Tiểu luận tác phẩm báo chí Chỉ ra các yếu tố nội dung trong tác phẩm: “Dân trồng cần sa, “quan” không biết (?)” - Pdf 36

Đề bài
Câu 1: Chỉ ra các yếu tố nội dung trong tác phẩm:
“Dân trồng cần sa, “quan” không biết (?)”
Câu 2: Nêu và phân tích kết cấu hai tác phẩm sau:


Dân trồng cần sa, “quan” không biết



Đau lòng hủ tục chôn sống hài nhi

Câu 3: Trên cơ sở tờ báo sưu tầm, hãy nêu:


Cơ quan quản lý tờ báo



Thuộc loại định kỳ gì?



Số trang



Chuyên trang




2/ Sự kiện:
Những sự kiện được nhà báo thể hiện trong tác phẩm là:


Sự kiện bản thể: Phát hiện hàng ngàn m2 cây cần sa tại Lương

Sơn, Hoà Bình. Cán bộ xã cùng nhân dân huyện Lương Sơn, Hoà Bình nghe
theo “lời khuyên” của các “chuyên gia nông nghiệp” trồng cây cần sa suốt
một thời gian dài mà không hề hay biết.


Sự kiện nhận thức: Sự vô trách nhiệm, thiếu kiến thức cùng

những quyết định sai lầm của các cán bộ huyện Lương Sơn, Hoà Bình đã
đưa người dân vào việc trồng cây quốc cấm. Không có cái nhìn trực quan về
“lời khuyên” trồng cây cần sa của “đoàn chuyên gia nông nghiệp”, mà với
2


sự thiếu kiến thức cùng sự chủ quan, cán bộ huyện Lương Sơn, Hoà Bình
không những không nhận ra mặt xấu của vấn đề, lại còn rất mẫn cán ra sức
tuyên truyền, vận động bà con gieo trồng cây cần sa trên hàng chục nghìn
M2 đất ở hai xã Đông Xuân và Tiến Xuân (huyện Lương Sơn). Thậm chí, họ
còn là những người “đi tiên phong” trong việc trồng loại cây này.
Nhân dân huyện Lương Sơn cũng chưa có cái nhìn cẩn trọng hơn
trong việc thay đổi giống cây trồng. Với lối suy nghĩ đơn giản, nhẹ dạ, cả
tin, thấy “trồng những loại cây trong “dự án mới” trên ăn đứt việc trồng lúa,
ngô, khoai, sắn”, cùng việc “thấy những ưu đãi của dự án” là rất tốt nên
“nông dân trong xã lại hồ hởi tham gia”. Chính vì nhận thức còn yếu này
nên nhân dân đã bị kẻ xấu lợi dụng trồng cây quốc cấm mà không hề hay


chẳng mất nhiều sức lực chăm sóc mà cây lên xanh tốt. Thế nhưng, năm ấy
chẳng hiểu vì lẽ gì mà “người của dự án” lại không chấp nhận thu hoạch sản
phẩm mà họ đã ký hợp đồng với hàng chục hộ nông dân trong xã. Lý do họ
đưa ra là do chất lượng của cây thanh hao kém. Tuy nhiên, tiền công cho
nông dân, họ vẫn thanh toán không thiếu một xu. Bởi lý do ấy, nên vụ thứ 2,
họ đưa giống cây lanh về. Theo lời của “những người mang no ấm về cho
dân” thì họ muốn những hộ nông dân trong xã trồng thử nghiệm để lấy
giống phân phát cho các vùng quê khác.


Ông Chiến cho biêt trong số 3 chuyên gia trên, người ông ấn

tượng nhất có tên là Lê Quang Vinh.


Chúng tôi đã vào thôn Đồng Rằng để… thăm “vườn cây quý”

của gia đình ông phó chủ tịch xã Nguyễn Xuân Hoà.


Tất thảy những cán bộ xã Đông Xuân đều trả lời, họ không hề

hay biết “mồm ngang mũi dọc” cây lanh như thế nào và tất nhiên lại càng
không biết tới cây cần sa. Và, chính quyền địa phương hoàn toàn bất ngờ bởi
những phát hiện của cơ quan công an. Thậm chí, ông Bùi Hữu Điền, chủ tịch
xã còn khẳng định, chỉ nhìn thấy cách đây ít hôm, ông mới tận mắt nhìn thấy
“loại cây nguy hiểm ấy”, chứ từ trước, hình dáng chúng ra sao ông cũng
không hề hay biết!


tham gia.


Thấy đó cũng là một “hướng đi” tốt, đặc biệt hơn, những ưu đãi

của dự án là không thay đổi, nên nông dân trong xã lại hồ hởi tham gia.


Ông Bùi Văn Chiến, nguyên là cán bộ thôn Lập Thành (xã

Đông Xuân), là một trong những người đi đầu trong việc đón “giống cây
trồng mới” về thôn, đã rất bức xúc khi kể với chúng tôi.


…, là cộng tác viên tại chỗ đi lo việc chăm sóc cây của các hộ

gia đình trong thôn, ông đã nhiệt tình ủng hộ.


Vinh là người trực tiếp giới thiệu cách thức trồng, chăm bón

cũng như thu hoạch cây lanh cho gia đình ông và nhiều hộ dân trong xã.
Theo đó, cứ tháng 7 hàng năm, dự án cho hạt, nông dân trong thôn tự đóng
bầu ươm. Đến tháng 10, khi cây đã lên cao chừng 2m, “người của dự án” lại
về để tỉa lấy lá, mỗi cây chỉ lấy khoảng 5 đến 6 lá phần ngọn. Tháng 1, họ lại
về và lần này, họ chặt bỏ một số cây trong vườn (chỉ lấy chừng 30cm thân
cây phần ngọn).


Khi sắp tới vụ mới, không thấy “người của dự án” lên, ông

trồng đến cả nghìn m2 nhưng “dự án” không cho.


Chi tiết bình:



Cứ thử cho rằng, cây lanh chỉ là một loại cây nông sản đơn

thuần (không phải cây quốc cấm) đã được người dân tin tưởng, đua nhau
trồng mà chủ tịch xã không quan tâm đến “mồm ngang mũi dọc” của chúng
ra sao thì kể cũng là điều… lạ!?
4/ Chính kiến: Trong bài, lập trường của nhà báo thể hiện rất rõ, nhất
là ở chi tiết bình cuối bài. Chính kiến trong toàn bộ bài báo là ở việc thể hiện
sự sai lầm, bảo thủ, thiếu kiến thức của cán bộ xã, huyện Lương Sơn, Hoà
Bình. Chính kiến mà nhà báo khẳng định chính là lỗi của của tầng lớp
“quan” trong quá trình làm việc đã không tìm hiểu kỹ càng, không để tâm,
chú ý đến mọi mặt của vấn đề, mà chỉ chăm chú nhìn vào lợi nhuận, ích lợi
trước mắt mà đẩy những nông dân chân lấm tay bùn vào việc làm sai lầm
trên.
5/ Tư tưởng: Tư tưởng trong bài báo thống nhất trong suốt mạch báo.
Tư tưởng giúp định hướng cho người đọc sự kiện được nói đến trong bài
viết, đó là tư tưởng bài trừ, chê trách, lên án đối với những người “quan”

6


không biết chăm lo cho dân chúng. Nhà báo tập trung nhấn mạnh sự chê
trách, tỏ thái độ quan ngại về vấn đề sự tắc trách của chủ tịch xã Đông Xuân
đối với việc trồng cây giống mới ở xã mình. Lời bình cuối bài như là một



Câu 2: Nêu và phân tích kết cấu hai tác phẩm báo chí sau: Dân
trồng cần sa, “quan” không biết ; Đau lòng hủ tục chôn sống hài nhi
Khái niệm kết cấu: Kết cấu là sự phân bố nội dung trong một tác
phẩm báo chí. Nó còn là biểu hiện của quan hệ giữa các bộ phận trong tác
phẩm. Kết cấu thể hiện được ý chí đó của người viết, bộc lộ được tài năng và
các nhận thức cảu nhà báo đối với đời sống.
Các phương diện chi phối kết cấu tác phẩm bao gồm: yếu tố khách
quan, yếu tố chủ quan. Ngoài ra còn có những tiêu chí đánh giá kết cấu là
chất lượng thông tin, một kết cấu tốt là một kết cấu mà trong đó chuyển tải
hàm lượng thông tin kết với công chúng nhanh, đầy đủ và hợp lý.
A/Kết cấu trong tác phẩm báo chí: Dân trồng cần sa,
“quan” không biết (?):
Trong tác phẩm báo chí “Dân trồng cần sa, “quan” không biết
(?), nhà báo đã sử dụng kết cấu Logic tư duy.
Nhà báo đã trình bày sự kiện theo quy luật tư duy của nhận
thức. Người viết đã xem xét, phân tích các chi tiết, các chứng cứ rồi sau đó
dẫn đến một kết luận khái quát. Nói cách khác, nhà báo đã sử dụng cách viết
quy nạp để đi từ những ý riêng, ráp nối các sự kiện, phân tích các mối quan
hệ trong các sự kiện và chi tiết, từ đó đưa ra được một nhận xét chung nhất
cho toàn bộ bài báo. Cụ thể như sau:
Trong sự kiện phát hiện hàng chục nghìn m 2 cây cần sa ở
Lương Sơn, Hoà Bình do người dân và cả các cán bộ xã giao trồng. Người
viết báo đã nêu lên các sự kiện theo một chuỗi được sắp xếp theo sự hợp lý
logic. Các chuỗi sự việc đi từ những sự kiện chung, nổi bật diễn ra, đến
những sự kiện được người viết đặc biệt chú ý, mang tính chất làm rõ vấn đề,
9



về. Theo lời của “những người mang no ấm về cho dân” thì họ muốn
những hộ nông dân trong xã trồng thử nghiệm để lấy giống phân phát
cho các vùng quê khác …. Thấy đó cũng là một “hướng đi” tốt, , đặc biệt
hơn, những ưu đãi của dự án là không thay đổi, nên nông dân trong xã
lại hồ hởi tham gia.”
11


12


Ngoài những chi tiết rất đáng giá, rất “đắt”, thể hiện rất rõ chuỗi sự
kiện diễn ra dẫn đến sự việc chính, tác giả còn sử dụng hàng loạt những thủ
pháp viết để người đọc dễ dàng hiểu được những sự giả dối, sai sót trong sự
việc, như: Dự án “thoát nghèo”…liều!, “cán bộ”, “cây mũi nhọn”, “những
người mang no ấm về cho dân”…. Những từ rất bình thường, chậm chí đáng
lẽ còn mang ý nghĩa tích cực, thì nay đã được nhà báo đặt trong dấu “” để
cho người đọc nhìn ra được cái xấu, cái không tốt, ngẫm ra được ý nghĩa sâu
xa trong mỗi dòng viết, nhận ra được sự châm biếm mà nhà báo muốn cho
người đọc hiểu được.
2/ Trưởng thôn…mẫn cán!
Vẫn tiếp tục sử dụng các chi tiết đắt giá trong việc đưa thông tin
đến cho người đọc. Các từ ngữ “người của dự án”, “chuyên gia”, “có cho
vàng ông cũng chẳng trồng” liên tục xuất hiện. Đặc biệt từ “người của dự
án” xuất hiện xuyên suốt trong cả toàn bài nằm lột tả bản chất của sự việc,
chỉ rõ cái không tố và muốn người đọc biết về nó một cách rõ ràng nhất.
Các chi tiết vẫn được đưa ra theo một mạch chuyện xuyên suốt :


Vinh là người trực tiếp giới thiệu cách thức trồng, chăm bón


hay biết “mồn ngang mũi dọc” cây lanh như thế nào và tất nhiên lại càng
không biết tới cây cần sa. Và, chính quyền địa phương hoàn toàn bất ngờ bởi
những phát hiện của cơ quan công an. Thậm chí, ông Bùi Hữu Điền, chủ tịch
xã còn khẳng định, chỉ nhìn thấy cách đây ít hôm, ông mới tận mắt nhìn thấy
“loại cây nguye hiểm ấy”, chứ từ trước, hình dáng chúng ra sao ông cũng
không hề hay biết!
Cái hay ở việc tác giả dùng kết cấu Logic tư duy để làm kết cấu chính
trong tác phẩm là ở chỗ nhờ đó người đọc có thể nắm bắt được vấn đề mà
người viết báo muốn gửi gắm đến một cách rõ ràng.
Đọc toàn bộ bài báo, ta có thể dễ dàng nhận ra được kết luận mà
người viết muốn mang đến cho người đọc, đó là: Cứ thử cho rằng, cây
lanh chỉ là một loại cây nông sản đơn thuần (không phải cây quốc cấm)
đã được người dân tin tưởng, đua nhau trồng mà chủ tịch xã không quan
tâm đến “mồm ngang mũi dọc” của chúng ra sao thì kể cũng là điều…
lạ!?
Ta có thể khái quát lại sơ đồ kết cấu của bài báo như sau :

14


Dự án “thoát
nghèo”…liều!

Trưởng thôn…mẫn
cán!

Cán bộ xã
cũng….vô tư!


dũng cảm gạt bỏ đi hủ tục để cứu sống những đứa trẻ không may gặp nạn,
mà còn bày tỏ thái độ băn khoăn, lo ngại về chính hủ tục ấy hiện vẫn chưa
được đẩy lùi, dù cho nếp sống văn minh đã chạm tới cửa nhà của đồng bảo
dân tộc ít người ở Tây Nguyên.
Trong cả hai mẩu chuyện, kết cấu thời gian đều được thể hiện rất đậm
nét. Đối với mẩu chuyện: “Phật sống” giữa đại ngàn, nhà báo đã sử dụng lời
kể của anh Pyưi Hmoch. Qua lời kể của nhân vật, ta có thể thấy rất rõ dòng
sự kiện diễn ra kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc:


Mẹ nó là Tol, người làng Đắk Hrê, bị bệnh phong. Sinh nó

được ba tháng thì kiệt sức, dân làng sợ không cho ở chung trong làng nữa.
Bị xua đuổi, anh chồng Chhui mới làm cái xe đẩy tuốt vô rừng, cách làng
hơn 6 giờ đi bộ, định để hai mẹ con một mình trong cái chòi canh đấy.


Người chồng kéo xe thêm một đoạn nữa thì bỏ lại giữa rừng.

Hồi sau người phụ nữ tỉnh lại, bò xuống bám vào càng xe, chân cô ấy không
thể bước nổi, đứa bé cũng không còn sức để khóc.


Mình năn nỉ mãi anh chồng mới đồng ý cho đứa bé mang về

nuôi. Thế là mình cõng nó băng rừng chạy một hơi tới khuya mới về đến
nhà, gọi vợ cùng đốt lửa sưởi ấm, đút nước cho nó uống.


….

một đứa trẻ sơ sinh được quấn sơ sài bằng một tấm vải ngang bụng. Moi lên
thì thấy một bé gái còn dính nhau thai, khắp người tím tái, tay chân lạnh như
đá nhưng vẫn còn thở.


Vợ chồng chăm mãi từ sáng đến hơn 2 giờ chiều thì môi nó

động đậy, rồi nó khóc ré lên. Tôi la lên “sống rồi”


Vợ chồng già Thur đã nhận đứa bé ấy làm con nuôi và đặt tên là

Rơ Mach Quai.




17


Ngoài ra, bên cạnh hai mẩu chuyện theo trình tự thời gian, ngay chính
hoạt động của người nhà báo cũng được ghi chép lại theo đúng thứ tự diễn ra
sự việc, như:


Một chiều mưa bão đầy trời, từ thành phố Pleicu (Gia Lai),

chúng tôi vượt hơn 100 cây số tìm về làng Đăk Pownan, xã Kon Thụp.



18


chuyện của già Thur lại tiếp nối mạch thời gian. Làm cho người đọc có cảm
giác thời gian lồng trong thời gian vậy.
Thế nhưng, cách viết này không hề làm cho người đọc cảm thấy rối
rắm hay khó hiểu. Bởi với cách viết rõ ràng, phân đoạn rõ rệt, các mẩu
chuyện được chia cụ thể, kết cấu tuyến tính thời gian đã được người viết sử
dụng khéo léo một cách triệt để tạo nên một cốt truyện suyên suốt, dễ đọc,
dễ hiểu. Ngoài ra, nhà báo đã có một sự quan sát bao quát, thông tin kịp thời
những sự kiện quan trọng, liên hệ và so sánh, để có thể dẫn được mạch bài
viết có sự thống nhất như vậy.
Qua một dòng thời gian xuyên suốt bài báo, người đọc có thể cảm
nhận được sự ấm áp của tình người qua hai nhân vật anh Pyưi Hmoch và già
Thur, hiểu được phần nào sự quan tâm, nỗ lực, cố gắng của họ trong việc
cứu sống và nuôi dưỡng đứa bé không may gặp nạn. Đồng thời, người đọc
cũng hiểu rõ những hủ tục, những lối suy nghĩ cổ hủ đã ăn sâu vào tiềm thức
của người dân thiểu số nơi núi cao, biết được những thói quen, nhận thức sai
lầm của họ về những hiện tượng bình thường trong cuộc sống.
Bài báo không những có giá trị tôn vinh những con người giúp đỡ
trong thầm lặng, những “Phật sống” giữa đại ngàn, mà còn có giá trị phơi
bày những mặt sai trái trong lối sống của người dân tộc ít người ở Tây
Nguyên.
“…Tôi cảm ơn nó mà vừa mừng, vừa lo. Mừng cho buôn làng xa xôi
giờ đã có điện thắp sáng, có điện thoại bàn, điện thoại di động liên lạc khắp
nơi. Nhưng lại không hiểu sao sự hiện diện của cuộc sống hiện đại vẫn chưa
đẩy lùi được nếp nghĩ lạc hầu như thủa hồng hoang…”

19




Phân bố loại thể và một số ví dụ về bài báo mang loại thể đó:



Loại thể Chính luận: 37



Thể loại Chính luận bình luận: 7



Thủng đại tràng vì ngậm tăm



Cắt 1m ruột vì nhập viện trễ



Thể loại Chính luận chuyên luận: 30



Tránh tà khí từ tủ giầy







Thể loại Thông tấn phỏng vấn: 17



Tăng sinh lực, chống mệt mỏi cho nam giới?



TS Nguyễn Văn Long: Không có gì là không thể



Bạn gái giục cưới!



Thể loại Thông tấn tường thuật: 1



Thủ tướng: Việt Nam đòi chủ quyền Hoàng Sa

bằng hoà bình


Thể loại Thông tấn Tin: 12








Thể loại thông tấn phóng sự: 1
Ba ơi hãy tin ở con!
Thể loại thông tấn phản ánh: 1
Lình xình giải bà chúa thơ nôm
Loại thể Thông tấn nghệ thuật: 8
Ký chính luận: 4



Trầm tích văn minh nơi thánh địa Cát Tiên



Tử vong vì thuốc cam nhiễm chì
21




Nơi nguy hiểm nhất châu Âu



Ký chân dung: 2

CÁT TIÊN” – nằm trong chuyên trang Tư liệu – Giải Mã. Không chỉ có ấn
tượng về nội dung, mà ngay cả cách trình bày, cách đặt vấn đề cũng rất cuốn
hút với người đọc.
Trước hết, vấn đề trong bài viết ngày không quá cao, quá khó
hiểu. Bài báo đơn thuần là một bài báo đưa ra thông tin cho người đọc về
trầm tích văn minh một thánh địa Cát Tiên. Vì thế, nội dung của nó khá gần
gũi đối với người đọc. Thêm vào đó, bài báo có chứa đựng những thông tin
kích thích trí tò mò của người đọc, sử dụng các từ gợi ý muốn tìm hiểm. Đặc
biệt, khi đặt vào chuyên mục “Lật giở những bí ẩn”, bài báo càng có một sức
hút hơn.
Tác phẩm được chia làm 3 phần lớn : “¼ thể kỷ và 8 lần khai
quật”, “Ai là chủ nhân?” và “Những báu vật trong thánh địa”. Ba phần này
gồm những ý riêng, có luận điểm từng phần khác nhau, nhưng đều nằm

22


trong một mạch nói về Trầm tích văn mình ở thánh địa Cát Tiên. Ở mỗi một
phần nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể, để người đọc có thể có được cái
nhìn toàn cảnh vấn đề bài báo muốn nói đến.
Trong phần “¼ thế kỷ và 8 lần khai quật”, nhà báo tập trung vẽ ra cho
người đọc toàn cảnh về vị trí địa lý và hướng đi đến khu trầm tích văn hoá
như một sự khởi đầu cho toàn bộ bài báo. Ở phần đầu này, người viết đã đưa
ra những thông tin cụ thể nhất, những ý cơ bản nhất khi tìm hiểu bất cứ một
địa danh nào như : Địa điểm, thời gian, lịch sử… Điều này rất thuận tiện cho
người đọc, vì nó phần nào giải đáp được những thắc mắc cơ bản của người
đọc, giúp cho họ nắm được những thông tin đầu tiên trước khi khám phá
những luận điểm chính nhất của bài báo, ví dụ như:



từng cho rằng, thánh địa này là bản địa cổ xưa của người Mạ - cư dân lâu
đời độc nhất quanh di tích này.


Nhiều ý kiến khác cho rằng, đây là một tiểu quốc của Phù Nam

hoặc là một quốc gia riêng từng tồn tại song song với Phù Nam, Chân Lạp.


Mọi đền tháp đều hướng về phía đông, trước đền là những sân

gạch lớn làm nơi để hành lễ, có lối ra được xây, lát gạch đến tận bờ sông và
nối các cụm gò di tích với nhau.
Đến phần cuối “Những báu vật trong thánh địa”, tác giả vẫn tập trung
phân tích một khía cạnh nổi bật trong bài báo.


1,140 hiện vật các loại được phát hiện với liều chất liệu khác

nhau như vàng (các mảnh phù điêu, nhẫn, linga nhỏ), bạc và thiếc (bình, vỏ),
đồng (gương, đĩa, chân. Đèn, chũm choẹ, chuông, vòng, nhẫn, mặt người,
cánh tay, gương….)….


Trong một hố chứa đầy tro, có tám lá vàng, chạm hình voi và

rùa xếp ở bốn cạnh và bốn góc cùng một lá vàng chạm hình rắn Naga bảy
đầu uốn hình vòng cung.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status