác định các câu hỏi quan trắc dựa trên mục tiêu quản lý và đặc trưng của đối
tượng quan trắc;
[87, 160]. Chính vì vậy, chính sách hoặc mục tiêu quản lý chi phối việc xác định các
chỉ thị ĐDSH [82, 90]. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa chỉ thị ĐDSH với các chỉ
thị sinh học hay chỉ thị sinh thái. Bởi vì chỉ thị sinh thái hay chỉ thị sinh học thường
được dùng để phản ánh cho chất lượng sinh thái hoặc môi trường [98, 158].
Chỉ thị được bảo đảm thực hiện thông qua một chương trình quan trắc. Tuy
nhiên, không phải chỉ thị nào cng có thể thực hiện quan trắc trực tiếp được mà một
số chỉ thị được xác định thông qua quy trình tính toán, dựa vào các thông số quan trắc
trực tiếp. Chỉ thị có thể là một thông số đơn lẻ có thể đo đạc được (ví dụ nồng độ
chlorophyll a, số lượng các loài), hay một giá trị thông số tổng hợp (ví dụ tổng số loài
trong diện tích biển), một chỉ số được tính toán (ví dụ chỉ số Shannon Wiener) hay
chỉ báo xu hướng (ví dụ tăng giảm dân số trong vùng) [103].
Thực tế cho thấy, việc thiết kế chỉ thị nếu không quan tâm đến khả năng đo
đạc, quan trắc thì sẽ không khả thi [100]. Ngược lại, việc quan trắc toàn bộ các thông
tin về đối tượng ĐDSH cng không thể thực hiện được do thiếu nguồn lực và tài
chính. Chính vì vậy, lựa chọn các chỉ thị ĐDSH phù hợp rất quan trọng và chi phối
việc xác định các thông số quan trắc vừa đủ để cung cấp các thông tin cho việc tính
toán và diễn giải các chỉ thị [140].
Việc quan trắc ĐDSH và việc xác định các chỉ thị ĐDSH cần được xem xét
trong một hệ thống thông tin thể hiện cấp độ và mục tiêu sử dụng. Các thông tin này
được cấu trúc theo hình tháp thông tin (Hình 1.1). Trong đó, các biến số, thông số tạo
nên các chỉ thị đơn, chỉ thị tổng hợp [108]. Tháp thông tin biểu thị đối với những dữ
liệu ở các dạng khác nhau, tương ứng với nhu cầu sử dụng khác nhau của các nhóm
đối tượng. Với cấu trúc càng lên cao trên đỉnh tháp, thông tin càng có ý nghĩa khái
quát và cô đọng hơn [90].
Việc xác định các loại hình thông tin không chỉ xem xét ở góc độ hệ thống
thông tin, mà còn cần xem xét trong bối cảnh quan trắc ĐDSH, thể hiện ở các cấp độ
9
khác nhau. Hệ thống bảo tồn của Canada đã xác lập tháp quan trắc ĐDSH ở các cấp
luận về khung phân tích xây dựng chỉ thị. Khung phân tích được sử dụng khá phổ
biến để mô tả mối quan hệ giữa xã hội và môi trường hay ĐDSH là khung DPSIR (D:
Động lực, P: Áp lực, S: Tình trạng, I: tác động, R: Phản hồi) và khung DPSIR rút
gọn: PSR, DPR [90, 96, 101, 132, 164], trong đó:
D (Driving forces) - Động lực của các biến động môi trường, tài nguyên… (ví
dụ: sản xuất nông nghiệp).
P (Pressure) – Áp lực đối với môi trường, ĐDSH (ví dụ: khai thác quá mức).
S (State) – Tình trạng ĐDSH (ví dụ: số loài).
I (Impact) – Tác động đối với ĐDSH (ví dụ: mất loài sinh vật có giá trị).
R (Response) – Phản hồi của xã hội (ví dụ: diện tích đất được bảo tồn).
Trong mối quan hệ nhân quả, các hoạt động phát triển KT- XH được coi là các
động lực tạo ra các áp lực cho môi trường và làm thay đổi trạng thái của môi trường.
Đến lượt nó, những thay đổi này lại tạo nên tác động tới sức khỏe con người, các HST
và khiến cho xã hội có các phản hồi về các động lực, áp lực, tình trạng hoặc tác động
một cách trực tiếp [113, 133, 136, 153].
Khung thứ nhất (PSR) (a) chia các chỉ thị theo các nhóm áp lực, tình trạng và
phản hồi theo lô gic: áp lực lên môi trường từ con người và hoạt động kinh tế dẫn đến
sự thay đổi về trạng thái và điều kiện của môi trường và kết quả từ những áp lực này
đòi hỏi có những phản hồi của xã hội để làm thay đổi các áp lực và tình trạng môi
trường [134].
11 Tình
trạng(S)
Áp lực
(P)
Phản hồi
(R)
lực có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn tới môi trường trong nông nghiệp và đặc biệt là
thái độ của nông dân, các chính sách của chính phủ và các yếu tố kinh tế, xã hội và
văn hóa khác [132, 134, 165].
Khung phân tích thứ 3, Động lực- Áp lực- Tình trạng- Tác động- Phản hồi
(DPSIR) (Hình 1.2c) cng trên cơ sở tiếp cận như hai khung trên nhưng phân tích chi
tiết hơn. Khung này phân biệt giữa động lực gián tiếp như các hoạt động phát triển
kinh tế, xã hội và các áp lực trực tiếp lên môi trường; phân tích tác động của sự thay
đổi đến sức khỏe con người, các HST và vật chất [153].
Các khung trên đều được sử dụng khá phổ biến để phân tích xây dựng chỉ thị
tùy theo mục đích và bối cảnh sử dụng [96, 102, 132]. Đánh giá việc xây dựng và áp
dụng mô hình phân tích DPSIR, CBD đã nhận ra việc phân biệt giữa các chỉ thị động
lực và chỉ thị áp lực cng như các chỉ thị tình trạng và các chỉ thị tác động là rất khó
xác định, ví dụ, việc NTTS vừa có thể xem là động lực vừa có thể xem là áp lực đối
12
với ĐDSH nếu được thực hiện không bền vững, hay việc mất các loài có thể là tình
trạng của ĐDSH hoặc có thể coi là tác động. Hơn nữa, để phù hợp với mục tiêu chung
và mục tiêu của Kế hoạch hành động chiến lược của Công ước (bao gồm cả mục tiêu
liên quan đến lợi ích), CBD đã đề xuất khung phân tích PSBR (Áp lực (P) - Tình
trạng (S) - Lợi ích (B) - Phản hồi (R)) [90].
Tiếp cận của CBD về cơ bản vẫn dựa vào nền tảng của khung DPSIR, nhưng
vận dụng một cách linh hoạt hơn. Trong phần áp lực, CBD đề cập đến cả các nguyên
nhân sâu xa tạo ra các áp lực, về bản chất chính là các động lực trong mô hình DPSIR.
Nhóm tác động (I) trong mô hình DPSIR được n trong nhóm tình trạng nếu các tác
động gây ra sự thay đổi ĐDSH và n trong nhóm lợi ích nếu những tác động gây ra
sự thay đổi dịch vụ hệ sinh thái và ảnh hưởng đến lợi ích của con người.
Điểm cải tiến quan trọng của CBD là việc nhấn mạnh lợi ích từ ĐDSH, thể
hiện thông qua dịch vụ hệ sinh thái, một yếu tố hết sức quan trọng đối với xã hội loài
người [168]. Điều này không chỉ phản hồi mục tiêu của Công ước, mà còn bảo đảm
tính bền vững của công tác bảo tồn ĐDSH, đặc biệt là các lợi ích gắn liền với cộng
dựng và bối cảnh thực tế. Bộ tiêu chí của CBD có thể sử dụng làm nền tảng để thiết
lập bộ tiêu chí xây dựng chỉ thị theo các ưu tiên đặc thù của quốc gia, đồng thời cần
nghiên cứu và làm rõ hơn nội hàm của các tiêu chí, xác định cách thức sử dụng tiêu
chí trong việc xác định các chỉ thị ĐDSH. Đây là vấn đề đặt ra đối với nghiên cứu:
xác định tiêu chí và cách thức sử dụng để xác định bộ chỉ thị ĐDSH trong bối cảnh
cụ thể của Việt Nam, đặc biệt trong nghiên cứu này là trường hợp của VQG Xuân
Thuỷ, tỉnh Nam Định.
1.2.1.3 Quy mô
Trên thế giới, tùy theo mục tiêu, cấp độ quan trắc, đánh giá ĐDSH khác nhau
dẫn đến việc tồn tại các bộ chỉ thị ĐDSH khác nhau. Nhiều chỉ thị ĐDSH đã được
xác lập để đánh giá diễn biến ĐDSH trên quy mô toàn cầu. Ở quy mô này, các chỉ thị
14
ĐDSH được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực quản lý môi trường, PTBV, quản
lý TNTN và ĐDSH [100, 130, 135, 136, 164], cụ thể ở các báo cáo đánh giá thiên
niên kỷ HST [168], báo cáo về hành tinh sống [169], báo cáo của FAO [104], báo cáo
triển vọng ĐDSH toàn cầu [150] Các chỉ thị ĐDSH trong các báo cáo này được sử
dụng để phản ánh xu hướng của ĐDSH và các vấn đề liên quan đến áp lực, phản hồi.
Ví dụ, bộ chỉ thị PTBV của Liên hợp quốc (năm 2007) có 2 chỉ thị cốt lõi về ĐDSH,
bao gồm: 1) Tỷ lệ diện tích trên cạn được bảo vệ trên tổng số và theo vùng sinh thái;
2) Sự thay đổi về mức độ đe dọa của các loài; ngoài ra còn có 5 chỉ thị bổ sung, bao
gồm: 1) Hiệu lực quản lý của các KBT; 2) Diện tích HST quan trọng được lựa chọn;
3) Độ phân mảnh của môi trường sống; 4) Mức độ phong phú những loài quan trọng
được lựa chọn; 5) Mức độ phong phú của loài ngoại lai xâm lấn [164]. Ngoài ra, nhiều
tổ chức quốc tế khác đã tiến hành xây dựng chỉ thị ĐDSH như CBD, Công ước
Ramsar về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế đề xuất bộ chỉ thị để đánh giá
thực hiện mục tiêu của Công ước [143], OECD xây dựng chỉ thị hợp tác đa phương
với Viện nghiên cứu nguồn gen thực vật quốc tế thiết lập các chỉ thị về nguồn
gen…[90, 135].
Bên cạnh các bộ chỉ thị sử dụng để theo dõi diễn biến ĐDSH ở quy mô toàn