ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ HƢƠNG
XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
NHÃN HIỆU TRONG MÔI TRƢỜNG INTERNET
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
Hà Nội, 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ HƢƠNG
XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
NHÃN HIỆU TRONG MÔI TRƢỜNG INTERNET
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
MÃ SỐ: THÍ ĐIỂM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Nhƣ Quỳnh
trƣờng Internet .............................................................................................. 20
1.4.1. Khái niệm xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn hiệu
trong môi trường Internet ............................................................................... 20
1.4.2. Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với
Nhãn hiệu trong môi trường Internet .............................................................. 22
1.4.3. Các dạng hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với Nhãn
hiệu trong môi trường Internet........................................................................ 26
1.4.4 Phân biệt giữa hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp đối với
Nhãn hiệu trong môi trường Internet với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
liên quan đến tên miền .................................................................................... 30
1.5. Pháp luật một số nƣớc về xử lý xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp
đối với Nhãn hiệu trong môi trƣờng Internet............................................. 31
1.5.1. Hoa Kỳ................................................................................................... 31
1.5.2. Trung Quốc ........................................................................................... 33
1.5.3. Một số nhận định về pháp luật các quốc gia về xử lí vi phạm Sở hữu
công nghiệp đối với Nhãn hiệu trên môi trường Internet ............................... 35
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 35
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TRONG MÔI TRƢỜNG
INTERNET TẠI VIỆT NAM ...................................................................... 37
2.1. Quy định của pháp luật về xử lý xâm phạm quyền SHCN đối với NH
trong môi trƣờng Internet tại Việt Nam ..................................................... 37
2.2. Một số vụ việc cụ thể về xử lý xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp
đối với Nhãn hiệu trong môi trƣờng Internet tại Việt Nam...................... 53
2.3 Nhận xét về thực trạng xử lý xâm phạm quyền SHCN đối với NH
trong môi trƣờng Internet tại Việt Nam ..................................................... 60
Kết luận chƣơng 2 ......................................................................................... 63
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ
Sở hữu công nghiệp
SHCN
Sở hữu trí tuệ
SHTT
Nhãn hiệu
Thương mại điện tử
NH
TMĐT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tại Việt Nam trong những năm gần đây tình trạng xâm phạm quyền SHTT đã
trở thành vấn đề “ nổi cộm”; trong đó có hành vi xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu trong môi trường Internet. Xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong môi trường Internet là hành vi
của cá nhân hoặc tổ chức sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với NH đang
được bảo hộ gắn lên hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ đưa lên các trang kinh
doanh trực tuyến (online); đây là hành vi xâm phạm mới xuất hiện trong
những năm gần đây. Với tốc độ phát triển nhanh chóng của Internet mà các
hình thức xâm phạm NH trong môi trường Internet cũng ngày càng đa dạng
và diễn biến phức tạp hơn. So với các phương tiện truyền thông khác, Internet
ra đời sau nhưng có tốc độ phát triển mạnh mẽ với độ bao phủ phạm vi toàn
cầu. Ngày nay, Internet và những công cụ trên Internet như hoạt động kinh
biệt chú trọng khâu quảng cáo, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của mình thông
qua nhiều cách thức truyền tải trên mạng Internet. Tuy nhiên, cũng chính vì
vậy mà ngay từ khi thương mại điện tử và các hoạt động kinh doanh trên
Internet trở nên phổ biến thì NH trở thành đối tượng bị xâm phạm nhiều.
Thực tế này đòi hỏi chủ thể quyền và các cơ quan quản lý phải đặt ra những
phương thức bảo vệ hiệu quả để đảm bảo quyền lợi của chủ sở hữu NH và
người tiêu dùng.
Hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam tuy đã có các quy định để xử lí
hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với NH nhưng còn nhiều điểm chưa phù
hợp với thực tế do hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với NH trong môi
trường Internet diễn ra sau khi đã ban hành các quy định về xử lý xâm phạm
quyền SHCN đối với NH , một số quy định chưa mang tính dự báo, chưa
được hướng dẫn cụ thể dẫn đến khó thực hiện trong thực tiễn. Bên cạnh đó,
nhận thức về quyền SHCN và xâm phạm quyền SHCN đối với NH hiện nay
của đa số chủ thể sở hữu Nhãn hiệu còn chưa được chú trọng; người tiêu dùng
chưa quan tâm hành vi xâm phạm quyền SHCH đối với Nhãn hiệu trong môi
trường Internet; Trên Thế giới, xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
NH trong môi trường Internet đã được một số quốc gia như Mỹ và Trung
Quốc xử lý; tại Việt Nam, nghiên cứu về xử lý xâm phạm quyền SHCN đối
2
với NH trong môi trường Internet mới dừng lại ở một số bài báo hoặc hội
nghị, chưa có đề tài cụ thể nào nghiên cứu về xử lý xâm phạm quyền SHCN
đối với NH trong môi trường Internet.
Dựa trên tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền SHCN đối với NH
trong môi trường Internet, tác giả lựa chọn, nghiên cứu đề tài “Xử lý xâm
phạm quyền Sở hữu Công nghiệp đối với Nhãn hiệu trong môi trường
Internet” nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lí xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với NH trong môi trường Internet, từ đó
Nguyễn
Thanh
Hà
đãng
trên
website
baohothuonghieu.com; bài viết “Thực trạng về bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với NH bằng biện pháp hành chính và giải pháp hoàn thiện pháp
luật” của Nguyễn Thanh Quang trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật… Nhìn
chung, các nghiên cứu, bài viết kể trên mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu
một cách khái quát hoặc đề cập đến một vài khía cạnh về SHCN đối với
NH trong môi trường Internet, chưa phân tích được các hạn chế, bất cập
một cách toàn diện cũng như chưa đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm tăng
cường hiệu quả của xử lí vi phạm quyền SHCN đối với NH trong môi
trường Internet tại Việt Nam.
Các đề tài thể hiện nhiều góc độ tiếp cận khác nhau về xử lý xâm
phạm quyền SHCN đối với NH trong môi tường Internet tuy nhiên vẫn
chưa đưa ra được giải pháp cụ thể để xử lý tình trạng xâm phạm NH trong
môi trường Internet. Điểm mới của đề tài “Xử lí xâm phạm quyền SHCN đối
với NH trong môi trường Internet” là việc nghiên cứu sâu về thực trạng xử lý
xâm phạm quyền SHCN đối với NH trong môi trường Internet, từ đó đề
xuất một số giải pháp xử lý xâm phạm quyền SHCN đối với NH trong môi
trường Internet.
quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực SHCN; Nghị định số
105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật SHTT về bảo vệ quyền SHTT và quản lý nhà nước về SHTT; Nghị định
số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/8/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực SHCN; Luật Sở hữu trí tuệ; Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật
Hình sự và Luật Công nghệ thông tin.
- Tại một số nước trên thế giới, các hình thức xử lý hành vi xâm phạm
quyền SHCN đối với NH trong môi trường Internet đã được xử lý và phát huy
hiệu quả, tại Việt Nam, các hình thức xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN
đối với NH trong môi trường Internet tại Việt Nam mới chủ yếu được xử lí
bằng biện pháp hành chính, số vụ việc xử lý chưa nhiều và còn nhiều vấn đề
tồn tại.
- Bổ sung một số các quy định trong các văn bản pháp luật về xử lý
hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với NH, ban hành văn bản hướng dẫn
cách thức thực hiện xử lý xâm phạm quyền SHCN đối với NH trong môi
5
trường Inrernet, tăng chế tài xử lí xâm phạm quyền SHCN đối với NH trong
môi trường Internet, nâng cao nhận thức của các chủ thể sở hữu Nhãn hiệu và
người tiêu dùng bằng biện pháp giáo dục và truyền thông, tăng cường năng
lực cho các cơ quan thực thi và phát huy hiệu quả phối hợp của các cơ quan
có liên quan trong xử lí xâm phạm quyền SHCN đối với NH trong môi trường
Internet sẽ là một số giải pháp quan trọng trong xử lý xâm phạm quyền SHCN
đối với NH trong môi trường Internet.
8. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về xử lý xâm
phạm quyền SHCN đối với NH trong môi trường Internet, thực trạng xâm
phạm và xử lý xâm phạm quyền SHCN đối với NH trong môi trường Internet
tại Việt Nam.
đối với Nhãn hiệu trong môi trường Internet.
Chƣơng 2: Thực trạng xử lí xâm phạm quyền Sở hữu Công nghiệp Sở hữu
Công nghiệp đối với Nhãn hiệu trong môi trường Internet tại Việt Nam.
Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lí xâm phạm quyền
Sở hữu Công nghiệp Sở hữu Công đối với Nhãn hiệu trong môi trường
Internet.
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU TRONG MÔI TRƢỜNG INTERNET
1.1. Quyền Sở hữu Công nghiệp
1.1.1. Khái niệm quyền SHCN
Quyền SHTT có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế của mỗi
quốc gia, đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay. Bởi các sản phẩm
của trí tuệ, đặc biệt là sản phẩm của khoa học, công nghệ không chỉ là sản
phẩm của sáng tạo mà còn là công cụ để nâng cao năng suất lao động, thúc
đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội. Cũng vì có vai trò quan trọng như vậy mà
quyền SHTT nói chung và quyền SHCN nói riêng cần phải được bảo đảm
thực hiện và bảo vệ bằng công cụ quản lí nhà nước hữu hiệu, quyền lực của
nhà nước là pháp luật.
Theo phương diện khách quan, quyền SHCN là một chế định pháp luật
bao gồm bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá
trình sáng tạo, sử dụng và định đoạt các tài sản do lao động trí tuệ tạo ra và
được pháp luật coi là đối tượng SHCN. Các quy phạm pháp luật điều chỉnh
quyền SHCN không chỉ nằm trong pháp luật chuyên ngành về SHTT mà còn
được quy định tại nhiều văn bản chuyên ngành khác có liên quan trong pháp
tạo của mình, bao gồm quyền được đứng tên tác giả trong văn bằng bảo hộ do
nhà nước cấp, trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.
- Quyền tài sản đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí
mạch tích hợp bán dẫn thuộc về chủ sở hữu các đối tượng đó, bao gồm quyền
sử dụng, cho phép hoặc cấm người khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.
- Quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh thuộc về tổ chức, cá nhân có
được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh một cách hợp pháp và thực hiện
việc bảo mật thông tin đó, bao gồm: Khai thác, sử dụng bí mật kinh doanh;
cho phép hoặc cấm người khác tiếp cận, sử dụng, tiết lộ bí mật kinh doanh.
9
- Quyền SHCN đối với NH, tên thương mại thuộc về chủ sở hữu NH,
tên thương mại đó, bao gồm: Sử dụng NH, tên thương mại trong kinh doanh;
cho phép hoặc cấm người khác sử dụng NH trùng hoặc tương tự đến mức gây
nhầm lẫn với NH của mình; cấm người khác sử dụng tên thương mại gây
nhầm lẫn với hoạt động kinh doanh của mình.
- Quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý thuộc về nhà nước. Quyền sử dụng chỉ
dẫn địa lý nhằm chỉ dẫn xuất xứ, nguồn gốc của sản phẩm thuộc về tổ chức,
cá nhân đáp ứng các điều kiện do pháp luật về sở hữu trí tuệ quy định.
Như vậy, theo tác giả có thể đưa ra khái niệm về quyền SHCN như
sau:
Quyền SHCN là tập hợp quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, NH, tên thương
mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.
Quyền SHCN được pháp luật bảo hộ bao gồm quyền nhân thân, quyền tài
sản, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố
trí mạch tích hợp bán dẫn, giấy chứng nhận đăng ký NH, giấy chứng nhận đăng
ký chỉ dẫn địa lý được cấp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng
bảo hộ SHCN là Cục Sở hữu trí tuệ thuộc Bộ Khoa học – công nghệ. Ngoại lệ
có một số đối tượng SHCN không phải tiến hành thủ nộp đơn đăng kí mà vẫn
được bảo hộ tại nước sở tại gồm nhãn hiệu nổi tiếng, tên thương mại, bí mật
kinh doanh. Các đối tượng này chỉ cần thực hiện thủ tục công nhận của cơ quan
quản lí có thẩm quyền. [28]
- Về nguyên tắc, quyền SHCN được bảo hộ có thời hạn.
Đối tượng SHCN luôn gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh, có vai
trò kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động, phát triển kinh doanh hiệu
quả. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn vận động, phát triển
không ngừng đòi hỏi con người phải tăng năng suất lao động, giảm giá thành
sản phẩm, dịch vụ để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Con người luôn làm
chủ được công nghệ, không ngừng sáng tạo, tìm tòi, cải tiến công nghệ,
phương thức để phục vụ sản xuất, kinh doanh. Do đó, nhiều sáng chế, phát
minh phù hợp với giai đoạn phát triển này nhưng sẽ nhanh chóng lạc hậu
trong tương lai. Việc quy định thời hạn bảo hộ đối với quyền SHCN là tất yếu
11
nhằm khuyến khích sự sáng tạo của nhiều người, của thế hệ sau để phục vụ
lợi ích của con người. Do đó, về nguyên tắc, khác với quyền tác giả được bảo
hộ vô thời hạn, quyền SHCN chỉ được xác lập và bảo hộ trong thời hạn được
xác định trên văn bằng bảo hộ đối với đối tượng SHCN đó. Tuy nhiên, một số
đối tượng SHCN được bảo hộ vô thời hạn gồm bí mật kinh doanh, tên thương
mại [28]
1.2. Tổng quan Nhãn hiệu
1.2.1. Khái niệm Nhãn hiệu
NH là một trong những đối tượng được bảo hộ quyền SHCN. Pháp
Việt Nam quy định về điều kiện NH được bảo hộ hẹp hơn với quy
định của TRIPS khi liệt kê các dấu hiệu của NH được bảo hộ và điều kiện về
“khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu NH với hàng hóa, dịch
vụ của chủ thể khác”. Pháp luật Việt Nam quy định các dấu hiệu đó là:
- Dấu hiệu phải nhìn thấy được.
- Được thể hiện dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả
hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó.
Các dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa NH là: Dấu hiệu trùng
hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy của các
nước; biểu tượng, cờ, huy hiệu, tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Việt Nam và tổ chức
quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép; tên thật, biệt hiệu, bút
danh, hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của
nước ngoài; dấu chứng nhận, dấu kiểm tra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế
mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng; dấu hiệu làm hiểu sai lệch,
gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ,
tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính khác của hàng hóa,
dịch vụ. Hiện nay pháp luật Việt Nam mới chỉ quy định bảo hộ đối với các
NH có dấu hiệu mang tính định hình, định lượng (dấu hiệu nhìn thấy được)
được mà chưa bảo hộ đối với các dấu hiệu mang tính chất định tính, vô hình
như mùi hay âm thanh, cách trình bày sản phẩm như một vài quốc gia, khu
vực khác trên thế giới như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu
13
- Các dấu hiệu được thể hiện bằng màu sắc. Pháp luật một số quốc gia
như Liên minh Châu Âu coi màu sắc (bao gồm đơn màu và đa màu) cũng là
một dấu hiệu của NH hàng hóa được bảo hộ. Pháp luật về SHCN của Việt
Nam chỉ mới dừng lại ở việc thừa nhận màu sắc (đa màu) là phương thức biểu
với mình. Đối với những doanh nghiệp thương mại điện tử thì NH đóng vai
trò rất quan trọng, bởi lẽ đặc thù của Internet là tạo ra thị trường toàn cầu,
hàng hóa kinh doanh trong môi trường Internet thể hiện chủ yếu dưới dạng
hình ảnh, qua đó người tiêu dùng có thể nhận biết được những địa chỉ tin cậy
và lựa chọn được sản phẩm tốt nhất cho mình, còn các chủ thể kinh doanh thì
đặc biệt chú trọng khâu quảng bá, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của mình
thông qua nhiều cách thức truyền tải trên mạng Internet
1.2.2.2. Chức năng thông tin và chỉ dẫn
NH mang chức năng chỉ dẫn, thông qua NH mà người sử dụng biết
được thông tin của nhà cung cấp hoặc chỉ cần nhìn nhãn hiệu quen thuộc
người tiêu dùng cũng có thể nhận biết được công dụng, giá trị sử dụng, đặc
tính… của hàng hóa. Người tiêu dùng không cần phải đọc hết các thông tin
khác nhau (in trên hàng hóa) để biết nguồn gốc của nhà sản xuất và các đặc
tính của hàng hóa mà qua nhận biết nhãn hiệu, họ sẽ liên tưởng đến những
thông tin gắn với nhãn hiệu đó trong tiềm thức, đặc biệt là đối với các nhãn
hiệu đã phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Chỉ cần thông qua hình ảnh về NH
được đưa lên Internet, người sử dụng dễ dàng biết được nguồn gốc, xuất xử
của sản phẩm.
Chính chức năng thông tin, chỉ dẫn của NH mà doanh nghiệp, nhà sản
xuất hàng hóa, dịch vụ càng cần tập trung vào gìn giữ và phát triển sản phẩm
hàng hóa, dịch vụ của mình nhằm tạo lập niềm tin của người tiêu dùng, từ đó
có thể phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh của chính mình nhằm cạnh
tranh lành mạnh trên thị trường. [2]
1.2.2.3 Chức năng quảng cáo, tiếp thị
Một trong những mục tiêu hướng tới của bất kỳ nhà sản xuất, nhà cung
cấp dịch vụ khi đưa NH ra thị trường là tạo lòng tin của người tiêu dùng. Một
sản phẩm mới trên thị trường nếu không có tên tuổi thường tiêu thụ chậm và
rất khó tạo lòng tin tứ phía người tiêu dùng so với NH đã tồn tại. Tuy nhiên,
với các NH đã đứng vững trên thị trường và có giá trị thì tự nó gián tiếp thực
15
ngày nay[29].
16
Thuật ngữ “Internet” chính là sự kết hợp giữa 2 từ Interconnected (liên
kết với nhau) và networks (mạng lưới các mạng). Hiểu một cách đơn giản,
Internet chính là một hệ thống thông tin toàn cầu được hình thành từ sự liên
kết các mạng nhỏ hơn, kết nối hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua cơ
sở hạ tầng viễn thông. Hệ thống này truyền thông theo kiểu nối chuyền gói dữ
liệu (Packet Switching) và dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn
hóa[13].
1.3.1.2. Chức năng của Internet
Xét về phương diện xã hội, Internet có các chức năng sau:
* Chức năng chứa đựng, thu thập và cung cấp thông tin
Với việc tiếp nhận các gói dữ liệu thông qua máy chủ, kết nối các mạng
với nhau nên Internet và khả năng lưu giữ thông tin, Internet là ngân hàng
thông tin khổng lồ, chứa đựng, ghi nhớ thông tin của nhiều lĩnh vực trong đời
sống xã hội. Chỉ cần sử dụng các phần mềm hoặc công cụ tìm kiếm, người sử
dụng có thể tìm kiếm hầu như mọi thông tin trong tất cả các lĩnh vực trong
nước và quốc tế, tin tức mới và cả tin tức cũ, từ tìm kiếm thông tin, mua bán
hàng hóa, cung cấp dịch vụ... Internet còn kết nối với các ứng dụng công nghệ
tiên tiến nhằm phục vụ mục đích sử dụng. Chính chức năng này mà Internet
đóng vai trò không thể thiếu trong đời sống ngày nay. [32]
* Chức năng tạo ra sự tương tác
Internet không giống như các phương tiện truyền đạt truyền thống,
thường chỉ mang tính chủ quan từ một phía. Chính sự kết nối không giới hạn
về phạm vi về không gian mà nó đảm nhận vai trò là kênh truyền đạt, trao đổi
thông tin, hợp tác, giao lưu… giữa mọi cá nhân, tổ chức và quốc gia trên khắp
hành tinh.. Với việc hình thành các trang web trực tuyến, diễn đàn, trang xã
- Dưới góc độ số hóa, thương mại điện tử là việc thực hiện quá trình
mua và bán được thực hiện dưới nhiều hình thức phụ thuộc vào mức độ số
hóa của hàng hóa/dịch vụ đó.
- Dưới góc độ lĩnh vực kinh doanh, thương mại điện tử là một loại hình
kinh doanh không phụ thuộc vào giới hạn về vị trí địa lí, có độ phủ trên phạm
vi toàn cầu dựa trên cơ sở ứng dụng công nghệ để tự động hóa các giao dịch
kinh doanh và dòng chu chuyển sản phẩm/dịch vụ.
18
- Dưới góc độ viễn thông, thương mại điện tử là việc chuyển giao thông
tin, sản phẩm hay dịch vụ hoặc thanh toán và các dịch vụ trực tuyến thông
qua các phương tiện điện tử.
Trong Giáo trình Thương mại điện tử căn bản, tác giả Trần Văn Hòe đã
đưa ra khái niệm thương mại điện tử như sau:
Thương mại điện tử là khái niệm dùng để chỉ quá trình ứng dụng công
nghệ số hóa nhằm cắt giảm chi phí, tăng lợi thế cạnh tranh trong mua, bán, trao
đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin trên phạm vi toàn cầu thông qua các phương
tiện điện tử.[13]
1.3.2.2. Chức năng của thương mại điện tử
Có thể khẳng định rằng, thương mại điện tử là một trong những đổi mới
mang tính toàn cầu và mang lại nhiều lợi ích cho nhiều phía, từ tổ chức, người
tiêu dùng và lợi ích cho xã hội. Lợi ích đó xuất phát từ các chức năng của
thương mại điện tử, thể hiện ở các phương diện sau:
- Thương mại điện tử tạo ra kênh phân phối mới cho sản phẩm. Không
giống như phương tiện thương mại truyền thống là hoạt động mua - bán được
thực hiện trực tiếp, người mua và người bán phải gặp nhau, có sự thỏa thuận
mua-bán trực tiếp, trả tiền và giao hàng/người mua mang hàng hóa về nhà.
Thương mại điện tử ngoài việc sử dụng phương tiện truyền thống là mua bán trực tiếp còn được thực hiện bằng các phương tiện giao tiếp khác như
điện thoại, Internet, intranet, do đó, các kênh phân phối mới sản phẩm được