Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu theo pháp luật dân sự việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ PHA

HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ PHA

HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số

: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Quế Anh


tượng khác

7

1.1.2. Phân loại nhãn hiệu

16

1.1.3. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu

20

1.1.4. Phân loại hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu

29

Phân biệt hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với nhãn hiệu với các hành vi vi phạm pháp luật khác

33

1.2.1. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại

33

1.2.2. Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý

47

2.2.

Phương thức xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu

55

2.2.1. Đối tượng bị xâm phạm

56

2.2.2. Yếu tố xâm phạm

57

2.2.3. Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm

65

2.2.4. Địa điểm thực hiện hành vi xâm phạm

66

2.3.

Tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu gây ra



Thực trạng và tác động của hành vi xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp đối với nhãn hiệu

3.1.1. Thực trạng hành vi xâm phạm

84
84


3.1.2. Tác động của hành vi xâm phạm

94

Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

106

3.2.1. Phương hướng hoàn thiện các quy định về hành vi xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

106

3.2.2. Phương hướng hoàn thiện các quy định về bảo vệ quyền sở
hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu

108

3.2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xâm phạm

Trang

2.1

Đơn khiếu nại về xâm phạm nhãn hiệu trong tổng số đơn
khiếu nại về xâm phạm quyền SHCN từ năm 1995-2007
tại Cục SHTT

85

2.2

Số vụ xâm phạm quyền SHCN do Thanh tra Bộ Khoa
học và Công nghệ xử phạt vi phạm hành chính từ năm
1999-2002

86

2.3

Đơn đề nghị cơ quan hải quan phối hợp phát hiện, xử lý
hàng hóa có dấu hiệu xâm phạm nhãn hiệu

87


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu
biểu đồ

này gây thiệt hại nhiều mặt cho Nhà nước và xã hội. Ở Việt Nam, xâm phạm
nhãn hiệu đang ngày càng mở rộng về phạm vi, tăng lên về quy mô, số lượng
và phức tạp, tinh vi về tính chất.
Trong khi đó, pháp luật điều chỉnh hành vi xâm phạm quyền SHCN
đối với với nhãn hiệu còn nhiều hạn chế như điều chỉnh muộn, không rõ ràng
và kém hiệu quả. Mãi đến năm 1982, văn bản pháp luật đầu tiên quy định
đúng bản chất của hành vi xâm phạm nhãn hiệu mới được ban hành. Sau đó,
đã có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hành vi này nhưng nhìn chung vẫn
còn nhiều hạn chế. Ngay cả các văn bản hiện hành quy định về hành vi này
như Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi, bổ
sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm
2009 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT 2005) và các văn bản hướng dẫn thi hành


cũng chưa hình thành nên một hệ thống pháp luật điều chỉnh hành vi xâm
phạm nhãn hiệu hiệu quả.
Trong khi đó, hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu là
một đề tài mới và khó nên có rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu, các
chuyên gia hay cơ chế tham vấn chính thức để có thể sử dụng là nguồn tham
khảo cho việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
Vì vậy, các chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng và các cơ quan thực
thi mất đi cơ hội có được công cụ pháp lý hiệu quả để bảo vệ nhãn hiệu, các
quyền và lợi ích hợp pháp của mình và đấu tranh phòng, chống các hành vi
xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu.
Dựa trên các cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, với mong muốn tìm hiểu
bản chất pháp lý và thực trạng hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn
hiệu nhằm tìm ra các giải pháp thích hợp giúp cho việc hoàn thiện pháp luật
về xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu, tác giả đã lựa chọn đề tài này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu là một đề tài mới nên có

điều ước quốc tế, pháp luật các nước và nghiên cứu thực trạng của hành vi
xâm phạm nhãn hiệu, luận văn có các điểm mới sau:
- Luận văn phân tích một cách khoa học hệ thống khái niệm về hành
vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam;
- Luận văn so sánh những quy định của các điều ước quốc tế và pháp
luật của các nước nhằm mục đích làm rõ bản chất pháp lý của hành vi xâm
phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam;
- Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật
hiện hành về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu và hiện trạng
xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu;


- Luận văn đã đưa ra được một số phương hướng hoàn thiện pháp luật
về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.
Chương 3: Thực trạng hành vi xâm phạm và phương hướng hoàn thiện
pháp luật về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu.


Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÀNH VI XÂM PHẠM
QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI NHÃN HIỆU

1.1. Khái niệm nhãn hiệu và hành vi xâm phạm quyền sở hữu

Tên thương mại và Cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển năm
1967 cũng là cách tiếp cận phổ biến trên thế giới và ưu việt hơn các cách tiếp
cận trên. Nguyên nhân là mặc dù chức năng nguồn gốc và chức năng phân
biệt có sự gắn bó chặt chẽ, nhưng trong tương quan so sánh với chức năng
nguồn gốc, chức năng phân biệt là chức năng chính, dễ nhận biết, tiếp cận, ghi
nhớ hơn và quan trọng hơn vì nó gắn bó chặt chẽ với việc phân biệt hàng hoá
thông qua việc nhãn hiệu được sử dụng trên thực tế.
Khoản 1, Điều 15, Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương
mại của quyền SHTT (TRIPS) quy định:
Bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch
vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá, dịch vụ của các doanh
nghiệp khác đều có thể làm nhãn hiệu... Các dấu hiệu phải có khả
năng được đăng ký là nhãn hiệu. Trường hợp bản thân các dấu
hiệu không có khả năng phân biệt, các Thành viên có thể quy định
khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được
thông qua việc sử dụng... Các Thành viên có thể quy định điều kiện
để được đăng ký là nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được [79].
Đây là khái niệm rất rộng. Nhãn hiệu theo quy định trên bao gồm nhãn
hiệu hàng hoá và dịch vụ, không giới hạn ở nhãn hiệu được nhìn thấy mà có thể
cả các nhãn hiệu được cảm nhận thông qua các giác quan khác miễn là nó "có
khả năng phân biệt" và "có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu". Chức năng


phân biệt của nhãn hiệu của nhãn hiệu có thể đạt được từ chính bản thân dấu
hiệu cấu thành nhãn hiệu hoặc đạt được qua quá trình sử dụng.
Khoản 1, Điều 6, Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 2001 về quan hệ thương mại
(BTA) định nghĩa:
Nhãn hiệu được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết
hợp bất kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch

nhận biết nguồn gốc sản phẩm. Trong trường hợp ấy, nhãn hiệu có thể được
tiếp tục đăng ký vào sổ đăng bạ chính (principal register) áp dụng với các
nhãn hiệu đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ. Về các loại nhãn hiệu không trực tiếp
"nhìn thấy được" bằng mắt thường, mặc dù không trực tiếp đề cập trong khái
niệm trên nhưng vẫn được pháp luật Hoa Kỳ thừa nhận và USPTO thực tế đã
cấp rất nhiều nhãn hiệu đăng ký cho các nhãn hiệu âm thanh và mùi vị. Hoa
Kỳ là nước đầu tiên cấp đăng ký cho nhãn hiệu mùi vị là nhãn hiệu mùi thơm
tươi mát của Plumeria dùng cho chỉ may và thêu ren vào năm 1990 [62].
Philip Kotler, chuyên gia marketting hàng đầu thế giới, tương tự như
vậy cũng cho rằng: "Nhãn hiệu là tên, thuật ngữ, dấu hiệu, biểu tượng, hình
vẽ hay sự phối hợp giữa chúng, có công dụng dùng để xác nhận hàng hoá,
dịch vụ của người bán và phân biệt chúng với các hàng hoá, dịch vụ của các
đối thủ cạnh tranh" [12].
Như vậy, đa số các khái niệm hiện đại trên đều đề thể hiện ba nội
dung: về thuật ngữ, nhãn hiệu theo nghĩa rộng bao gồm cả nhãn hiệu hàng hoá
và nhãn hiệu dịch vụ; về chức năng, nhãn hiệu có cả chức năng nguồn gốc và
chức năng phân biệt trong đó chức năng phân biệt là cơ bản; về dấu hiệu,
nhãn hiệu có thể gồm các dấu hiệu hình, chữ hoặc kết hợp giữa chúng ở dạng
hai hoặc ba chiều.
Đối với pháp luật Việt Nam, khái niệm nhãn hiệu cũng có sự thay đổi
qua các thời kỳ.


Giai đoạn trước năm 1975, Dụ số 5 ngày 01/4/1952 về nhãn hiệu của
chính quyền Bảo Đại quy định về "nhãn hiệu" hay "thương hiệu" dùng cho
sản phẩm hay thương phẩm, Luật số 13/57 ngày 01/8/1957 của Nghị viện
Việt Nam Cộng Hoà về nhãn hiệu sản xuất và thương hiệu quy định "nhãn
hiệu sản xuất" dùng cho các sản phẩm kỹ nghệ hoặc canh nông, Nghị định
số 175/TTg của Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
ngày 03/04/1958 về thể lệ nhãn hiệu thương phẩm quy định về "nhãn hiệu

đây tác giả chỉ phân biệt nhãn hiệu với một số đối tượng có nhiều điểm chung
nhất hay có nhiều nguy cơ nhầm lẫn nhất với nhãn hiệu là chỉ dẫn địa lý, tên
thương mại, kiểu dáng công nghiệp và tên miền.
Nhãn hiệu và tên thương mại: Khoản 21, Điều 4, Luật SHTT 2005 định
nghĩa: "Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh danh để phân biệt cá nhân, tổ chức kinh doanh mang tên gọi đó với cá
nhân, tổ chức kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh" [54].
Tên thương mại không phải là tên đầy đủ của doanh nghiệp theo đăng ký kinh
doanh mà chỉ là một phần tên doanh nghiệp ngắn gọn và có khả năng phân
biệt cao được sử dụng thường xuyên trong các giao dịch. Nhãn hiệu và tên
thương mại thường bị nhầm lẫn với nhau vì đa số các tên thương mại được sử
dụng để đăng ký làm nhãn hiệu chính dạng chữ của các doanh nghiệp. Tuy
nhiên, về hình thức, nhãn hiệu tồn tại ở rất nhiều dạng dấu hiệu còn tên
thương mại chỉ có ở dạng dấu hiệu là tên gọi riêng của chủ thể kinh doanh. Về
chức năng, nhãn hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các
cá nhân, tổ chức kinh doanh còn tên thương mại dùng để phân biệt các cá
nhân, tổ chức kinh doanh với nhau, không xét đến hàng hoá, dịch vụ mà các
chủ thể này kinh doanh.
Nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý: Khoản 22, Điều 4, Luật SHTT 2005 quy
định: "Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu
vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể" [54]. Điểm giao nhau
giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý là chỉ dẫn địa lý có thể được sử dụng để đăng


ký nhãn hiệu dạng chữ. Tuy nhiên, về mặt hình thức, nhãn hiệu có thể là dấu
hiệu chữ, hình hoặc kết hợp cả hai ở dạng hai hoặc ba chiều còn chỉ dẫn chỉ là
các dấu hiệu chữ, chủ yếu là tên địa danh. Về chức năng, nhãn hiệu dùng để
phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các chủ thể khác nhau, trong khi chỉ
dẫn địa lý dùng để phân biệt hàng hoá cùng loại của các khu vực, địa phương,
vùng lãnh thổ hay quốc gia khác nhau. Sự phân biệt hàng hóa của nhãn hiệu

là tên miền cấp thấp nhất là tên của tổ chức, cá nhân hoặc là tên do họ đặt và
phần còn lại là một hoặc nhiều cấp phía trên của tên miền như tên miền cấp
cao nhất (tên miền chung cấp cao nhất, ví dụ:.COM;.NET), tên miền quốc gia
cấp cao nhất (ví dụ của Việt Nam là.VN) và tên miền cấp 2, 3 (ví
dụ.COM.VN)… Việc sử dụng tên miền chính là một trong những cách nhằm
bảo vệ nhãn hiệu khỏi bị chiếm dụng (Mục I.2.7).
Và "Dãy ký tự hoặc ký tự là nhãn hiệu hàng hóa... nằm trong cấu trúc
tên miền nếu chỉ đăng ký bảo vệ trên mạng sẽ không được bảo vệ trên thực tế
và ngược lại, nhãn hiệu hàng hóa... nếu chỉ đăng ký bảo hộ trên thực tế cũng
sẽ không được bảo vệ trên mạng nếu không đăng ký chúng trong tên miền"
(Mục II.2).
Như vậy, gây nhầm lẫn giữa hai đối tượng này chính là phần "ký tự"
là tên của tổ chức, cá nhân hoặc là tên do họ đặt có thể đăng ký làm nhãn hiệu
chữ và ngược lại. Thêm nữa, mặc dù không thuộc vào tên miền nhưng các
"icon" (biểu tượng) của chủ sở hữu luôn được sử dụng kèm theo tên miền
(đứng ở phía trước) thông thường là các nhãn hiệu màu dưới dạng ba chiều.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng không có cơ chế "bảo hộ kép" về việc dấu hiện
được đăng ký làm tên miền cũng có thể được bảo hộ là nhãn hiệu và ngược
lại. Tuy nhiên, về hình thức, tên miền chỉ giới hạn ở các dấu hiệu dạng chữ
(các chữ cái và con số) ở dạng hai chiều trong khi nhãn hiệu bao gồm rất
nhiều các dấu hiệu chữ, hình, kết hợp giữa chúng ở cả dạng ba chiều. Về chức
năng, tên miền dùng để định danh địa chỉ internet của máy chủ còn nhãn hiệu
dùng để phân biệt sản phẩm, hàng hoá cùng loại của các chủ thể khác nhau.


1.1.2. Phân loại nhãn hiệu
Như trên đã trình bày, trên thế giới cũng như tại Việt Nam có rất nhiều
quan điểm, khái niệm khác nhau về nhãn hiệu, vì vậy cũng có rất nhiều cách
phân loại nhãn hiệu dựa trên các tiêu chí khác nhau. Với mục đích làm rõ các
nội dung cơ bản trong bản chất pháp lý của nhãn hiệu, dưới đây tác giả đưa ra

hiệu được trình bày trong không gian ba chiều (thể hiện cả chiều sâu của nhãn
hiệu). Trong thực tế, các nhãn hiệu ba chiều thường là các nhãn hiệu thể hiện
hình khối, bao bì sản phẩm, nhãn hiệu dạng nghệ thuật có bóng… Nhãn hiệu
hai chiều được coi là có phạm vi bảo hộ rộng hơn nhãn hiệu ba chiều. Người
ta chỉ đăng ký nhãn hiệu ba chiều khi loại nhãn hiệu này giúp thể hiện rõ hơn
tính phân biệt của nhãn hiệu.
- Dựa trên khả năng nhận biết nhãn hiệu, nhãn hiệu được phân chia
thành nhãn hiệu nhìn thấy được và nhãn hiệu không nhìn thấy được: Nhãn
hiệu nhìn thấy được là nhãn hiệu có thể nhận biết bằng thị giác (nhãn hiệu
dạng chữ, hình dưới dạng hai chiều hoặc ba chiều) còn nhãn hiệu không nhìn
thấy được là nhãn hiệu không thể nhận biết bằng thị giác (ví dụ nhãn hiệu mùi
vị, âm thanh). Đa số các nhãn hiệu là nhãn hiệu nhìn thấy được, có rất ít nhãn
hiệu không nhìn thấy được thừa nhận theo quy định của TRIPS và pháp luật
một số nước như Hoa Kỳ.
- Dựa trên tiêu chí màu sắc của nhãn hiệu, nhãn hiệu được phân chia
thành nhãn hiệu đen trắng và nhãn hiệu màu: Nhãn hiệu đen trắng là nhãn
hiệu có màu đen và/hoặc trắng còn nhãn hiệu màu là nhãn hiệu có các màu
sắc khác. Nhãn hiệu đen trắng là nhãn hiệu chiếm số lượng chủ yếu và có
phạm vi bảo bộ rộng nhất do đen và trắng là hai màu cơ bản.
1.1.2.2. Phân loại dựa trên số lượng chủ sở hữu nhãn hiệu
Theo tiêu chí này, nhãn hiệu được phân chia thành nhãn hiệu tập thể
và nhãn hiệu thông thường. Điều 7Bis, Công ước Paris về Bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp năm 1983 (Công ước Paris), Khoản 1, Điều 6, BTA và luật


Trích đoạn Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu với cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới nhãn hiệu Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu Hành vi xâm phạm nhãn hiệu thông thường Hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status