Phân vùng chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước trầm tích đệ tứ khu vực nội đô Hà Nội phục vụ cấp nước sinh hoạt - Pdf 36

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, em xin bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc của em tới thầy, cô
giáo Th.S Trần Thành Lê và Th.S Hoàng Thị Huê. Người đã hướng dẫn, chỉ dạy
tận tình cho em trong quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Môi trường của
trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã dìu dắt, dạy dỗ em cả về kiến
thức chuyên môn và tinh thần học tập trong bốn năm học vừa qua để em có được
những kiến thức thực hiện đồ án tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban đã giúp
đỡ tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tiếp đến là lời cảm ơn tới người thân, bạn bè đã động viên em trong suốt thời
gian làm đồ án cũng như trong thời gian học tập.
Tuy có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình học tập, cũng như trong quá trình
làm đồ án tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự
góp ý quý báu của tất cả các thầy cô giáo cũng như tất cả các bạn để kết quả của em
được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Phương


Danh mục các từ viêt tắt
STT
1
2

Từ viết tắt

Chú thích


nguyên nước (ô nhiễm và cạn kiệt) đang làm ảnh hưởng không nhỏ tới tính phát
triển bền vững của thủ đô Hà Nội.
Do diện tích thành phố Hà Nội quá rộng, nên Em chỉ lựa chọn khu vực phía
Tây Nam Hà Nội bao gồm các quận nội thành Hà Nội là diện tích bao trùm hầu như
toàn bộ các bãi giếng khai thác tập trung. Trong giới hạn nội dung nghiên cứu, Em
tập trung vào đối tượng nghiên cứu chính là tầng chứa nước trong các trầm tích Đệ
Tứ Pleistocen( qp) đang là đối tượng khai thác phục vụ cung cấp nước Thủ Đô.

3


Từ những yêu cầu của thực tế trên, em đã lựa chọn và thực hiện đề tài:“Phân
vùng chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước trầm tích đệ tứ khu vực nội đô
Hà Nội phục vụ cấp nước sinh hoạt”.
Mục đích và ý nghĩa của đề tài
- Xác định chất lượng nước ngầm trên địa bàn phía Tây Nam Hà Nội.
- Lập bản đồ phân vùng chất lượng nước ngầm tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ
Pleistocen( qp) phục vụ cấp nước sinh hoạt khu vực Tây Nam Hà nội
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nước dưới đất tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ
Pleistocen( qp).
- Phạm vi nghiên cứu: Khu vực trung tâm thành phố là phần diện tích phía
Tây Nam Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập tài liệu, số liệu: Thu thập các tài liệu số liệu của mạng quan trắc
khu vực Hà Nội về nước dưới đất trên địa bàn Hà Nội từ năm 2010 đến năm 2015
bao gồm các số liệu mực nước trung bình tháng tại các lỗ khoan quan trắc; các công
trình khai thác trong vùng nghiên cứu; bản đồ địa hình khu vực; mực nước sông
Hồng; lượng mưa, bốc hơi tại trạm thủy văn Hà Nội.Báo cáo hiện trạng môi trường
nước ngầm của thành phố Hà Nội….

Hoài Đức. Phía Nam giáp huyện Thanh Oai và huyện Thường Tín.Phía Đông giáp
quận Long Biên. Khu vực nghiên cứu của đề tài gồm toàn bộ phần phía Nam sông
Hồng của thành phố Hà Nội gồm 11 quận nội thành (Bắc Từ Liêm, Nam Từ Liêm,
Tây Hồ, Cầu Giấy, Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai,
Thanh Xuân, Hà Đông) và 1 huyện ngoại thành (Thanh Trì).
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội, tổng diện tích
tự nhiên của vùng Tây Nam Hà Nội khoảng 278km2.
1.1.2. Địa hình
Khu vực Tây Nam Hà Nội gồm 12 quận huyện thuộc đồng bằng sông Hồng có
độ cao trung bình từ 5m đến 7m so với mực nước biển. Địa hình của Hà Nội thấp
dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Điều này được phản ánh rõ nét qua
hướng dòng chảy tự nhiên của các dòng sông chính chảy qua Hà Nội.
Nhìn chung,vùng Tây Nam Hà Nội có dạng địa hình đồng bằng được bồi đắp
bởi các dòng sông với các bãi bồi hiện đại, bãi bồi cao. Xen giữa các bãi bồi hiện
đại và các bãi bồi còn có các vùng trũng với các hồ đầm (dấu vết của các lòng sông
cổ).
Hầu hết diện tích là trồng lúa, canh tác rau màu, cây công nghiệp, và phần đất
còn lại là nơi cư dân sinh sống. Đất cấu thành nên bề mặt thường là dạng sét, sét
pha; bên dưới là lớp cát các loại, các chỏm sét bùn, than bùn chứa các vật chất hữu
cơ. Bề mặt địa hình phần rìa sông Hồng có độ cao từ 9 – 10 m, vùng ven đê từ 7 - 8
m, vùng nội thành từ 5 - 6 m, vùng Tây Nam địa hình thấp, trũng từ 3 - 4 m, thường
xuyên bị ngập úng vào mùa mưa.
1.1.3. Khí hậu - Thủy văn
1.1.3.1. Nhân tố khí tượng
Vùng Tây Nam Hà Nội thuộc vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng, có khí
hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa chủ yếu trong năm là mùa mưa – nóng và mùa
khô - lạnh.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 có đặc điểm chủ yếu là nóng, ẩm,
mưa nhiều, nắng nhiều, gió mùa đông nam thịnh hành. Mùa khô kéo dài từ tháng 11
đến tháng 3 năm sau: lạnh, khô và ít mưa. Do chịu sự chi phối của gió mùa Đông


5

6

7

8

9

10

11

12

2005

0.4

1.3

0.9

1.1

7.0

9.3


6.1

0.9

3.9

0.0

2007

0.1

0.9

0.9

3.3

3.8

7.0

9.2

10.7

12.9

4.7


2009

0.2

0.3

1.6

2.5

7.4

8.1

17.8

7.0

5.2

2.5

0.0

0.1

2010

2.6

dao động mực nước theo mùa. Biên độ dao động mực nước năm của nước dưới đất
phụ thuộc vào nhiều yếu tố như địa hình, địa mạo, thuỷ văn … nhưng trong các
công trình ở những nơi chỉ ảnh hưởng bởi nhân tố mưa thì nó phụ thuộc rất lớn vào
lượng mưa năm (xem hình 1-2).

Hình 1-2: Biểu đồ qh dao động mực nước dưới đất tại điểm quan trắc P_23a với
mưa trung bình tháng nhiều năm tại trạm Hà Nội.
1.1.3.1.2. Nhiệt độ
Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh năm tiếp nhận được lượng bức xạ
mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao.
Số giờ nắng khoảng 1.500 - 2.000 giờ, nhiệt bức xạ trung bình năm
100kcal/cm².
Đặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa
nóng, lạnh.
Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình
28,1 °C. Nhiệt độ tối cao tuyệt đối có thể tới trên 400 C, nhưng ít xảy ra.
Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độ trung bình 18,6 °C.
Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của thành phố xuống rất thấp, bầu trời
thường xuyên bị che phủ bởi mây và sương, tháng 2 trung bình mỗi ngày chỉ có 1,8
giờ mặt trời chiếu sáng. Đôi khi những đợt không khí gió mùa Đông Bắc tràn về,
nhiệt độ không khí xuống dưới ngưỡng 100 C.

Hình 1-3: Nhiệt độ không khí trung bình các tháng (ºC)

8


1.1.3.1.3. Bốc hơi
Diễn biến của lượng bốc hơi phụ thuộc vào diễn biến của nhiệt độ và độ ẩm
không khí. Lượng bốc hơi tháng bình quân nhiều năm dao động trong khoảng 60 ÷


Sông Nhuệ là một chi lưu của Sông Hồng được bắt nguồn từ cống Thụy
Phương (Từ Liêm), chảy theo hướng Tây Nam xuôi về phía Hà Đông. Sông Nhuệ là
con sông nhỏ, nước trong sông được điều tiết bởi cống Thụy Phương để phục vụ
cấp nước cho nông nghiệp.
Hồ Tây có diện tích 538 ha và chứa 8 triệu m 3 nước.Hồ Thành Công rộng 220
ha trữ lượng 3 triệu m3 nước. Nhìn chung, ở Hà Nội nhiều sông ngòi, mương lạch,
hồ, ao đầm tạo điều kiện thuận lợi cho cấp và thoát nước, đồng thời là một trong
những nguồn hình thành trữ lượng cho nước dưới đất.
1.1.4 Đặc điểm kinh tế xã hội khu vực Hà Nội
Thành phố Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của cả nước,
đó cũng là nơi thu hút dân cư từ các vùng nông thôn làm cho mật độ dân cư ngày
càng cao
Số dân của thành phố Hà Nội là 3055300 người trong đó dân nội thành là
1619309 người chiếm 53%. Mật độ dân số phân bố rất không đều, các quân nội
thành trung bình là 19163 người /km2, đông nhất là quận Hoàn Kiếm mật độ lên tới
37265 người /km2, ở ngoại thành là 1721 người /km2. Là thành phố có mật độ cao
nhất Việt Nam dẫn tới lượng nước khai thác nước ngày càng tăng, lượng chất thải
công nghiệp và sinh hoạt càng lớn có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như
trữ lượng nước dưới đất.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ Thành phố trong 5 năm
qua, Hà Nội đã đạt được những thành tựu quan trọng, tiếp tục tạo ra những biến đổi
tích cực trên các lĩnh vực:
Kinh tế thủ đô đã phát triển nhanh và khá toàn diện: cơ cấu kinh tế công
nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp hình thành rõ rệt và đang chuyển dịch sang dịch vụ công nghiệp - nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá. Năm 2005, Hà Nội đạt hơn 8%
GDP, hơn 10% giá trị sản lượng công nghiệp, 8% kim ngạch xuất khẩu, 13,8% tổng
thu ngân sách nhà nước, gần 11% vốn đầu tư toàn xã hội của cả nước; GDP bình
quân đầu người đạt gấp gần 2,4 lần cả nước… đến năm 2007 tổng sản phẩm nội địa
(GDP) tăng 11,5%, trong đó giá trị tăng thêm công nghiệp và xây dựng tăng 13%,
dịch vụ tăng 11%, nông lâm thuỷ sản tăng 1,1%.

Hình 1-4: Sơ đồ vị trí các nhà máy nước khu vực Tây Nam Hà Nội

12


Các giếng khai thác nước tập trung tại các nhà máy nước và các cụm giếng
khai thác đều có ống lọc đặt trong tầng chứa nước Pleistoxen có chiều sâu phân bố
từ 10 đến 80 m.
Bảng 1-2: Bảng thống kê lưu lượng khai thác nước tập trung
ST

Tên nhà máy

Số lượng

Công suất

TCN khai

T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10

15
2
13
13
20
12
12
211

khai thác m3/ng
60000
60000
90000
60000
32000
4800
47000
50000
2600
20000
20000
60000
21000
36000
563400

thác
Pleistoxen
Pleistoxen
Pleistoxen

Liêm có khoảng 17048 công trình, huyện Thanh Trì có khoảng 6303 công trình khai
thác nước dạng khai thác nhỏ cấp nước quy mô gia đình. Lưu lượng khai thác của
mỗi công trình thường nhỏ hơn 2 m3/ng.
Tác động của nhân tố này biểu hiện rõ nét qua sự suy giảm mực NDĐ ở vùng
Tây Nam Hà Nội nơi tập trung chủ yếu các bãi giếng khai thác công suất lớn, tạo
thành các phễu hạ thấp sâu có tốc độ suy giảm mực nước khác nhau.
Dải ven sông Hồng có chiều rộng từ 2-4km, tốc độ giảm mực nước từ 0,1 đến
0,3m/năm. Khu vực tương đối xa sông với khoảng cách từ 4-7km, mực NDĐ từ
năm 2008 bắt đầu bị suy giảm với tốc độ từ 0,3-0,5m/năm. Mực nước thấp nhất so
với mặt đất năm 2008 ở bãi giếng Tương Mai là 27,38m, Pháp Vân là 23,52m (hình
1-5, hình 1-6). Khu vực từ Mai Dịch đến Thanh Xuân, Hạ Đình, mực NDĐ bị suy
giảm mạnh với tốc độ từ 0,4-0,8m/năm. Mực nước thấp nhất so với mặt đất năm
2008 ở bãi giếng Mai Dịch là 25,47m, Hạ Đình là 34,60m sâu nhất vùng Hà Nội
(hình 1-7, hình 1-8, hình 1-9).

Hình 1-5: Đồ thị dao động mực nước các lỗ khoan quan trắc P.42a tại các bãi
giếng Tương Mai.
Hình 1-6: Đồ thị dao động mực nước các lỗ khoan quan trắc P_60aa tại các bãi
giếng Pháp Vân.

Hình 1-7: Đồ thị dao động mực nước các lỗ khoan quan trắc P.29a tại bãi giếng
Ngọc Hà.

Hình 1-8: Đồ thị dao động mực nước các lỗ khoan quan trắc P.45a tại bãi giếng
Hạ Đình

14


Hình 1-9: Đồ thị dao động mực nước các lỗ khoan quan trắc Q_63aM tại bãi

Đ

ờ n g th u ỷ đ ẳ n g á p

Hỡnh 1-10: S phu h thp mc ND vựng Tõy Nam H Ni thỏng 3/2013.

II. c im a cht- a cht thy vn.
2.1. a cht
Vựng nghiờn cu nm trong trng kin to H Ni, ó c nhiu tỏc gi v
c quan nghiờn cu t m v a tng v cu trỳc a cht. Vỡ vy trong lun vn ny
ch cp n c im a tng a cht gii Kainozoi theo ti liu ca on a
cht 64 trong Bỏo cỏo lp bn a cht thy vn a cht cụng trỡnh t l 1:
50.000 vựng H Ni v cỏc ti liu V phong húa v trm tớch t Vit Nam ca
Ngụ Quang Ton. Cỏc thnh to trm tớch Kainozoi phỏt trin khỏ mnh m, bao
gm cỏc phõn v a tng c mụ t t c n tr nh sau:
* Gii Kainozoi
2.1.1. H Neogen - Thng Pliocen, tng Vnh Bo (N2vb).
H tng Vnh Bo c on a cht H Ni xỏc lp nm 1989. Trong vựng
nghiờn cu, trm tớch ca h tng ny b ph hon ton bi cỏc trm tớch tr hn, ch
xỏc nh c qua ti lu cỏc l khoan. Thnh phn thch hc ch yu gm cui si
mi trũn tt ln bt set xen kp bt cỏt gn kt yu.
16


Về mặt quan hệ địa tầng: Tầng Vĩnh Bảo nằm phủ bất chỉnh hợp lên bề mặt
móng các đất đá có tuổi cổ hơn và bị các trầm tích Đệ tứ phủ bất chỉnh hợp lên trên.
Các lỗ khoan trong vùng chưa khoan hết tầng Vĩnh Bảo (N 2vb), tuy nhiên theo
tài liệu thăm dò của đoàn địa chất 64 cho thấy bề dày của tầng (N 2vb) khoảng 250
m.
2.1.2. Hệ Đệ tứ:

biến từ (5.0 ÷ 7.0)cm đôi khi gặp tảng có kích thước đạt đến (10.0 ÷15.0)cm, lẫn sỏi
sạn và ít bột cát tướng lòng sông miền núi và chuyển tiếp xen kẽ với nhngx pha lũ
tích. Cuội có thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh, silíc và ít đá phun trào,
độ mài tròn kém đến trung bình. Độ sâu phổ biến từ (30.5 ÷ 63.0)m. bề dày 10-34m.
+ Tập giữa: gồm sỏi nhỏ cát thô, cát bột màu vàng xám là sản phẩm của pha
xâm thục thứ 2. Chiều dày trung bình 17m.
+ Tập trên: Gồm bột sét, bột cát màu xám, xám vàng, xám nâu đôi khi có lẫn
cuội nhỏ, sạn cát. Thỉnh thoảng trong tầng này gặp các thấu kính sét bột, màu xám
xanh, xám đen lẫn mùn thực vật đặc trưng cho tướng bãi bồi. Mặt cắt địa chất dọc
theo bãi giếng Gia Lâm cho thấy bề dày của tập này thay đổi từ (0 ÷ 3.5)m.
Với vùng lộ: thường chúng nằm phủ lên bề mặt lớp phong hóa laterit của đá
gốc tuổi Neogen ở Mê Linh, Sóc Sơn – Vệ Linh, Phú Cường Kim Anh. Tập dưới
gồm cuội, cuội tàng lẫn sỏi sạn, cát bột có ít sét màu vàng nâu. Chiều dày 0.5-2m.
Tập trên gồm cát bột, bột có ít cát màu vàng gạch bề dày 0,3-2,5m bị laterit
hóa thành lớp đá ong. Tại Mê Linh, Sóc Sơn, các trầm tích này quan sát thấy là các
các sản phẩm lục tích, sườn tích, dạng nón phóng vật cổ gồm cuội tảng, tảng, cuội
dăm hỗn độn lẫn ít bột sét. Cuội mài tròn kém, chiều dày 1-2m, phần trên chủ yếu là
bột sét màu vàng gạch lẫn ít dăm và kết vón oxit sắt cứng chắc. Bề dày 2-4m.
2.1.2.3. Thống Pleixtocen thượng tầng Vĩnh Phúc (alb Q1vp).
Tầng này có diện phân bố hầu như rộng khắp vùng nghiên cứu lộ ra trên mặt
chiếm phần lớn khu vực bờ trái Sông Hồng và một chỏm nhỏ vùng Cổ Nhuế, Xuân
Đỉnh. Chúng bị các trầm tích trẻ hơn phủ lên nên chỉ quan sát được từ các các lỗ
khoan.
Đặc điểm nổi bật của tầng Vĩnh Phúc là bề mặt bị laterit hóa yếu có màu loang
lổ và có sự chuyển đổi nhanh về thành phần thạch học theo chiều ngang
Tầng Vĩnh Phúc được chia làm 4 tập theo thứ tự từ dưới lên như sau:
+ Tập 1 dưới: gồm cuội, sỏi nhỏ lẫn cát hạt nhỏ, trung, thô ít bột sét màu xám
vàng, xám. Thành phần đa khoáng nhưng chủ yếu là thạch anh. Theo tài liệu của
18


Thạch Bàn, và các đầm lầy lục địa như khu vực Sơn Đồng, Hoài Đức.
+ Phụ tầng trên - Trầm tích biển (mQ21-2hh):
19


Có mặt ở rải rác phần bờ trái sông Hồng và phổ biến phía Nam, Đông Nam
vùng nghiên cứu, bị các trầm tích Holocen muộn phủ bất chỉnh hợp lên. Thành phần
thạch học của phụ tầng gồm sét, sét bột màu xám xanh, xám xanh lơ, xanh xám rất
đặc trưng, phần dưới lẫn ít mùn thực vật hoặc kết vón oxit sắt. Chiều dày trung bình
của phụ tầng 6.0m.
Tại khu vực bãi giếng Gia Lâm tầng Hải Hưng hầu như bị bào mòn hoàn toàn,
tất cả các lỗ khoan thăm dò đều không gặp tầng này. Địa tầng ở đây sau khi kết thúc
tầng (a Q3vp) chuyển tiếp ngay sang tầng (a Q 43tb ), chứng tỏ tồn tại một cửa sổ địa
chất thuỷ văn của tầng (Q21-2hh) tại khu vực nghiên cứu.
2.1.2.4.2. Phụ thống trên, tầng Thái Bình (al Q23tb ).
Tầng Thái Bình (a Q23tb) gồm các trầm tích có nhiều nguồn gốc và là trầm tích
trẻ nhất được thành tạo từ 3000 năm trước cho đến ngày nay. Diện phân bố phủ trên
hầu hết khu vực nghiên cứu ngoài các khu vực lộ các trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc ở
phía Bắc nêu trên. Dựa vào nguồn gốc, thành phần thạch học và điều kiện thành tạo
có thể chia thành hai phụ tầng:
+ Phụ tầng Thái Bình dưới(al Q2tb1 ): diện phân bố rộng khắp vùng nghiên
cứu có nơi lộ hẳn trên mặt đất. Độ sâu phân bố của tầng từ (0.0 ÷ 12.8)m, trung
bình 5.2m. Gồm 2 phân tầng:
* Phân tầng trầm tích nguồn gốc sông(a Q2tb): Phân bố rộng rãi trên bề mặt
đồng bằng gồm 3 tập:
-

Tập dưới gồm cuội nhỏ, sỏi cát, bột sét lẫn ít cát bột sét. Chiều dày 1-9m.

-

2
Tầng chứa nước trong trầm tích Holocen.
3

Lớp cách nước trầm tích Pleixtocen- Holocen.

4

Tầng chứa nước trong trầm tích Pleixtocen thượng.
Lớp cách nước trong trầm tích Pleixtocen trung –

5
6

thượng.
Tầng chứa nước trong trầm tích Pleixtocen trung –
thượng.

Ký hiệu
(alb Q2tb 1-2)
(a Q2tb2)
(aQ2hh2(aQ1
vp2))
(a Q1 vp1)
(a Q1hn2)
(a Q1hn1)

2.2.1. Tầng cách nước trong trầm tích Holocene (albQ2tb 1-2, albQ2hh 1-2)
Đây là tầng cách nước bao phủ hầu hết bề mặt vùng nghiên cứu bao gồm các
trầm tích sét, sét bùn, sét bùn, bột thuộc hệ tầng Thái Bình (alb Q2tb 1-2) và hệ tầng

Trong tầng này phát hiện nhiều thấu kính có mức độ nước giầu đến trung
bình.Chiều dày 6,8m - 9m. Có thể đây là do nước biển tàn dư còn lại được pha trộn
với nước khí tượng từ trên xuống.
2.2.4. Tầng chứa nước trong trầm tích Pleixtocen thượng (aQ12 vp1).
Tầng chứa nước được phân bố rộng rãi khắp đồng bằng bao gồm các trầm tích
thuộc tập dưới của tầng Vĩnh Phúc. Thành phần đất đá bao gồm: Cát hạt mịn, trung,
thô màu vàng, xám đáy tầng có lẫn sạn nhỏ. Đôi chỗ gặp cuội, sỏi có kích thước
2÷3 cm.
Phần Nam Sông Hồng, bề dày của tầng chứa nước thay đổi từ: 3,0÷ 36,5m,
trung bình 12,02m.
Phần Bắc Sông Hồng chúng được phát hiện ở độ sâu từ: 1÷24,5 m, trung bình
12,19m.
Tai khu vực bãi giếng Gia Lâm bề dày dao động từ: 8,7 m (H24-5A) đến 20,5
m (H26). Kết quả phân tích thành phần hạt tầng chứa nước cho thấy:
22


- Hàm lượng hạt sét bụi (10mm) từ 0,0÷4%, trung bình 0,7%.
Đây là tầng chứa nước áp lực yếu, khá phong phú nước. Nguồn cung cấp cho
nước dưới đất TCN là nước mưa, nước mặt nước tưới ruộng và thoát theo sông,
hồ,bay hơi và ngấm xuống cấp cho tầng dưới. Tài liệu quan trắc động thái cho thấy
nước trong tầng này bị dao động theo mùa rất rõ rệt do ảnh hưởng của nước sông
Hồng và sự khai thác mãnh liệt từ hệ thống khai thác nước tập trung từ tầng chứa
nước chính bên dưới nó.
2.2.5.Lớp cách nước trong trầm tích Pleixtocene giữa trên (a Q1 vp2 ).
Lớp cách nước phân bố rất rộng nhưng không liên tục, có nơi bị bào mòn hoặc
mất hẳn ở nơi đó TCN trên phủ trực tiếp lên TCN chính bên dưới.

xuống qua các tầng bên trên và nước tưới ruộng.
Miền thoát chủ yếu là khai thác phục vụ nhu cầu nhân dân thủ đô.

24


CHNG 3: CHT LNG NC V PHN VNG CHT
LNG NC TNG CHA NC PLEISTOCEN
3.1. Hin trng cht lng nc khu vc nghiờn cu
3.1.1. Kt qu quan trc phõn tớch
Theo thng kờ ca cỏc mng li quan trc ng thỏi nc di t thuc khu
vc H Ni.

S lần lấy mẫu phân tích thành phần hoá học của nớc dới đất đợc thực
hiện một năm 2 lần/công trình. Một đợt mẫu lấy vào mùa khô (tháng 2-3) và
một đợt mẫu lấy vào giữa mùa ma (tháng 8-9) phân tích nhiều chỉ tiêu. Thiết
bị lấy mẫu là máy bơm chìm MP1. Mẫu lấy đợc bảo quản và phân tích tại
Trung tâm quan trắc và phân tích Tài nguyên và Môi trờng Hà Nội.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status