Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại theo luật sở hữu trí tuệ năm 2005 - Pdf 40

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

HONG MINH THY

HàNH VI XÂM PHạM QUYềN Sở HữU CÔNG NGHIệP
ĐốI VớI TÊN THƯƠNG MạI
THEO LUậT Sở HữU TRí TUệ NĂM 2005

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

HONG MINH THY

HàNH VI XÂM PHạM QUYềN Sở HữU CÔNG NGHIệP
ĐốI VớI TÊN THƯƠNG MạI
THEO LUậT Sở HữU TRí TUệ NĂM 2005

Chuyờn ngnh: Lut Dõn s v T tng dõn s
Mó s: 60 38 01 03

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH QU ANH

H NI - 2015


Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên
thƣơng mại........................................................................................ 7

1.1.1.

Khái niệm tên thương mại ................................................................. 7

1.1.2.

Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại ....... 11

1.1.3.

Nội dung quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại ......... 14

1.2.

Khái quát chung về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với tên thƣơng mại ...................................................... 20

1.2.1.

Khái niệm hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối
với tên thương mại ........................................................................... 20

1.2.2.

Các yếu tố tạo thành hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
TTM ................................................................................................. 23

2.2.

Căn cứ xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp đối với tên thƣơng mại ...................................................... 43

2.2.1.

Căn cứ xác định TTM được bảo hộ ................................................. 44

2.2.2.

Yếu tố xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với TTM ........... 47

2.2.3.

Chủ thể thực hiện hành vi ................................................................ 49

2.2.4.

Địa điểm thực hiện hành vi .............................................................. 56

Kết luận Chƣơng 2 ........................................................................................ 59
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI TÊN THƢƠNG MẠI ..................................................... 61
3.1.

Thực trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với

CTCP:

Công ty cổ phần

ĐKKD:

Đăng ký kinh doanh

ĐƯQT:

Điều ước quốc tế

KDCN:

Kiểu dáng công nghiệp

KH&CN:

Khoa học và Công nghệ

SHCN:

Sở hữu công nghiệp

SHTT:

Sở hữu trí tuệ

TNHH:


68


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường với đặc trưng cơ bản là cạnh
tranh, việc thiết lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh không còn là nhiệm
vụ của Nhà nước – với tư cách là chủ thể quản lý mà còn là nhiệm vụ của
chính các doanh nghiệp – với tư cách là chủ thể trực tiếp thực hiện các hoạt
động kinh doanh trong nền kinh tế đó. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt
ấy, để trụ vững và quan trọng hơn là phát triển, các chủ thể kinh doanh buộc
phải khẳng định được uy tín, vị thế của mình trên thị trường thông qua vô vàn
cách thức, trong đó, tiên quyết nhất là cách thức cá thể hóa hoạt động kinh
doanh của mình và một trong những công cụ pháp lý hữu hiệu nhất phục vụ
cho việc cá thể hóa hoạt động kinh doanh của các chủ thể được pháp luật quy
định chính là tên thương mại.
Có thể khẳng định: tên thương mại là dấu hiệu đầu tiên để phân biệt
giữa chủ thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác trong cùng một lĩnh
vực và khu vực kinh doanh. Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập, hoạt
động kinh doanh của các chủ thể không còn bó hẹp trong phạm vi một khu
vực, giới hạn trong phạm vi một lĩnh vực nhất định mà mở rộng ra phạm vi
liên khu vực và đa lĩnh vực kinh doanh. Điều đó đặt ra nhiều đòi hỏi, thách
thức cho doanh nghiệp, không chỉ là nỗ lực trong sự vận động tự thân của
chính doanh nghiệp mà còn trong việc đối phó, ngăn chặn những hành vi trục
lợi thông qua việc sử dụng tên tuổi của doanh nghiệp từ các đối thủ cạnh
tranh, thậm chí là từ chính bạn hàng của doanh nghiệp.
Tình trạng doanh nghiệp bị “nhái”, bị “bắt chước” tên gọi, bị lợi dụng
danh tiếng, uy tín, thương hiệu thông qua việc sử dụng các chỉ dẫn thương
mại, trong đó, điển hình là sử dụng tên thương mại gây nhầm lẫn nhằm mục



2


Không thể phủ nhận sự ra đời của đạo luật độc lập về sở hữu trí tuệ –
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm
2009, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010), trong đó quy định chế độ
pháp lý đối với các đối tượng của quyền SHTT, trong đó có tên thương mại –
là một trong những bước đột phá trong việc tạo ra công cụ pháp lý để bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp trong việc xưng danh trong
hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp
luật thực thi quyền SHTT nói chung và thực thi quyền SHCN đối với tên
thương mại nói riêng, dường như còn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế. Cùng
với sự bất cập trong nội tại pháp luật SHTT điều chỉnh tên thương mại là sự
nhập nhằng, mâu thuẫn trong các văn bản pháp luật khác cùng điều chỉnh chế
độ pháp lý đối với việc xưng danh trong quá trình hoạt động kinh doanh của
các chủ thể kinh doanh mà điển hình là: Luật Cạnh tranh (được Quốc hội
thông qua ngày 03/12/2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2005) và Luật
Doanh nghiệp (được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/07/2006). Sự chồng chéo không chỉ trong hệ thống văn bản
pháp luật mà còn tồn tại trong cách thức quản lý, cách thức phân cấp, phân
ngành quản lý của các cơ quan Nhà nước đối với tên của chủ thể kinh doanh.
Chính những bất cập đó đã phần nào tạo ra rào cản trong việc bảo vệ
quyền SHCN đối với tên thương mại của các chủ thể kinh doanh, đặc biệt là
trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại –
một trong những nội dung quan trọng của việc thực thi quyền SHCN đối với
tên thương mại; một trong những căn cứ quan trọng để áp dụng các biện pháp
xử lý hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại một cách phù
hợp, để áp dụng các biện pháp khắc phục thiệt hại về vật chất cũng như tổn

đối với tên thương mại, góp phần giải quyết tốt tình trạng xâm phạm quyền
SHCN đối với tên thương mại trên thực tế.

4


3. Đối tƣợng, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu
Bằng các phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp thu thập thông
tin, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá, luận văn tập trung
nghiên cứu về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với tên thương mại ở
Việt Nam đặt trong tương quan các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, đồng thời, có sự liên hệ, đối chiếu với quy định của một số ngành luật
khác cùng điều chỉnh về hành vi xâm phạm đối với tên của chủ thể kinh
doanh, bên cạnh đó, có sự so sánh với quy định tương tự trong pháp luật của
một số quốc gia và một số Điều ước Quốc tế trong lĩnh vực này. Ngoài ra,
luận văn cũng đề cập đến thực trạng xâm phạm quyền SHCN đối với tên
thương mại ở nước ta hiện nay để thấy được mặt tích cực cũng như phát hiện
mặt hạn chế còn tồn tại. Thông qua đó, luận văn đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với
tên thương mại trong thời gian tới.
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Vấn đề thực thi quyền SHTT, nhìn chung, là một vấn đề tương đối mới
mẻ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, do đó, SHTT nói chung và quyền
SHCN nói riêng hiện nay dành được rất nhiều sự quân tâm của nhiều nhà
nghiên cứu và các chuyên gia. Vấn đề thực thi quyền SHCN đối với tên
thương mại được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, và được thể hiện dưới
các hình thức như các bài báo, tạp chí, sách, công trình nghiên cứu khoa học,
luận văn… Tuy nhiên, số lượng các bài nghiên cứu về hành vi xâm phạm
quyền SHCN đối với tên thương mại một cách chuyên sâu và toàn diện thì
chưa có, các tác phẩm hiện nay chủ yếu tập trung vào vấn đề xác lập quyền,

Kết luận

6


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
TÊN THƢƠNG MẠI VÀ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI TÊN THƢƠNG MẠI
1.1. Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp đối với tên
thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm tên thương mại
So với các đối tượng SHTT truyền thống khác như Nhãn hiệu, Sáng
chế, KDCN, chỉ dẫn địa lý... thì TTM là đối tượng SHTT tương đối mới. Mặc
dù ra đời sau, nhưng vai trò của việc bảo hộ quyền SHCN đối với TTM cũng
quan trọng không kém so với các đối tượng SHTT khác, đặc biệt là trong nền
kinh tế thị trường hiện nay, khi sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên
thương trường trong nước và quốc tế ngày càng trở nên ngày càng khốc liệt.
Để bảo vệ sự trong sáng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời, tạo ra sự lành
mạnh trong môi trường kinh doanh – nơi mà mình là chủ thể chính, chủ sở
hữu TTM buộc phải nắm vững các vấn đề pháp lý liên quan đến TTM và biết
được các đặc quyền mà pháp luật dành cho.
Để có cái nhìn tổng quan hơn về khái niệm TTM theo quy định của
pháp luật Việt Nam, trước tiên, cần điểm qua một số khải niệm TTM theo quy
định pháp luật của một số nước trên thế giới, như sau:
- Pháp luật của Philippines: “TTM là tên để xác định hoặc phân biệt
một doanh nghiệp” [34, Đ 121.3]. Theo quy định này, TTM là tên của
doanh nghiệp được sử dụng nhằm xác định và phân biệt doanh nghiệp
mang TTM đó với các doanh nghiệp khác. Việc quy định chung chung này
dường như cho phép chủ việc xác định khả năng phân biệt TTM của doanh

hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.
- TTM được doanh nghiệp sử dụng trong các hoạt động kinh doanh

8


nhằm mục đích sinh lợi. Trong đó, hoạt động của doanh nghiệp đa dạng, phụ
thuộc vào pháp luật về hoạt động của doanh nghiệp do pháp luật quốc nội quy
định, bao gồm nhưng không giới hạn bởi: hoạt động kinh doanh, thương mại,
công nghiệp, nông nghiệp, chăn nuôi, lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, săn
bắn, câu cá, xây dựng, giao thông vận tải.
- TTM có tác dụng để xác định một chủ thể kinh doanh cụ thể và để
phân biệt doanh nghiệp mang TTM đó với các chủ thể kinh doanh khác trong
một phạm vi hoạt động nhất định. Phạm vi hoạt động của doanh nghiệp để
phát huy chức năng phân biệt của TTM rộng hay hẹp phụ thuộc hoàn toàn vào
pháp luật của từng quốc gia (ở phạm vi rộng, đó có thể là trên toàn quốc, hẹp
hơn có thể giới hạn trong một phạm vi lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề kinh
doanh, khu vực kinh doanh… cụ thể)
Theo các đặc điểm nêu trên, có thể tạm khái quát định nghĩa TTM như
sau: TTM là tên gọi của chủ thể có hoạt động kinh doanh nhằm cá biệt hóa
hoạt động kinh doanh của chủ thể đó và phân biệt chủ thể mang TTM đó với
các chủ thể kinh doanh khác trong một phạm vi kinh doanh nhất định.
Trong pháp luật Việt Nam, TTM lần đầu tiên được nhắc đến/ đề cập
đến tại Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 của Chính phủ thông qua quy
định về nhãn hiệu hàng hóa, tuy nhiên, phải đến khi Nghị định số
54/2000/NĐ-CP ra đời vào ngày 10/3/2000 thì khái niệm về TTM mới được
phác họa sơ lược trong pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam.
Đến nay, khái niệm TTM được củng cố và hoàn thiện hơn trong Luật
SHTT, như sau: “TTM là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh

TTM, tuy nhiên, để trở thành TTM, thực hiện đúng chức năng của mình,
TTM phải hội tụ đủ 2 thành phần: một là thành phần chung (có thể là yếu tố
chỉ loại hình doanh nghiệp như CTCP, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư
nhân, Ngân hàng TMCP...; hoặc có thể là lĩnh vực kinh doanh như bánh kẹo,

10


thuốc lá, bóng đèn phích nước, luật sư....) và hai là thành phần tên riêng –
đây chính là yếu tố quyết định đến tính hợp lệ, hợp pháp của một TTM,
quyết định đến khả năng được bảo hộ với tư cách là một đối tượng sở hữu
công nghiệp bởi thành phần tên riêng đó phải chứa đựng được yếu tố để
phân biệt giữa tên đó và tên của các chủ thể kinh doanh khác trong khuôn
khổ yêu cầu của pháp luật
Ví dụ: CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI HÀ là một tên thương
mại với đầy đủ các thành phần, trong đó CÔNG TY CỔ PHẦN là yếu tố chỉ
loại hình doanh nghiệp, BÁNH KẸO là yếu tố chỉ lĩnh vực kinh doanh và
HẢI HÀ là yếu tố tên riêng để phân biệt với các doanh nghiệp khác, ví dụ
CÔNG TY CỔ PHẦN BÁNH KẸO HẢI CHÂU.
Như vậy, về cơ bản, khái niệm TTM theo quy định của pháp luật Việt
Nam cũng tương thích với khái niệm về TTM của các quốc gia trên thế giới
và các ĐƯQT.
1.1.2. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại
Quyền SHCN là một bộ phận của quyền SHTT. Đây là phạm trù pháp
lý còn khá mới mẻ so với các phạm trù pháp lý truyền thống khác và nó chỉ
chính thức xuất hiện khoảng vài thế kỷ trở lại đây. Quyền SHTT nói chung và
quyền SHCN nói riêng được thừa nhận nhằm bảo hộ các thành quả sáng tạo
trí tuệ của con người. Với việc nhận được sự bảo hộ của Nhà nước, quyền
SHCN trở thành một loại quyền tài sản có giá trị lớn đối với chủ sở hữu –
những người đã sáng tạo ra hoặc đầu tư. Để bảo hộ quyền SHCN, mỗi quốc

quyền SHCN đối với TTM được xác lập một cách tùy tiện và không theo một
khuôn khổ pháp lý nào. Ngược lại, để được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước,
chủ sở hữu TTM phải sử dụng TTM một cách hợp pháp toàn diện. Tính toàn
diện trong việc sử dụng TTM của chủ sở hữu không chỉ dừng lại trong phạm
vi pháp luật SHTT – nghĩa là chủ thể kinh doanh phải lựa chọn một cái tên
đáp ứng đầy đủ điều kiện để trở thành TTM – có yếu tố phân biệt giữa chủ thể

12


mang TTM đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng một lĩnh vực và
khu vực kinh doanh. Tính toàn diện của việc sử dụng hợp pháp đó còn nằm
trong hoạt động kinh doanh của chủ thể - bị chi phối bởi các quy định của
pháp luật về dân sự (chẳng hạn: liên quan đến chế định về chủ thể kinh doanh,
chế định đại diện của pháp nhân, liên quan đến việc thực hiện các giao dịch,
hợp đồng mang tính nguyên tắc...), pháp luật về doanh nghiệp (ví dụ: liên
quan đến loại hình hoạt động của doanh nghiệp, đến cơ cấu, tổ chức tương
ứng với từng loại hình doanh nghiệp, liên quan đến việc xác lập và chấm dứt
hoạt động của doanh nghiệp...), pháp luật về kinh doanh – thương mại (liên
quan đến các loại hình hoạt động thương mại của chủ thể...) và các pháp luật
chuyên ngành khác liên quan đến lĩnh vực kinh doanh mà chủ thể kinh doanh
đó lựa chọn/ đăng ký hoạt động (luật đất đai, luật kinh doanh bất động sản,
luật các tổ chức tín dụng, luật đầu tư, luật chứng khoán...). Theo đó, một chủ
thể sử dụng một cái tên trong hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động kinh
doanh này là bất hợp pháp thì tính toàn diện của việc sử dụng tên của chủ thể
đó không được bảo toàn và có khả năng cái tên đó sẽ không được hưởng sự
bảo hộ với tư cách là đối tượng của quyền SHTT. Như vậy, việc sử dụng
TTM của chủ sở hữu phải đảm bảo tuân thủ toàn diện các quy định pháp luật,
không chỉ riêng pháp luật về SHTT mà còn cả pháp luật liên quan đến hoạt
động kinh doanh của chủ thể. Chỉ khi hoạt động kinh doanh của chủ thể là

hữu hình mang tin cụ thể. Hơn nữa, cũng như các đối tượng SHCN khác, bản
thân TTM không thể tự đem lại các tiện ích hiện hữu cho người nắm giữ nó
mà chỉ có thể đem lại các lợi ích vật chất, tinh thần cùng các lợi thế kinh
doanh, thương mại cho chủ sở hữu thông qua việc áp dụng, chuyển tải hay
đưa nó vào hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc thương mại. Do vậy, việc ghi
nhận quyền và phương thức thể hiện quyền sử dụng TTM của chủ sở hữu là
vô cùng có ý nghĩa bởi, trong hoạt động kinh doanh, ngoài việc mang lại cho
chủ sở hữu các lợi ích vật chất, các lợi thế kinh doanh, nó còn đặt ra nghĩa vụ

14


của các chủ thể khác phải tôn trọng quyền của chủ sở hữu. Vì vậy, độc quyền
sử dụng TTM của chủ sở hữu đã được pháp luật ưu tiên quy định hàng đầu,
trước tất cả những quyền khác của chủ sở hữu đối với TTM được bảo hộ.
Pháp luật Việt Nam quy định về phương thức thực hiện quyền sử dụng
TTM của chủ sở hữu đó là “hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách
dùng TTM để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh, thể hiện TTM
trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá
và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo” [27, Đ 124.6]. Theo đó, việc
sử dụng TTM của chủ sở hữu được xác định như sau: thứ nhất, về mục đích:
việc sử dụng TTM của chủ sở hữu nhằm mục đích thương mại; thứ hai, về
hành vi, bao gồm (i) hành vi dùng TTM để xưng danh trong hoạt động kinh
doanh; (ii) hành vi thể hiện TTM trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản
phẩm, hàng hóa, bao bì hàng hóa và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo.
Như vậy, trước tiên, việc sử dụng TTM của cá nhân, tổ chức sở hữu
TTM phải nhằm đảm bảo cho cá nhân, tổ chức đạt được mục đích thương
mại. Mặc dù các văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật về SHTT
nói riêng không có một giải nghĩa/ định nghĩa hay dẫn chiếu cụ thể về cụm từ
“mục đích thương mại” trong việc sử dụng TTM, tuy nhiên, từ các văn bản

kinh doanh rộng thì phạm vi độc quyền sử dụng TTM của chủ sở hữu càng
rộng, khả năng được hưởng sự bảo hộ của Nhà nước càng nhiều và ngược lại.
Như vậy, chính những lợi ích mà TTM mang lại cho chủ sở hữu của nó
mà việc ghi nhận quyền sử dụng TTM trên thực tế có ý nghĩa hết sức quan
trọng đối với chủ sở hữu TTM bởi quyền sử dụng TTM mang tính chất tuyệt
đối, là độc quyền của chủ sở hữu nên ngoài chủ sở hữu, không một ai được
thực hiện quyền sử dụng TTM. Độc quyền của chủ sở hữu TTM đồng nghĩa
với việc, chủ sở hữu TTM đối lập với không chỉ một chủ thể cụ thể mà trong
một phạm vi khu vực và lĩnh vực kinh doanh nhất định theo quy định của
pháp luật, sẽ đối lập với tất cả những người thứ ba – những người có nghĩa vụ

16


không vi phạm và không cản trở chủ sở hữu TTM thực hiện các hành vi thể
hiện quyền sử dụng TTM của mình [2].
1.1.3.2. Quyền ngăn cấm người khác sử dụng tên thương mại
Độc quyền sử dụng TTM là độc quyền của chủ sở hữu TTM, theo đó,
độc quyền sử dụng cũng mang lại cho chủ sở hữu quyền ngăn cấm người khác
sử dụng TTM của mình. Hay nói cách khác, quyền ngăn cấm người khác sử
dụng TTM là khía cạnh khác của độc quyền sử dụng TTM của chủ sở hữu
TTM bởi lẽ: về nguyên tắc, quyền sử dụng là độc quyền của chủ sở hữu TTM,
khi chủ sở hữu được độc quyền sử dụng, đồng nghĩa với bất kỳ người thứ ba
nào cũng không được quyền sử dụng TTM, nếu người thứ ba nào có hành vi
thể hiện quyền sử dụng TTM mà pháp luật đã bảo hộ cho chủ sở hữu TTM thì
đó là hành vi xâm phạm quyền của chủ sở hữu TTM, theo đó, chủ sở hữu
TTM có quyền ngăn cấm hành vi sử dụng trái phép TTM đó.
Trong pháp luật Việt Nam, quyền ngăn cấm người khác sử dụng TTM
được quy định như sau:
Chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá

Theo đó, trong một phạm vi hoạt động kinh doanh và lĩnh vực kinh
doanh mà chủ sở hữu TTM và chủ thể thứ ba cùng hoạt động kinh doanh,
quyền ngăn cấm của chủ sở hữu TTM bị hạn chế khi hành vi sử dụng của chủ
thể khác đáp ứng đồng thời các điều kiện sau:
- Tên mà chủ thể thứ ba sử dụng là tên người, dấu hiệu mô tả các đặc
tính, đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ (gồm chủng loại, số lượng, công
dụng....) – đây là từ/ cụm từ mang tính phổ biến/ thông dụng (tên của người)
hay mang ý nghĩa mô tả đặc điểm, bản chất, đặc tính vốn có của hàng hóa,
dịch vụ trong thực tế tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
mà không phải từ/ cụm từ có tính sáng tạo, đặc sắc và có thể phân biệt được.
- Việc sử dụng cái tên này của chủ thể thứ ba phải trung thực. Theo
cách hiểu thông thường, trung thực là sự ngay thẳng, thật thà, hành xử đúng

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status