ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ KIM PHƢƠNG XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP Chuyên ngành : Luật Dân sự
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Quế Anh
HÀ NỘI - 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
công nghiệp 19
1.2. Khái niệm hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu
dáng công nghiệp 27
1.3. Ý nghĩa của việc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đối với kiểu dáng công nghiệp 33
1.3.1. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp để giải quyết các vụ việc cụ thể trong công tác thực thi
quyền sở hữu công nghiệp 33
1.3.2. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp để phục vụ yêu cầu kinh doanh của doanh nghiệp 35
1.3.3. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thu hút đầu tư
nước ngoài 37
1.3.4. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp để bảo vệ các quyền dân sự cơ bản của con người 38
1.3.5. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp góp phần bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng 39
1.3.6. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp sẽ góp phần vào việc khuyến khích các hoạt động sáng tạo
40
1.3.7. Xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của người dân
41
CHƢƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÁC
ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP ĐỐI VỚI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP 42
2.1. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công
nghiệp 42
2.1.1. Hành vi sử dụng kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ trong thời hạn hiệu
lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép của chủ sở hữu. 45
3.3. Một số giải pháp hạn chế tình trạng xâm phạm và nâng cao hiệu quả xác
định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp ở nước ta hiện nay 111
3.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật 112
3.3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động ngăn ngừa, hạn chế và
xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp 120
KẾT LUẬN 126
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 128 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
SHCN: Sở hữu công nghiệp
SHTT: Sở hữu trí tuệ
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Đơn khiếu nại về xâm phạm kiểu dáng công nghiêp so
với nhãn hiệu, sáng chế và giải pháp hữu ích từ năm
1998-2010 tại Cục SHTT
89
3.2
Số liệu các vụ án tranh chấp về quyền SHTT được giải
quyết tại các Tòa Dân sự từ năm 2007-2011
95
3.3
các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Sở hữu trí tuệ (SHTT) là một
lĩnh vực còn tương đối mới ở Việt Nam. Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ
trong những năm gần đây cũng ngày càng được hoàn thiện. Với việc ban hành
Luật Sở hữu trí tuệ- luật chuyên biệt đầu tiên trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã
đánh dấu một mốc quan trọng đối với pháp luật Việt Nam. Luật Sở hữu trí tuệ
cùng với các văn bản liên quan đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, thuận
lợi, đã tương thích hơn với các quy định của pháp luật thế giới về Sở hữu trí
tuệ và đã khuyến khích các hoạt động lao động sáng tạo.
Vấn đề quyền sở hữu trí tuệ cũng ngày càng được quan tâm hơn. Tuy
nhiên, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hiện nay cũng ngày càng đa
dạng và phổ biến hơn, các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ diễn ra trên
hầu hết các lĩnh vực, ở khắp nơi và với hầu hết các đối tượng của quyền sở
hữu trí tuệ như: xâm phạm các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
(SHCN), xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, xâm phạm quyền đối với
giống cây trồng. Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được thực
hiện bằng nhiều phương pháp, thủ đoạn mới như sử dụng công nghệ cao, sử
dụng các thiết bị hiện đại… làm cho người tiêu dùng và cơ quan quản lý khó
phát hiện. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói chung và các
2
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói riêng ngày càng nguy hiểm
hơn về tính chất vi phạm, có tổ chức chặt chẽ, không chỉ diễn ra trong phạm
vi lãnh thổ Việt Nam mà còn mở rộng cả đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài.
Kiểu dáng công nghiệp là một đối tượng quan trọng trong các đối
tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Kiểu dáng công nghiệp liên quan đến
khía cạnh mỹ thuật, hình dáng bên ngoài của sản phẩm. Chính hình dáng bên
ngoài đó làm cho sản phẩm thu hút và hấp dẫn đối với người tiêu dùng và sự
hấp dẫn trực quan là yếu tố chính mà người tiêu dùng cân nhắc trong việc lựa
chọn sản phẩm khi mua sắm hàng hóa. Kiểu dáng công nghiệp cũng giúp cho
các công ty phân biệt sản phẩm của các đối tượng cạnh tranh trên thị trường
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp” làm đề tài
nghiên cứu của mình với mong muốn có cơ hội tìm hiểu, nghiên cứu những
quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, từ đó đưa ra những
kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong nước về xác định
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung cũng như hành vi
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp nói riêng
ở nước ta hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp. Nhằm hạn chế tình trạng
này, pháp luật đã có nhiều quy định liên quan đến việc xác định cũng như xử
lý đối với hành vi xâm phạm quyền ở hữu trí tuệ. Các công trình nghiên cứu
về kiểu dáng công nghiệp nói chung cũng như về việc xác định hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp nói riêng chưa
nhiều. Thời gian qua đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về quyền sở
hữu trí tuệ cũng như về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như: đề tài
nghiên cứu phó tiến sĩ luật học về “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về sở hữu
4
trí tuệ” của tác giả Lê Xuân Thảo năm 2005; đề tài “Nâng cao vai trò và năng
lực của Tòa án trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam- những
vấn đề lý luận và thực tiễn” đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Tòa án nhân dân tối
cao năm 2008; “Nâng cao vai trò của Tòa án trong việc giải quyết các tranh
chấp quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân trong tình hình mới” đề tài
nghiên cứu cấp cơ sở của Tòa án nhân dân tối cao năm 2009. Ngoài ra còn có
một số cuốn sách, bài viết trên các tạp chí với nội dung liên quan đến kiểu
dáng công nghiệp và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
kiểu dáng công nghiệp, đó là: cuốn sách “Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở
Việt Nam- Pháp luật và thực tiễn”, của tác giả Ths. Nguyễn Bá Bình, Nxb Tư
pháp, Hà Nội, năm 2005; “Xử lý vi phạm kiểu dáng công nghiệp những vấn
đề còn bỏ ngỏ”, của tác giả Vũ Yến, Trọng Yến, Văn Hải, đăng trên website:
với kiểu dáng công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam trong tương
quan với các nội dung liên quan của các Điều ước quốc tế và pháp luật một số
nước.
- Nghiên cứu thực trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, thực trạng xác định hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam
hiện nay, phát hiện những bất cập đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm
hạn chế tình trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp và nâng cao hiệu quả xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhận diện và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kiểu dáng công
nghiệp và xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu
6
dáng công nghiệp, thông qua đó thấy được vai trò quan trọng của việc xác
định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công
nghiệp.
- Phân tích những quy định của pháp luật điều chỉnh việc xác định
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
cùng với việc nêu lên thực trạng hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đối với kiểu dáng công nghiệp và thực trạng xác định hành vi xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
- Kiến nghị một số giải pháp hạn chế tình trạng xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp cũng như nâng cao hiệu quả
việc xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng
công nghiệp.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu, luận văn dựa trên cơ sở phương pháp
đã nghiên cứu nhằm đưa ra những nhận định và kết luận.
6. Ý nghĩa của Luận văn
Ngoài ý nghĩa là một công trình nghiên cứu riêng của bản thân về
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp
để hoàn thành chương trình học tập và báo cáo tốt nghiệp lớp Cao học Luật
Dân sự khóa XIV của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn có một
số điểm mới sau:
8
- Luận văn đã phân tích một cách có hệ thống khái niệm hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
- Luận văn đã so sánh những quy định trong các Điều ước quốc tế và
pháp luật của các nước nhằm mục đích làm rõ bản chất pháp lý của hành vi
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
- Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp
luật hiện hành về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu
dáng công nghiệp và hiện trạng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với
kiểu dáng công nghiệp và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
đối với kiểu dáng công nghiệp.
- Luận văn đã đưa ra một số nguyên nhân của tình trạng gia tăng hành
vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp; trên
cơ sở đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận;
Luận văn được bố cục làm ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về kiểu dáng công nghiệp và hành vi xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam về xác định hành
vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với kiểu dáng công nghiệp.
ở không gian 3 chiều. Kiểu dáng công nghiệp được xác định bởi tính chất
trang trí hay thẩm mỹ của nó. Đây là một định nghĩa mở, định nghĩa này cho
phép hiểu về kiểu dáng công nghiệp rất rộng.
10
Từ điển Wikipedia định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp như sau:
Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm,
được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp
những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế
tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.[70]
Theo định nghĩa này, từ điển Wikipedia cũng đã phân tích các yếu tố
của kiểu dáng công nghiệp như sau: Thứ nhất, hình dáng bên ngoài của sản
phẩm là phần sản phẩm có thể nhận biết được bằng các giác quan (chủ yếu là
mắt) trước khi kiểm nghiệm sản phẩm; Thứ hai, tính mới; Thứ ba, kiểu dáng
công nghiệp phải có tính khả thi trong việc làm mẫu để chế tạo hàng loạt bằng
công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.
Theo pháp luật Mỹ, kiểu dáng công nghiệp được định nghĩa:
Kiểu dáng bao gồm các đặc tính trang trí được thể hiện hay áp dụng
trong một sản phẩm. Vì kiểu dáng được thể hiện ở hình dáng bên ngoài nên
đối tượng bảo hộ kiểu dáng có thể là hình dạng của một sản phẩm, là trang
trí mặt ngoài của một sản phẩm, hay là sự kết hợp giữa hình dáng và trang trí
bề ngoài. Một kiểu dáng trang trí bề ngoài không thể tách rời sản phẩm mà
nó trang trí và do vậy không thể tự thân tồn tại một mình được. [62, tr.5]
Theo đó, đặc tính trang trí của kiểu dáng công nghiệp được nhấn
mạnh ngay từ đầu, định nghĩa này cũng đặt ra yêu cầu kiểu dáng công nghiệp
phải luôn gắn liền với sản phẩm.
Liên Minh châu Âu định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp như sau:
“Kiểu dáng là hình dạng bên ngoài của một sản phẩm hay một số bộ phận
của sản phẩm. Kiểu dáng có thể được cấu thành từ các đường nét, màu, hình,
bố cục hay trang trí”[63]. Theo đó, kiểu dáng công nghiệp chỉ là biểu hiện
tố thể hiện ở bên ngoài của sản phẩm mà có thể cảm nhận được bằng mắt thường
khi quan sát sản phẩm để phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các
12
sản phẩm đó. Vì kiểu dáng công nghiệp bắt buộc là hình dáng bên ngoài của
sản phẩm và mang đặc tính mỹ thuật, vì vậy, hình dáng của sản phẩm không
nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sẽ không được bảo hộ. Hình dáng bên
trong của sản phẩm là phần không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sẽ
không được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.
Tuy định nghĩa về Kiểu dáng công nghiệp theo pháp luật mỗi nước
còn một vài chỗ chưa thực sự đồng nhất, nhưng về cơ bản các định nghĩa
được viện dẫn đều đã thống nhất được với nhau như thế nào là một kiểu dáng
công nghiệp. Định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp của Việt Nam là khá
tương đồng với pháp luật một số nước trên thế giới.
Từ các khái niệm trên, tác giả đưa ra khái niệm kiểu dáng công nghiệp
như sau: kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được
thể hiện trên không gian hai chiều hoặc ba chiều và được thể hiện bằng hình
khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. Trong đó dấu
hiệu là hình dáng bên ngoài của sản phẩm là yếu tố giúp phân biệt kiểu dáng
công nghiệp với các đối tượng SHCN khác.
Một số hình ảnh ví dụ về kiểu dáng công nghiệp [34]: Kiểu dáng công nghiệp của chiếc
ghế và bình đựng chất lỏng
Kiểu dáng công nghiệp khác nhau
của ô tô
13
hoặc hình dáng các sản phẩm, công trình đã nổi tiếng hoặc được biết đến rộng
rãi ở Việt Nam và thế giới, không có sự cách điệu đủ mức cũng không được
coi là có tính sáng tạo.
- Kiểu dáng công nghiệp là biểu hiện bên ngoài của một sản phẩm
Kiểu dáng công nghiệp phải là biểu hiện bên ngoài của sản phẩm bao
gồm đặc điểm liên quan đến khía cạnh thẩm mỹ, trang trí cho sản phẩm. Biểu
hiện bên ngoài này có thể là đường nét, hình khối, màu sắc, hoặc sự kết hợp
những yếu tố đó. Cách thức biểu hiện có thể trên mặt phẳng (hai chiều) hoặc
ở dạng không gian ba chiều. Đối tượng của kiểu dáng công nghiệp chỉ bao
gồm những yếu tố thể hiện ở bên ngoài của sản phẩm mà có thể cảm nhận
được bằng mắt thường khi quan sát sản phẩm để phân biệt được sự giống và
khác nhau giữa các sản phẩm đó. Những gì thuộc về bên trong sản phẩm -
phần không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng (ví dụ động cơ bên trong
của xe máy) thì không thể được coi là kiểu dáng công nghiệp.
- Kiểu dáng công nghiệp có sự kết hợp giữa yếu tố thẩm mỹ và yếu tố
chức năng
Để được bảo hộ là kiểu dáng công nghiệp thì đòi hỏi phải có sự kết
hợp cả yếu tố thẩm mỹ và yếu tố chức năng. Kiểu dáng công nghiệp liên quan
đến khía cạnh thẩm mỹ của sản phẩm. Do đó, những đặc điểm tạo dáng chỉ
mang tính kỹ thuật, chức năng mà không liên quan đến thẩm mỹ (hình xoắn
trôn ốc của chiếc đinh vít), hoặc những dấu hiệu được gắn trên sản phẩm chỉ
để thực hiện chức năng thông tin, hướng dẫn về nguồn gốc, đặc điểm cấu tạo,
kích cỡ…, hoặc hình dáng bên ngoài do đặc tính kỹ thuật bắt buộc phải có
hoặc chỉ mang tính kỹ thuật của sản phẩm không được coi là kiểu dáng
công nghiệp. Kiểu dáng công nghiệp ngoài yếu tố thẩm mỹ còn phải liên quan
đến yếu tố chức năng của sản phẩm. Những đặc điểm tạo dáng chỉ mang tính
thẩm mỹ mà không mang tính kỹ thuật, không thực hiện chức năng nhất định
15
thì cũng không được coi là kiểu dáng công nghiệp. Như vậy, nếu hình dáng