1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
1.1. Nghiên cứu cảnh quan và hƣớng tiếp cận sinh thái cảnh quan 8
1.1.1. Các nghiên cứu cảnh quan học 8
1.1.2. Các nghiên cứu sinh thái học, hệ sinh thái 11
1.1.3. Tiếp cận sinh thái cảnh quan 12
1.2. Đa dạng sinh học 13
1.2.1. Đa dạng sinh học ở Việt Nam 14
1.2.2. Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam 17
1.3. Tổng quan về đất ngập nƣớc 18
1.3.1. Cấu trúc và chức năng đất ngập nƣớc 18
1.3.2. Đất ngập nƣớc châu thổ sông Hồng 19
1.3.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất ngập nƣớc ven biển
Thái Bình 21
1.4. Quan điểm phát triển bền vững 24
1.4.1. Khái niệm phát triển bền vững 24
1.4.2. Phát triển bền vững ở Việt Nam 26
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, QUAN ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Địa điểm và đối tƣợng nghiên cứu 28
2.2. Tài liệu nghiên cứu 28
2.3. Các quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu 29
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 31
2.4.1. Phƣơng pháp kế thừa 31
2.5. Quy trình nghiên cứu 39
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 41
3.1. Các nhân tố hình thành cảnh quan đất ngập nƣớc ven biển Thái Bình 41
1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của luận án
Vùng cửa sông ven biển là nơi tiếp giáp giữa lục địa và biển nên ở đây xuất
hiện các loài đặc trưng cho môi trường sông biển cùng với những loài thích nghi tồn
tại trong các sinh cảnh khác nhau như bãi triều, vũng vịnh, cồn cát, Do đó, đã từ
lâu đất ngập nước (ĐNN) ven biển là địa bàn hoạt động của con người, tạo nên nền
kinh tế đa ngành, là đối tượng sử dụng quan trọng trong cơ cấu chung của nền kinh tế
quốc dân. Tuy nhiên, do nhu cầu đời sống ngày một tăng, hoạt động của con người
ngày một đa dạng với cường độ ngày càng cao đã để lại cho vùng đất ven biển những
hậu quả sinh thái nặng nề, cảnh quan bị xáo trộn, đa dạng sinh học (ĐDSH) bị thất
thoát, nguồn lợi sinh vật và chất lượng môi trường suy giảm. Chính vì thế, phát triển
bền vững (PTBV) được đưa ra là mục tiêu thiên niên kỷ không chỉ ở mức độ toàn
cầu mà còn là của mỗi địa phương nhằm kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trường.
Thái Bình là một trong những tỉnh nông nghiệp then chốt thuộc đồng bằng
Bắc Bộ với 49,5 km đường bờ biển trải dài trên hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy
cùng các cửa sông đổ ra biển đã tạo nên hàng ngàn ha đất bãi bồi góp phần mở rộng
diện tích cho vùng. Tuy nhiên, cũng như các vùng ĐNN ven biển khác trong điều
kiện đất nước đổi mới, nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, sức ép dân số
gia tăng nên hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong vùng ngày
càng “hối hả” và mãnh liệt hơn làm cho cảnh quan (CQ) bị biến đổi nhanh chóng. Do
đó, để có được những định hướng quy hoạch sử dụng vùng theo quan điểm PTBV,
chúng tôi đã thực hiện đề tài luận án “Nghiên cứu biến động cảnh quan và đa dạng
sinh học đất ngập nước ven biển Thái Bình, định hướng quy hoạch sử dụng vùng
cho phát triển bền vững”
Mục tiêu nghiên cứu
+ Nghiên cứu về cấu trúc và xu hướng biến động của các loại cảnh quan trên
vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình;
loại đã lựa chọn ở các mốc thời gian: năm 1965, năm 1986 và năm 2007.
+ Phân tích biến động cấu trúc các loại cảnh quan theo từng tiểu vùng và biến
động của các hệ sinh thái trong vùng qua 2 giai đoạn: 1965-1986 và 1986-2007.
+ Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học (đa dạng hệ sinh thái và đa dạng
loài) ở vùng ĐNN ven biển Thái Bình;
3
Những điểm mới của luận án
+ Xây dựng cơ sở dữ liệu cập nhật về hiện trạng ĐDSH tại vùng nghiên cứu;
+ Phân loại cảnh quan và thành lập bản đồ sinh thái cảnh quan vùng ĐNN ven
biển Thái Bình tỷ lệ 1:50.000;
+ Lần đầu tiên bản đồ biến động các loại cảnh quan tỷ lệ 1:50.000 cho vùng
đất ngập nước ven biển Thái Bình được thành lập.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm sáng tỏ
hiện trạng các loại cảnh quan và đa dạng sinh học cũng như biến động của chúng
trong những giai đoạn lịch sử nhất định của vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình.
- Ý nghĩa thực tiễn: hệ thống cơ sở dữ liệu, tập bản đồ cũng như các định
hướng quy hoạch được đưa ra trong luận án là những tài liệu có giá trị cho các nhà
quản lý trong quy hoạch lãnh thổ theo hướng phát triển bền vững.
Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các kiến nghị và tài liệu tham khảo, luận án
được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1. Tổng quan tài liệu: tổng quan khái niệm các nội dung có liên quan
và các công trình nghiên cứu đã triển khai ở vùng nghiên cứu.
Chương 2. Đối tượng, quan điểm và phương pháp nghiên cứu: bao gồm đối
tượng và địa điểm nghiên cứu, tài liệu nghiên cứu, các quan điểm nghiên cứu, các
nguyên tắc cũng như phương pháp thành lập bản đồ ở vùng nghiên cứu.
Chương 3. Kết quả và bàn luận: bao gồm
- Các chỉ tiêu phân loại cảnh quan đối với vùng đất ngập nước ven biển Thái
Các nhà địa lý Liên Xô cũ đã có những đóng góp to lớn vào việc hoàn thiện và
phát triển lý thuyết, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu CQ. Và cho đến nay,
các nhà khoa học nghiên cứu về CQ ở nước ta chủ yếu đều dựa trên nền tảng lý luận của
trường phái nước Nga Xô Viết, cùng thống nhất ba quan niệm về CQ (Từ điển Bách
khoa Địa lý Xô viết, 1988) [32, 54, 56] để chỉ các hình thức CQ khác nhau phụ thuộc
vào các quan niệm của người nghiên cứu.
- Quan niệm chung: CQ được hiểu như một khái niệm chung, ý nghĩa tương tự
khái niệm “địa hình”, “khí hậu”, “thổ nhưỡng”,… đồng nghĩa với khái niệm địa tổng thể
các cấp. Người đề xuất quan điểm này là F.N. Milkov và được D.L. Armand, P.X.
Kuzonhexov, V.P. Prokaev… tích cực ủng hộ. Tuy nhiên, quan niệm này thường “được
dùng cho các công trình chung nghiên cứu môi trường tự nhiên hoặc nghiên cứu một
5
dạng sử dụng rất cụ thể như cho các vườn bảo vệ tự nhiên, cho phát triển một số giống,
loài nào đó”, bởi CQ ở đó không có giới hạn rõ rệt về lãnh thổ, không theo trật tự phân
cấp logic nào.
- Quan niệm kiểu loại: CQ là đơn vị cơ sở, là cấp phân vị, đơn vị phân loại trong
hệ thống phân chia các thể tổng hợp địa lý tự nhiên lãnh thổ. Mỗi cấp phân chia phải
dựa trên các chỉ tiêu đặc trưng và có cấu trúc hình thái riêng từ trên xuống hoặc từ dưới
lên. Tuy nhiên, theo quan niệm này cần xét đến sự phân hóa của các đơn vị CQ đều chịu
ảnh hưởng của quy luật địa đới và phi địa đới (A. G. Ixatrenco, 1965). Quan niệm này
chúng ta thường thấy trong các công trình nghiên cứu của các tác giả A. G. Ixatrenco,
Gerenchuc, A. M. Marinhich, N.A. Gvozdexki, và của đa số các tác giả nghiên cứu về
CQ ở Việt Nam (TT Địa lý tài nguyên nay là Viện Địa lý, Khoa Địa lý trường ĐH Tổng
hợp Hà Nội nay là trường ĐH Khoa học Tự nhiên). Quan niệm này có lợi thế trong
nghiên cứu thành lập bản đồ CQ phục vụ mục đích thực tiễn, ở tỷ lệ lớn và trung bình,
đối với các CQ bị biến đổi bởi các hoạt động của con người.
Theo quan niệm này đã có rất nhiều hệ thống phân loại cảnh quan của các tác giả
trong và ngoài nước được đề xuất. Đó là hệ thống phân vị cảnh quan của Nhikolaev
(1979) gồm 12 bậc: thống → hệ → phụ hệ → lớp → phụ lớp → nhóm → kiểu → phụ
này được phát triển trong các công trình của A. A. Grigoriev (1957), X. V. Kalexnic
(1947-1959), A. G. Ixatrenco (1953, 1965, 1989), N. A. Xolnsev (1948, 1949), theo đó
CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị địa lý tự nhiên cơ sở,
là đối tượng cơ bản để nghiên cứu lãnh thổ. Theo quan niệm này, Vũ Tự Lập khi nghiên
cứu CQ địa lý Miền Bắc Việt Nam đã định nghĩa: “CQ địa lý là một tổng thể được phân
hoá trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có cấu trúc
thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại
tổ hợp thổ nhưỡng, đại tổ hợp thực vật mà bao gồm tập hợp có quy luật của những dạng
địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất” [52], ở đó
các cá thể CQ của ông không lặp lại ở bất kỳ lãnh thổ khác.
Cảnh quan học đã cung cấp lý luận về tính hệ thống và tính thứ bậc chặt chẽ
trong cấu trúc môi trường của sinh vật, là cơ sở hình thành hướng tiếp cận sinh thái cảnh
quan của trường phái Nga Xô Viết (cũ) và được các nhà cảnh quan học Việt Nam kế
thừa, phát triển.
1.1.2. Các nghiên cứu sinh thái học, hệ sinh thái
Sinh thái học (ecology) là một khoa học cơ bản trong sinh vật học, nghiên cứu
các mối quan hệ của sinh vật với sinh vật và sinh vật với môi trường ở mọi mức tổ chức,
từ cá thể, quần thể đến quần xã sinh vật và hệ sinh thái (HST) [72].
7
Thuật ngữ sinh thái học xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX bởi một nhà động vật học
người Đức, Haeckel (1866), đó là “nghiên cứu tổ hợp các mối tương quan của con vật
với môi trường của nó và trước tiên là mối quan hệ “bạn bè”, “thù địch” với một nhóm
động, thực vật mà con vật đó tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp” [72, 76]. Đến đầu thế kỷ
XX, sinh thái học chuyển sang nghiên cứu sinh thái học quần xã sinh vật. Vào những
năm 20 của thế kỷ XX, sinh thái học đã phát triển một bước quan trọng, coi hệ sinh thái
như là một đơn vị cơ sở, gồm hai hệ thống nhỏ quần xã sinh vật và môi trường. Cho đến
nay, sinh thái học đã trở thành một khoa học giúp chúng ta ngày càng hiểu biết sâu về
bản chất của sự sống trong mối tương tác với các yếu tố môi trường, từ đó tạo nên
những nguyên tắc, định hướng cho chiến lược phát triển bền vững của xã hội con người.
Sinh thái cảnh quan là một hướng nghiên cứu liên ngành và tổng hợp hình thành
trên cơ sở kết hợp các phương pháp nghiên cứu định lượng của sinh thái học và tính
tổng hợp, tính trật tự, tính phân cấp của cảnh quan học nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội. Sinh thái học cảnh quan ra đời với mục đích
xúc tiến sự liên kết giữa các nhà khoa học và các nhà lập kế hoạch [129].
Tuy nhiên, lần đầu tiên thuật ngữ “sinh thái cảnh quan” được đưa ra bởi nhà địa
lý sinh vật người Đức Carl Troll (1939), ông đã tiến hành nghiên cứu sinh thái của cảnh
quan nhằm xác định chất lượng cân bằng thiên nhiên của vật chất trong phạm vi một
vùng hoặc một phần lãnh thổ. Sinh thái cảnh quan là học thuyết tổng hợp về cân bằng
thiên nhiên, nhờ đó có thể nhận biết được mối quan hệ tương hỗ chức năng tồn tại bên
trong các cảnh quan, hiểu được tính nhân quả sinh học và lý-hóa của chúng và xác định
(số lượng và chất lượng) trật tự phụ thuộc trong tổng hợp thể hiện tự nhiên này của các
quan hệ chế ước lẫn nhau. Theo ông, sinh thái cảnh quan có hai nội dung nghiên cứu
chính: (1) nghiên cứu cảnh quan bằng con đường phân tích mối quan hệ qua lại giữa các
quần thể sinh vật với môi trường; (2) nghiên cứu quan hệ giữa các tổng thể tự nhiên với
nhau, kể cả ảnh hưởng của những hoạt động của con người [124].
Nếu như mục đích của nghiên cứu cảnh quan truyền thống là tìm ra các đơn vị
cảnh quan đồng nhất theo các cấp khác nhau trong không gian (giống như một bức
khảm) thì các nhà nghiên cứu sinh thái cảnh quan đang tích cực nghiên cứu và xây dựng
các nguyên tắc về các kiểu đa dạng sinh học và các quá trình tự nhiên xảy ra trong nội
bộ bức khảm đó và mối liên quan với bức khảm lân cận nhằm thực hiện các ý đồ về quy
hoạch, thiết kế, quản lý và lập các chính sách về đất đai [31, 32, 122, 124].
Ở đó có sự hội tụ và bổ sung cho nhau của hai ngành địa lý và sinh học. Các nhà
địa lý đi từ giới vô cơ dần dần đến giới hữu cơ và cuối cùng đã thấy sinh vật đóng vai trò
chủ đạo trong các hệ tự nhiên và hệ tự nhiên hoạt động tốt nhất là hệ tự nhiên có năng
suất sinh vật cao nhất [126]. Do vậy, cải tạo hệ tự nhiên phải bắt đầu bằng việc cải tạo
9
thực vật. Các nhà sinh học khi tìm hiểu giới sinh vật không thể không đề cập đến môi
trường vô cơ như đất, nước, không khí. Cả hai đều phát sinh phát triển trong mối quan
10
1.2.1. Đa dạng sinh học ở Việt Nam
Nằm ở vùng Đông Nam châu Á, Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng
sinh học cao trên thế giới. Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu,… của Việt Nam đã góp
phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật. Về mặt địa sinh học, Việt
Nam là giao điểm của các hệ động thực vật thuộc vùng Ấn Độ-Miến Điện, Nam Trung
Quốc và Indo-Malaysia. Các đặc điểm trên đã tạo cho nơi đây trở thành một trong
nhưng khu vực có tính đa dạng sinh học cao của thế giới với khoảng 10% số loài sinh
vật trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền trên thế giới [21].
1.2.1.1. Đa dạng nguồn gen
Việt Nam được đánh giá là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng và
cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới (Jucovski, 1970). Theo báo cáo
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005) [8, 21], Việt Nam có 11 loài gia súc
và gia cầm đang được chăn nuôi với tổng số 106 giống (53 giống nội và 53 giống nhập
ngoại); 802 loài cây trồng phổ biến với hàng nghìn giống khác nhau thuộc 16 nhóm cây
trồng. Các loài cá nuôi có nguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt
Nam khoảng 50 loài trong đó có 35 loài cá cảnh, còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt.
1.2.1.2. Đa dạng loài
Số lượng các loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn; cấu trúc loài rất đa dạng, có nhiều
loài có hàng chục dạng sống khác nhau; khả năng thích nghi của loài cao, có đặc tính
chống chịu cao đối với các thay đổi của các yếu tố và điều kiện ngoại cảnh.
Theo các tài liệu thống kê, Việt Nam là một trong 25 nước có mức độ đa dạng
sinh học cao trên thế giới với dự tính có thể tới 20.00-30.000 loài thực vật, thành phần
loài động vật, thực vật ở Việt Nam được thống kê trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Sự phong phú thành phần loài sinh vật ở Việt Nam
TT
Nhóm sinh vật
Số loài đã xác định
được ở Việt Nam (VN)
- Biển
Khoảng 20
667
2.000
10.000
1
6,8
3
Thực vật bậc cao
- Rêu
- Nấm lớn
Khoảng 11.400
1.030
826
220.000
22.000
50.000
5
4,6
1,6
4
Động vật KXS
- Nước ngọt
- Biển
- Đất
794
4,7
10
Lưỡng cư
162
4.184
3,8
11
Chim
840
9.040
9,3
12
Thú
- Thú biển
310
25
4.000
7,5
Nguồn: [8, 75]
1.2.1.3. Đa dạng hệ sinh thái
Trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu hệ sinh thái khác nhau [8] (bảng 1.2).
Thành phần các quần xã trong hệ sinh thái rất giàu cùng với cấu trúc quần xã phức tạp,
nhiều tầng bậc, nhiều nhánh làm cho đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam có nhiều điểm
khác biệt so với các nước khác trên thế giới. 12
Bảng 1.2. Một số hệ sinh thái chính ở Việt Nam
TT
Hệ sinh thái
ĐDSH rất nghèo, hệ sinh thái kém bền vững
11
Nước chảy (suối, sông)
ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững
12
Hồ, mặt nước lớn
ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững
13
Ao, mặt nước nhỏ
ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm
14
Bán ngập nước
ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm
15
Nước lợ, cửa sông
ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động
16
Biển ven bờ
ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động
17
Biển sâu
ĐDSH trung bình, hệ sinh thái bền vững
18
Thủy vực ngầm, hang động
ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm
Nguồn: [8]
Đa dạng hệ sinh thái ở Việt Nam còn thể hiện ở tính phong phú của các mối quan
hệ giữa các yếu tố vật lý và các yếu tố sinh học, giữa các nhóm sinh vật với nhau, giữa
các loài, giữa các quần thể cùng loài; mạng lưới dinh dưỡng, các chuỗi dinh dưỡng với
nhiều khâu nối tiếp nhau; các mối quan hệ năng lượng được thực hiện song song với các
một hệ thống rừng đặc dụng (128 khu bảo tồn rừng) đã được Chính phủ công nhận và
đưa vào hoạt động [21].
Bảo tồn ngoại vi bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh
vật ra khỏi môi trường sống tự nhiên của chúng. Đó là việc hình thành các vườn thực
vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng,
các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy,…. Phương pháp bảo tồn
này được xác định là tương đối mới ở nước ta, tuy nhiên trong những năm qua cũng đã
đạt được một số thành tựu nhất định. Tính đến năm 2006 đã có 17 khu rừng thực
14
nghiệm được hình thành với tổng diện tích 8.516 ha; 7 vườn cây thuốc và việc lưu giữ
nguồn giống cây trồng, vật nuôi mới được thực hiện ở một số cơ sở nghiên cứu.
1.3. Tổng quan về đất ngập nƣớc
1.3.1. Cấu trúc và chức năng đất ngập nước
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều cách định nghĩa về ĐNN khác nhau (trên 50
định nghĩa về ĐNN) tùy theo mức độ ngập nước và mục đích sử dụng khác nhau. Tuy
nhiên, định nghĩa về ĐNN của Công ước RAMSAR (Công ước về các vùng ĐNN có
tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước, năm 1971) có
tầm khái quát và bao hàm nhất. Theo định nghĩa này, ĐNN là "những đầm lầy than bùn
hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo thường xuyên hay tạm thời với nước
chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn kể cả những vùng nước biển có
độ sâu không quá 6m khi triều thấp” (Điều 1.1. Công ước Ramsar, 1971) [4, 11, 116]
ĐNN rất đa dạng về loại hình và kích cỡ, được coi như cấu phần của cảnh quan
tự nhiên, phản ảnh những đặc trưng về tự nhiên và sinh học, xác định khuôn khổ của các
quy hoạch quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học, tài nguyên và các chức năng sinh thái
của nó [128].
Trong cấu trúc, quần xã sinh vật là thành phần quan trọng vì nó là sản phẩm đặc
biệt được sinh ra trong những hoàn cảnh cụ thể của ĐNN, song trong hoạt động sống,
quần xã sinh vật lại làm biến đổi những đơn vị cấu trúc khác của ĐNN. Những mối
tương tác như thế cần được xem là cơ sở của nhận thức, đồng thời trong nghiên cứu,
.
2
. Đất ngập nước châu thổ sông Hồng
ĐNN thuộc châu thổ sông Hồng chịu sự chi phối trực tiếp của hệ thống sông
Hồng-sông Thái Bình, kéo dài theo đường bờ biển từ Đồ Sơn (Hải Phòng) đến Lạch
Trường (Thanh Hoá). Vùng này có trên 10 cửa sông lớn nhỏ đổ nước ra biển, tham gia
vào quá trình thành tạo và biến đổi CQ cũng như nhiều đặc tính khác của vùng. Nhiều
cửa sông bị con người xây cống chặn lại như cống Lân (cửa Lân), cống Trà Linh I, II
(cửa Diêm Điền), cống Ngô Đồng và Nhất Đỗi trên sông Sò (Nam Định) [15, 17, 24].
Nhìn chung, vùng đất ngập nước ven biển châu thổ sông Hồng rộng và tương đối
bằng phẳng, nghiêng ra phía biển Đông vài chục phút đến vài độ, với các cửa sông dạng
delta điển hình. Địa hình bờ và đáy biển ở đây được phát triển trên cấu trúc sụt võng
trong Kainozoi - trũng sông Hồng có phương Tây Bắc - Đông Nam, khá bằng phẳng và
bị chia cắt ngang mạnh bởi các cửa sông và lạch. Đường bờ có 2 hướng chính: hướng
Bắc - Nam từ Đồ Sơn đến cửa Ba Lạt và hướng Đông Bắc - Tây Nam từ Ba Lạt đến
Lạch Trường. Yếu tố động lực đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành và phát
triển bờ là sông và dòng biển (dòng triều, hải lưu ven bờ và dòng sóng). Bờ biển ở đây
thuộc loại không ổn định, quá trình tích tụ chiếm ưu thế, điều này dẫn đến quá trình tiến
hoá và hình thành vùng đất ngập nước mới. Lục địa ven biển là vùng đồng bằng thấp
của châu thổ sông Hồng hiện đại nằm trong đê biển có độ cao trung bình 3 - 4 m, một số
5 - 6 m [3, 17, 83].
16
Đặc điểm lớn nhất của vùng đất ngập nước ven bờ châu thổ sông Hồng là quá
trình bồi tụ mở rộng ngang và bồi tụ nổi cao của các khu đất bồi trên các bãi triều chiếm
ưu thế. Chế độ động lực sông giữ vai trò thống trị, lục địa vẫn tiến ra biển, với tốc độ từ
25 m/năm ở phía Đông Bắc đến 80 - 100 m/năm tại cửa Thái Bình, Ba Lạt và phần Tây
Nam châu thổ. Tại cửa Đáy sau 60 năm, bồi tụ được 3526 ha, tốc độ trung bình là 58,7
ha/năm. Sau 40 năm (1960 - 2000), tỉnh Thái Bình đã quai đê lấn biển, diện tích đất
được mở rộng thêm là 2.400 ha, trung bình 60 ha/năm. Riêng huyện Kim Sơn (Ninh
sông thường tạo nên ở phía trong các khu lắng đọng các trầm tích mịn, làm nền cho
rừng cây ngập mặn phát triển, còn phía biển, được cấu tạo bằng các trầm tích hạt thô
hơn.
1.3.3. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất ngập
nước ven biển Thái Bình
Kết quả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến vùng đất ngập
nước ven biển Thái Bình từ trước cho đến nay [15, 16, 17, 20, 36, 37, 42, 52, 60, 61, 62,
70, 74, 81, 89, 91, 94, 95] cho thấy, phần lớn các công trình nghiên cứu triển khai ở
vùng ĐNN ven biển Bắc Bộ, vùng châu thổ sông Hồng mà các nghiên cứu cho một
vùng cụ thể như Thái Bình còn đơn lẻ; có thể chia thành 4 nhóm công trình:
1.3.3.1. Nhóm các công trình điều tra tổng hợp
Đầu tiên phải kể đến công trình “Điều tra tổng hợp vùng cửa sông ven biển châu
thổ Bắc bộ nhằm khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường“, Đề tài 52.02.02 do
Vũ Trung Tạng chủ nhiệm (giai đoạn 1980-1985) [71].
Tiếp theo là các đề án điều tra cơ bản nhằm khai thác và sử dụng hợp lý tài
nguyên dải ven biển như công trình của Nguyễn Đức Cự (1996-1998), Nguyễn Gia
Thắng (1998), [86]…. Gần nhất có công trình của Phạm Thế Vĩnh (2004) nghiên cứu
cảnh quan sinh thái dải ven biển đồng bằng sông Hồng tỷ lệ 1:100.000 và các định
hướng sử dụng hợp lý lãnh thổ [113].
1.3.3.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về các hợp phần tự nhiên
- Nghiên cứu địa chất, địa mạo
Đề cập tới tính chất bồi tụ của châu thổ có các công trình của Lê Bá Thảo (1964),
Huỳnh Ngọc Hương và Nguyễn Đức Chính (1996). Nghiên cứu về lịch sử tiến hóa vùng
nghiên cứu được công bố bởi các tác giả: Hoàng Ngọc Kỷ (1977) nghiên cứu địa chất
Đệ tứ đồng bằng Bắc Bộ; Nguyễn Đức Khả (1988) nghiên cứu sự tiến triển của đường
bờ biển Thái Bình trong Holoxen muộn hiện đại và vấn đề quai đê lấn biển; Doãn Đình
Lâm (2003) nghiên cứu lịch sử tiến hóa trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng [52]. Tác
giả Nguyễn Hoàn cũng đã công bố kết quả nghiên cứu địa hình và trầm tích tầng mặt
vùng ven biển Thái Bình (1986) và nghiên cứu biến đổi địa hình và quá trình hình thành
các cồn bãi ở khu vực cửa sông Hồng (cửa Ba Lạt) (1996) [36, 37]… Bên cạnh đó còn
luận án PTS Sinh học của Phan Nguyên Hồng (1970), “Đặc điểm sinh thái, phân bố của
hệ thực vật và thảm thực vật ven biển miền Bắc Việt Nam”.
Về đặc trưng đa dạng hệ sinh thái có các công trình như: “Hệ sinh thái vùng triều
miền Bắc Việt Nam” của Nguyễn Xuân Dục (1994); “Sinh thái thảm thực vật rừng ngập
mặn Việt Nam” của Phan Nguyên Hồng (Luận án TSKH, 1991); “Hệ sinh thái rừng
19
ngập mặn” của Phan Nguyên Hồng (1994); chương trình “Quy hoạch định hướng cho
một số hệ sinh thái ĐNN ven biển Bắc Bộ mà bước khởi đầu là huyện Thái Thụy (Thái
Bình) và huyện Giao Thủy (Nam Định) phục vụ cho phát triển bền vững” do Vũ Trung
Tạng chủ nhiệm (2005) [42, 75, 132]…
1.3.3.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa - kinh tế - xã hội
Các công trình nhằm phát triển kinh tế-xã hội vùng nghiên cứu như: "Đánh giá
các yếu tố, nguồn lực chủ yếu cho việc phát triển kinh tế-xã hội dải ven biển Thái Bình
đến năm 2010” của Phạm Xuân Trường (1995); các dự án của Nguyễn Lập Dân (1996);
Nguyễn Văn Cư (1992, 1997); [15, 16, 20]…
Liên quan đến vấn đề quy hoạch vùng cho phát triển bền vững phải kể tới các
công trình của Viện Điều tra Quy hoạch rừng (1994); Lê Quý An, Đường Hồng Dật
(1996); quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng đồng bằng sông Hồng, của tỉnh
Thái Bình đến năm 2010 và 2010,….
1.3.3.4. Nhóm các công trình ứng dụng công nghệ viễn thám và HTTĐL (GIS)
Ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong nghiên
cứu ĐNN ven biển chỉ mới xuất hiện trong những năm gần đây, mới đây nhất là dự án
do Trung tâm Viễn thám thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện về điều tra, đánh
giá tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ngập nước ven biển (2007); đề tài do Nhữ
Thị Xuân chủ nhiệm đã ứng dụng hệ thông tin địa lý xây dựng cơ sở dữ liệu đơn vị đất
đai từ đó phân hạng và đánh giá thích nghi đất đai cho toàn tỉnh Thái Bình và huyện
Thái Thụy; đánh giá biến động sử dụng đất trên vùng nghiên cứu.
Ứng dụng viễn thám và GIS nghiên cứu quản lý tài nguyên ven biển phải kể đến
công trình của Phạm Thế Vĩnh (2004), Phạm Quang Sơn (2004), Nguyễn Đình Minh
học và quan điểm phát triển bền vững từ đó đề xuất các định hướng quy hoạch sử dụng
vùng ĐNN ven biển Thái Bình cho phát triển bền vững.
1.4. Quan điểm phát triển bền vững
1.4.1. Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn
phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân
loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu
tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường” [5, 29, 40].
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 với nội dung “Phát triển
bền vững” là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh
hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ”. Nói
21
cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội
công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ [2, 5].
Nội dung phát triển bền vững được nhấn mạnh và mang tính toàn cầu kể từ khi
“Chương trình nghị sự 21” (Agenda 21) của Liên hợp quốc được thông qua tại hội nghị
thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát triển tổ chức ở Rio de Janero (Braxin)
năm 1992. Ở đó, các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng các nhà chính trị
đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của
toàn nhân loại và chúng ta cần phải đáp ứng được các nhu cầu cơ bản của con người, cải
thiện tiêu chuẩn sống cho mọi người, bảo vệ và quản lý tốt hơn các hệ sinh thái. Và các
nội dung về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ bờ biển, đại dương, phát triển bền vững
nông nghiệp, nông thôn,… đã được đề cập chi tiết trong phần 2 (bảo tồn và quản lý các
nguồn tài nguyên) của chương trình nghị sự [7, 123].
Từ khái niệm “phát triển bền vững” của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế
giới (1987), rất nhiều mô hình phát triển bền vững được ra đời như mô hình của WCED
(1987), Villen (1990), UNICEP (1993), Ngân hàng Thế giới (1995), IIED (1995),…
Theo mô hình của Ngân hàng Thế giới (hình 1.1), phát triển bền vững được hiểu là sự
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, và từ đó đến nay, BAP là văn bản có tính pháp lý,
là kim chỉ nam cho hành động của Việt Nam trong việc bảo vệ ĐDSH ở tất cả các
ngành, các cấp, các đoàn thể.
Tại đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX trong đường lối chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) giai đoạn 2001-2010 đã chỉ rõ “Phát triển
nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội và bảo vệ môi trường, giữ gìn đa dạng sinh học”. Để thực hiện mục tiêu PTBV,
nhiều các luật chuyên ngành; các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; chính sách, nghị định của
Chính phủ và các Bộ đã được ban hành và triển khai; nhiều chương trình, đề tài trong
lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả đáng tin cậy, nhiều nội dung
cơ bản về PTBV đã đi vào cuộc sống và đang dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát
triển của đất nước. Trong đó phải kể đến “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở
Việt Nam” (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được Thủ tướng Chính phủ ban
hành tại Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17 tháng 8 năm 2004 và Luật Đa dạng
sinh học được Quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, đây là
văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước Việt Nam về công tác bảo tồn và phát triển bền
vững đa dạng sinh học [14].
Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN ven biển Việt Nam
đến năm 2015 đã được xây dựng [2, 6, 7], một số nguyên tắc chỉ đạo đã được đưa ra
trong bản kế hoạch như: nhằm tiến tới sử dụng khôn khéo ĐNN, bảo tồn ĐDSH và góp
phần PTBV kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, giảm nhẹ thiên tai vùng ven biển; cần
lồng ghép một cách hữu cơ với chiến lược phát triển KT-XH; việc tổ chức thực hiện
phải được xã hội hóa đặc biệt là đối với cộng đồng ven biển, phù hợp với nguồn lực của
quốc gia cũng như yêu cầu của các công ước quốc tế liên quan mà Việt Nam tham gia.
23
Tất cả các nguyên tắc trong PTBV cũng như các quy định của Nhà nước về bảo
tồn và PTBV đa dạng sinh học các vùng ĐNN sẽ là kim chỉ nam cho định hướng quy
hoạch sử dụng vùng ĐNN ven biển Thái Bình.