nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái cho sinh kế người dân vùng đệm vườn quốc gia xuân thủy, nam định - Pdf 24



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ HỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI

Đặng Thị Huyền

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI
CHO SINH KẾ NGƢỜI DÂN VÙNG ĐỆM VƢỜN
QUỐC GIA XUÂN THỦY, NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội, 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN HÀ NỘI Đặng Thị Huyền


thành khóa đào tạo.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND tỉnh Nam Định, UBND huyện Giao Thủy,
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Giao Thủy, cán bộ Vườn quốc
gia Xuân Thủy đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi cũng cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp những
người đã ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi trong suốt quá trình học
và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 01 tháng 12 năm 2013
Học viên

Đặng Thị Huyền MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái 3
1.1.1. Hệ sinh thái và các dịch vụ của chúng 3
1.1.2. Mối quan hệ giữa dịch vụ hệ sinh thái đối với con người và sự phát triển
kinh tế xã hội 6
1.1.3. Sinh kế 5 xã vùng đệm (VQGXT) phụ thuộc vào ĐNN 8
1.1.4. Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái 10
1.2. Sử dụng tài nguyên phát triển sản xuất và bảo vệ môi trường. 14
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. Phương pháp nghiên cứu, khảo sát thực địa 19
2.2. Phương pháp điều tra xã hội 19
2.3. Phương pháp kế thừa 19
2.4. Phương pháp chuyên gia 20

3.1.4.4. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 46
3.2. Hiện trạng các HST và dịch vụ hệ sinh thái ở VQGXT 47
3.2.1. HST Rừng ngập mặn ven biển 48
3.2.1.1. Đặc tính rừng ngập mặn 48
3.2.1.2. Hiện trạng quản lý 50 3.2.1.3. Các loại hình dịch vụ: 51
3.2.2. HST nước mặn nuôi trồng thủy sản (Đầm nuôi tôm) 56
3.2.2.1. Đặc tính của các đầm nuôi tôm 56
3.2.2.2. Hiện trạng quản lý 58
3.2.2.3. Các dịch vụ: 58
3.2.3. HST Bãi bồi ngập triều 59
3.2.3.1. Đặc tính của bãi bồi ngập triều 59
3.2.3.2. Hiện trạng quản lý ở các diện tích này 62
3.2.3.3. Các dịch vụ 63
3.2.4. HST Cồn cát 64
3.2.4.1. Đặc tính của cồn cát 64
3.2.4.2. Hiện trạng quản lý 65
3.2.4.3. Các dịch vụ 66
3.2.5. HST các kênh rạch (lạch triều, sông, biển) 66
3.2.5.1. Đặc điểm thủy văn các lạch triều, sông, biển 66
3.2.5.2. Hiện trạng quản lý 67
3.2.5.3. Các dịch vụ 67
3.3. Giá trị kinh tế của các dịch vụ hệ sinh thái 68
3.3.1. Sản lượng tôm 68
3.3.2. Giá trị nuôi cua 71
3.3.3. Giá trị sản xuất rong câu. 72
3.3.4. Sản lượng ngao 73
3.3.5. Đánh bắt cá 74

Hình 3.7:Cồn cát và rừng phi lao 65
Hình 3.8:Lạch triều 67
Hình 3.9: Mô hình đầm nuôi tôm sinh thái 87
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại các dịch vụ hệ sinh thái trong báo cáo TEEB (TEEB, 2010a) 5
Bảng 1.2:Các thành tố quyết định đến sự phát triển kinh tế 7
Bảng 1.3:Các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào ĐNN 9
Bảng 1.4:Bảng so sánh cách nhìn nhận trong quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường 16

Bảng 3.1:Các HST và diện tích của chúng ở VQG 47
Bảng 3.2:Danh sách 11 loại chim hiếm VQGXT 55
Bảng 3.3: Hiện trạng nuôi tôm khu vực vùng đệm 69
Bảng 3.4:Thống kê mô tả về hoạt động nuôi tôm 70
Bảng 3.5:Lợi nhuận nuôi tôm tại Xuân Thủy 71
Bảng 3.6:Diện tích nuôi ngao trong vùng đệm VQGXT 73
Bảng 3.7:Thống kê mô tả hoạt động nuôi ngao 74
Bảng 3.8:Thu nhập ròng của mỗi cá nhân thông qua phỏng vấn 75
Bảng 3.9:Tổng thu nhập của những người khai thác thủy sản thủ công ở năm xã vùng đệm
76
Bảng 3.10:Giá thành hoạt động của khai thác thủ công 77
Bảng 3.11:Chi phí tu bổ 20,7km đê biển không có rừng bảo vệ huyện Giao Thủy giai đoạn
2001-2010 80
Bảng 3.12:Chi phí đối với khách du lich trong nước và nước ngoài thăm VQGXT 82
Bảng 3.13:Chi phí chuyển đổi đối với khách du lịch trong nước, nước ngoài 83

Rừng ngập mặn nói chung và Vườn quốc gia Xuân Thủy nói riêng mang lại
một loạt các loại hình dịch vụ và hàng hóa như: thực phẩm; đất để chăn thả gia súc,
nuôi trồng các loài thủy, hải sản; kiểm soát lũ và nơi trú ẩn cho các loài chim cư trú
cũng như các loài chim di cư. Ngoài ra Vườn quốc gia Xuân Thủy còn có các dự án
được tài trợ bởi Chính phủ Việt Nam và các tổ chức phi chính phủ như trồng rừng
ngập mặn và phát triển du lịch sinh thái dựa trên cộng đồng như là phương tiện sinh
kế tại địa phương.
Tuy nhiên các lợi ích thu được từ Vườn quốc gia Xuân Thủy đã bị suy giảm
đáng kể do việc khai thác quá mức nguồn thủy sản, hoạt động nuôi trồng hải sản
không phù hợp, chặt phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi tôm, thải các chất thải gây ô
nhiễm từ các khu dân cư của năm xã vùng đệm Vườn Quốc gia.
Vì vậy, việc làm sáng tỏ hiện trạng sử dụng các dịch vụ hệ sinh thái ở Vườn
quốc gia Xuân Thủy và các tác động của con người tới Vườn quốc gia là rất cần
thiết để từ đó có các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển Vườn quốc gia đồng
thời tạo thu nhập và sinh kế tại địa phương. Đề tài: “Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ
sinh thái cho sinh kế người dân vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định” sẽ
2

tập trung nghiên cứu những dịch vụ tạo giá trị thu nhập cho cộng đồng trong vùng
đệm.
Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu các loại hình dịch vụ HST ở VQGXT
Xác định các phương tiện sinh kế và sự phụ thuộc vào việc sử dụng các chức
năng (dịch vụ) HST VQGXT của người dân địa phương 5 xã vùng đệm.
Ước tính giá trị thu nhập từ các dịch vụ hệ sinh thái Vườn quốc gia Xuân
Thủy.
Đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất bền vững, bảo vệ môi trường Vườn
quốc gia Xuân Thủy.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tổng hợp các nghiên cứu khoa học liên quan.

"Những lợi ích mà con người có được từ hệ sinh thái" (TEEB, 2005a)
Hoặc "Sự đóng góp trực tiếp và gián tiếp của hệ sinh thái dành cho sự
thịnh vượng của con người" (TEEB, 2010a).
Dịch vụ HST ở đây được dùng để chỉ cả các nguồn lợi hữu hình (như
nước ngọt, lương thực) và các nguồn lợi vô hình (như các giá trị văn hóa). Theo
các tiêu chí khác nhau, các dịch vụ HST được phân chia theo nhiều cách
khác nhau. Trong luận văn, các dịch vụ HST được phân loại theo các chức năng
4

cung cấp, điều tiết, văn hóa và hỗ trợ. Theo đó, cũng có bốn nhóm dịch vụ tương
ứng là:
(i) Dịch vụ cung cấp
Đây là những sản phẩm có được từ các HST, bao gồm lương thực, tơ sợi, nhiên
liệu, nguồn gen, các chất sinh hóa, dược phẩm và thuốc tự nhiên, các sản phẩm trang
trí, nước ngọt.
(ii) Dịch vụ điều tiết
Dịch vụ điều tiết là những nguồn lợi có được từ hoạt động điều tiết của
các quá trình HST, bao gồm duy trì chất lượng không khí, điều tiết khí hậu,
điều tiết nước, kiểm soát xói lở, lọc nước và xử lí chất thải, điều tiết dịch bệnh
ở người, kiểm soát sinh vật, thụ phấn, phòng chống bão.
(iii) Dịch vụ văn hóa
Đây là những nguồn lợi phi vật chất mà con người có được từ các HST thông
qua sự làm giàu về tinh thần, phát triển nhận thức, suy nghĩ, sáng tạo, và trải
nghiệm về mỹ học. Những dịch vụ này bao gồm sự đa dạng về văn hóa, các giá
trị tinh thần và tôn giáo, hệ thống tri thức, các giá trị giáo dục, cảm hứng, các giá
trị mỹ học, các mối quan hệ xã hội, cảm giác về nơi chốn, các giá trị di sản văn hóa,
giải trí và du lịch sinh thái.
(iv) Dịch vụ hỗ trợ
Dịch vụ hỗ trợ là những dịch vụ cần thiết cho sự sinh ra của tất cả các
dịch vụ HST khác. Dịch vụ hỗ trợ khác với ba loại dịch vụ khác ở chỗ những

Tài nguyên gen (di truyền)

5
Tài nguyên y học

6
Tài nguyên trang trí Các dịch vụ điều tiết

7
Điều hòa chất lượng không khí

8
Điều hòa khí hậu

9
Điều tiết các hiện tượng cực đoan
Chắn bão, bảo vệ đê biển
10
Điều tiết dòng chảy

11
Xử lý nước
Làm sạch nước
12
Phòng chống xói mòn

13

TEEB
Trong nghiên cứu này
(các ví dụ)
19
Nghỉ ngơi và du lịch
Du lịch sinh thái
20
Nguồn cảm hững cho nghệ thuật, văn hóa
và sáng tạo

21
Trải nghiệm tinh thần

22
Thông tin cho phát triển nhận thức
Giáo dục
1.1.2. Mối quan hệ giữa dịch vụ hệ sinh thái đối với con người và sự phát
triển kinh tế xã hội
Mối quan hệ giữa HST và các dịch vụ của chúng với con người hay sự
phát triển kinh tế rất đa dạng và phức tạp. Hơn nữa, mối quan hệ này cũng biến
đổi theo thời gian. Trong quá trình tương tác với tự nhiên, các hoạt động của con
người luôn tạo ra, ngoài những kết quả theo dự tính, những hệ quả không
mong muốn, và rất nhiều hệ quả không mong muốn này lại rất có hại cho chính
sự phát triển kinh tế.
Chức năng cung cấp của HST cung cấp những hàng hoá và dịch vụ đảm
bảo duy trì sự phát triển kinh tế ở những khía cạnh khác nhau. Nếu như các
HST không cung cấp đủ lương thực, thực phẩm, nước sạch, cho con người thì
không những sẽ gây ra những tác động xấu đối với sự phát triển kinh tế mà còn
có thể xoá bỏ sự phát triển kinh tế đã đạt được.
Chức năng điều tiết của các HST cũng ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế

tốt
- Khả năng được
sống trong môi
trường trong sạch
và an toàn
- Khả năng làm
giảm các tai biến
- Khả năng tiếp
cận các nguồn tài
nguyên để có thu
nhập và sinh sống
- Được nuôi dưỡng
đầy đủ
- Tránh được các
bệnh có thể tránh
- Có đầy đủ nước
sạch để dùng
- Có không khí
trong sạch để thở
- Có đủ năng
lượng để dùng
- Có cơ hội thể
hiện các giá trị mỹ
học và giải trí liên
quan đến các HST
- Có cơ hội thể
hiện các giá trị văn
hóa và tinh thần
liên quan đến các
HST

tại các vùng ven biển là do các HST biển, ven biển cung cấp. Nói khác đi, sinh kế
vùng ven biển bị ảnh hưởng rất nhiều bởi thành phần và chức năng của các HST.
Sinh kế: Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực (gồm các nguồn lực vật chất
và xã hội) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người. Sinh
kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có
khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương
lai mà không làm tổn hại đến cơ sở tài nguyên thiên nhiên.
Kết quả của sinh kế:
- Tăng thu nhập
- Tăng sự ổn định
9

- Giảm rủi ro
- Nâng cao an toàn khu vực
- Sử dụng bền vững hơn các nguồn lợi tự nhiên.
Trong năm xã vùng đệm có gần ½ hộ gia đình có sinh kế phụ thuộc gián
tiếp và trực tiếp vào tài nguyên ĐNN trong khu vực VQGXT. Trong nhóm cộng
đồng này, đại đa số là tham gia khai thác trực tiếp và phụ thuộc trực tiếp nguồn lợi
thủy sản, còn các hình thức gián tiếp cung cấp dịch vụ chỉ thu hút khoảng 6% hộ.
Trong các hình thức khai thác trực tiếp thì đáng lưu ý nhất là hoạt động khai thác
tự do thủ công (hơn 40%), sau đó là đi làm thuê cho các chủ đầm tôm và vây vạng
ngoài bãi (gần 16%), còn các hình thức khai thác như đánh cá biển và nuôi trồng
thủy sản đòi hỏi đầu tư và đất đai thì mỗi hình thức chỉ có trên dưới 10% hộ tham
gia.
Bảng 1.3:Các hoạt động sinh kế phụ thuộc vào ĐNN
Loại hình sinh kế
Tỷ lệ
Nuôi tôm
9.54%
Nuôi ngao

vào khai thác nguồn lợi tự nhiên trong khu vực. Nhưng những hoạt động trên đã
và đang diễn ra trong khu vực với mức độ ảnh hưởng trực tiếp chưa lớn, nhưng
nếu không có các giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời thì trong tương lai gần
sẽ là áp lực đối với Vườn quốc gia.
1.1.4. Nghiên cứu giá trị dịch vụ hệ sinh thái
* Kinh nghiệm Thế giới
Kinh nghiệm thế giới cho thấy nghiên cứu giá trị dịch vụ HST sẽ cung cấp
thông tin về giá trị kinh tế của ĐNN, đây là một yếu tố đầu vào quan trọng cho
việc quản lý và sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên này. Một mặt, các thông tin
về giá trị kinh tế giúp các nhà quản lý lựa chọn được phương án sử dụng ĐNN có
hiệu quả, góp phần xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển. Mặt khác, thông
tin về giá trị kinh tế cũng là một đầu vào quan trọng góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp lý và các cơ chế quản lý ĐNN, lý giải cho sự phân bổ nguồn lực cho bảo tồn
ĐNN, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, là cơ sở để giải quyết
tranh chấp khiếu nại cũng như là một thành tố cơ bản trong các chương trình giáo
dục, truyền thông ĐNN.
Thực tế cho thấy, có một số hàng hóa và dịch vụ của VQG mặc dù có được
mua bán, giao dịch trên thị trường nhưng giá thị trường không phản ánh đầy đủ
giá trị của các hàng hóa và dịch vụ này. Khi đó, người ta phải xác định giá trị của
11

hàng hóa, dịch vụ mà VQG cung cấp dựa vào việc phân tích thông tin trên thị
trường thay thế. Có hai phương pháp truyền thống thuộc nhóm này là chi phí du
lịch và giá trị hưởng thụ. Ngoài ra một số hàng hóa và dịch vụ không được giao
dịch trên thị trường (ví dụ như tham quan động vật hoang dã) nên đôi khi không
trả trực tiếp nhiều cho giá trị hệ sinh thái.
Một vài dịch vụ HST được giao dịch trên thị trường và giá trị được xác định
bằng giá thị trường. Chẳng hạn, giá trị quyền sử dụng khu nghỉ mát ven biển có
thể được ước tính bằng cách ước tính lượng du khách và giá trị thặng dư cũng như
với bất kỳ hàng hóa thị trường khác. Dịch vụ HST khác như nước sạch cũng được

những năm 60 và 70 của thế kỷ trước nhưng nó chỉ thực sự được hiểu rõ hơn khi
“Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ” ra đời. Theo báo cáo “Đánh giá HST thiên
niên kỷ”, việc đánh giá giá trị dịch vụ HST đã diễn ra ở nhiều quốc gia, ở nhiều
phạm vi và nhiều phương pháp khác nhau. Ví dụ, nghiên cứu những thiệt hại về
kinh tế của đa dạng sinh học trên toàn cầu (TEEB), sửa đổi hệ thống kế toán kinh
tế và môi trường (SEEA) bao gồm các biện pháp của nguồn vốn tự nhiên để nắm
CÁC PHƢƠNG PHÁP LƢỢNG
HÓA VQG
Thị trƣờng thực
Chi phí thiệt hại
tránh được (AC)
Giá thị trường
(MP)
Chi phí thay thế
(RC)
Phƣơng
pháp chuyển
giao giá trị
Thị trƣờng thay thế
Chi phí
du lịch
(TCM)
Giá trị
hưởng
thụ
(HPM)
Thị trƣờng giả
định
Đánh giá
phụ thuộc

tính toán giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên ĐNN vùng ĐBSCL, đồng thời tiếp
tục hoàn thiện việc áp dụng phương pháp giá thị trường tại VN thông qua điều
chỉnh một số nhân tố sai lệch để đưa ra kết quả khá tin cậy về những khối giá trị
trực tiếp của ĐNN tại địa bàn nghiên cứu. Tác giả Lê Thu Hoa và các cộng sự
(2006) cũng sử dụng kỹ thuật giá thị trường để tính toán giá trị nuôi tôm tại khu
ĐNN của VQGXT, Nam Định. Có thể nói, phương pháp giá thị trường là phương
pháp đánh giá giá trị môi trường được sử dụng phổ biến và hoàn thiện nhất ở VN
hiện nay.
14

Ngoài ra, trong những năm trở lại đây, để đánh giá những phần giá trị khác
trong tổng giá trị kinh tế của tài nguyên, các nhà nghiên cứu của VN cũng đã bước
đầu nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp phức tạp hơn, phổ biến là phương
pháp Chi phí du lịch và đánh giá ngẫu nhiên. Các phương pháp này dựa trên giá trị
sẵn có hoặc xây dựng các thị trường giả định để đánh giá phúc lợi của người sử
dụng tài nguyên khi tham gia thị trường, từ đó đưa ra các khuyến nghị về chính
sách. Mở đầu bằng nghiên cứu của Nguyễn Đức Thanh và Lê Thị Hải (1999) về giá
trị du lịch của VQG Cúc Phương thông qua việc sử dụng phương pháp TCM,
phương pháp này tiếp tục được nhân rộng để định giá giá trị giải trí của các VQG,
khu bảo tồn thiên nhiên khác trong cả nước như khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Mun,
VQG Ba Bể, BQG Bạch Mã. Ngoài phương pháp TCM, phương pháp CVM cũng
được áp dụng phổ biến để xác định giá trị phi sử dụng của tài nguyên cũng như lợi
ích của việc tiến hành các chương trình bảo tồn, cải thiện chất lượng môi trường.
Gần đây, một phương pháp đánh giá mới dựa trên thị trường giả định và lựa chọn
hành vi cũng đã được thực hiện trong nghiên cứu của Đỗ Nam Thắng (2008) để xác
định giá trị của bảo tồn ĐNN của VQG Tràm Chim. Nghiên cứu của Đinh Đức
Trường (2010) đã áp dụng thử nghiệm một số phương pháp và quy trình đánh giá
tiên tiến của TG để đánh giá giá trị kinh tế tổng thể và từng phần gồm giá trị sử
dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị phi sử dụng của tài nguyên ĐNN
tại vùng cửa sông Ba Lạt, tỉnh Nam Định. Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý dựa

- Thứ hai, thay đổi cách thức nhìn nhận trong quản lý đối với bảo vệ tài
nguyên và môi trường so với trước đây giữa cách nhìn nhận quản lý truyền thống
với cách nhìn nhận quản lý mới đối với hệ sinh thái thể hiện quan bảng so sánh sau
đây.

Trích đoạn Thực trạng quản lý tài nguyên môi trường ở vùng lõi VQGXT Phát triển kinh tế biển Các loại hình dịch vụ: HST nước mặn nuôi trồng thủy sản (Đầm nuôi tôm) Đặc tính của bãi bồi ngập triều
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status