Hc vin Bỏo chớ v Tuyờn truyn
Khoa Quan H Cụng Chỳng v Qung Cỏo
Tiểu luận
Nhaọp moõn baựo chớ
*****
ti: ngôn ngữ trên báo chí
H tờn: Vũ Hoàng Phong
Lp : Quaỷng Caựo_K28
GVHD: Th.s Phạm Hải Chung
H Ni, thỏng 4 nm 2008
M U
Trong thời đại hiện nay, báo chí thế giới đang phát triển với một tốc độ
chóng mặt. Bắt đầu với tờ báo chỉ là bản chép tay, đến những bản báo in đầu
tiên; sau đó đã xuất hiện thêm các loại hình báo chí mới như: báo phát thanh,
truyền hình, báo mạng điện tử
Mỗi loại hình báo chí đưa đến cho công chúng một cách tiếp cận thông tin
khác nhau: báo in đưa thông tin qua chữ viết và hình ảnh trên mặt giấy; báo phát
thanh truyền thông tin đến tai người nghe; truyền hình đưa tin bằng cả hình ảnh
lẫn âm thanh; còn báo mạng có thể đăng được những thông tin bằng cả chữ viết,
âm thanh, hình ảnh tĩnh và động nhờ vào Internet. Chính cách đưa thông tin đa
chiều này đã giúp báo chí dần trở thành “quyền lực thứ tư” trong xã hội, sau
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Chúng ta có thể khẳng định rằng ảnh hưởng của báo chí trong xã hội hiện
đại là vô cùng lớn. Chính vì vậy, trách nhiệm của nó cũng không hề nhỏ. Ngoài
khả năng cung cấp thông tin và định hướng dư luận, báo chí còn có trách nhiệm
góp phần định hình ngôn ngữ, đặc biệt là những tờ báo được viết cho giới trẻ.
Ngôn ngữ báo chí không phải là một vấn đề mới, nó đã được đào sâu
nghiên cứu theo từng góc cạnh, từng thời kỳ phát triển. Nhưng trong thời đại
bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, đây lại là một vấn đề nóng cần có
quan tâm của toàn xã hội. Tiếng Việt đang dần bị ăn mòn bởi thứ ngôn ngữ lai
căng, thiếu trong sáng, pha tạp của một bộ phận người trẻ. Do đó, báo chí phải
I - CÁC TÍNH CHẤT CỦA NGÔN NGỮ BÁO CHÍ
3
Như chúng ta đã biết, chức năng cơ bản, có vai trong quan trọng hàng đầu
của báo chí là thông tin. Báo chí phản ánh hiện thực thông qua việc đề cập đến
các sự kiện. Nếu không có sự kiện thì không thể có tin tức báo chí. Do vậy, nét
đặc trưng nhất của ngôn ngữ báo chí chính là có tính sự kiện. Chính nó đã tạo
nên ở ngôn ngữ báo chí những tính chất cụ thể sau:
1) Tính chính xác:
Đối với ngôn ngữ báo chí, đây là tính chất đặc biệt quan trọng. Vì báo
chí có chức năng định hướng dư luận xã hội. Chỉ cần một sơ suất nhỏ nhất
cũng có thể làm cho độc giả hiểu sai thông tin, nghĩa là có thể gây ra những
hậu quả xã hội nghiêm trọng không lường trước được. Có thể đưa ra dẫn
chứng: Sau chuyến tháp tùng một quan chức cao cấp sang thăm Trung Quốc,
một nhà báo đã viết một bài phóng sự, trong đó có câu: “Chúng tôi chia tay
với tình hữu nghị dạt dào của hai nước Việt - Trung”. Rõ ràng từ “với” ở đây
được dùng sai (vì cụm từ “chia tay với…” biểu đạt ý nghĩa “từ bỏ, từ giã”),
cần phải thay nó bằng từ “trong”.
2) Tính cụ thể:
Tính cụ thể của ngôn ngữ báo chí được hiểu là khi nhà báo miêu tả, tường
thuật sự việc, phải cụ thể, cặn kẽ đến từng chi tiết nhỏ. Có như vậy người đọc,
người nghe mới có cảm giác mình là người trong cuộc, đang trực tiếp được
chứng kiến những gì nhà báo nói tới trong bài báo.
Mỗi sự kiện được đề cập trong tác phẩm báo chí phải gắn liền với một
không gian, thời gian xác định; với những con người xác định (có tên tuổi, nghề
nghiệp, chức vụ, giới tính…cụ thể). Do đó, trong ngôn ngữ báo chí nên hạn chế
tối đa việc dùng từ có tính chất mơ hồ như: “một người nào đó”, “ở một nơi nào
đó”, “vào khoảng”, “hình như”,…
3) Tính đại chúng
4
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng. Tất cả mọi người trong xã hội,
- Bỏ “các”, “những” nếu có thể
- “Chặt” chữ trong từ nếu được: “thành lập”, “sang thăm”, “phòng chống”,
“tham dự”,
- Tránh câu bị động
- Không nhất thiết lúc nào cũng phải nói là Việt Nam
6) Tính biểu cảm:
Tính biểu cảm trong ngôn ngữ gắn liền với việc sử dụng những từ ngữ mới
lạ, giàu hình ảnh, in đậm dấu ấn cá nhân…Ví dụ như:
“Sông Tô mà không lịch”. (Báo Văn Hoá, 17/05/1999)
Nếu ngôn ngữ báo chí không có tính biểu cảm, chỉ là những chuỗi thông tin
khô khan thì nó khó có thể thu hút được sự chú ý của độc giả. Tính biểu cảm tác
động mạnh mẽ tới tâm hồn người nghe, làm cho họ có những trạng thái cảm xúc
nhất định theo như người viết mong đợi.
7) Tính khuôn mẫu:
Trong văn phong báo chí, ta rất hay gặp những dạng tin như:
- Theo AFP, ngày…tại…trong cuộc gặp gỡ…Tổng bí thư…đã kêu gọi…
- TTXVH, ngày…người phát ngôn Bộ Ngoại giao…cho biết…
Đây chính là tính khuôn mẫu của báo chí, thường bao gồm 6 câu hỏi: Ai?
Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Bao giờ? Như thế nào? Tại sao?
Yếu tố khuôn mẫu không đi một mình. Nó thường được kết hợp với thành
tố biểu cảm, nên ngôn ngữ báo chí thường mềm mại, hấp dẫn chứ không hề khô
khan như trong một văn bản khoa học hay văn bản hành chính.
II - HAI LOẠI HÌNH BÁO CHÍ TIÊU BIỂU
1. Báo in
6
Báo in
(nguồn:homepages.which.net)
Báo mạng
(nguồn:vietnamnet.vn)
Ra đời: Báo in (hay báo viết) là loại hình
nhanh nên còn nhiều sai sót về cả nội dung lẫn hình thức.
Phương tiện biểu đạt: phần lớn là chữ viết, ngoài ra còn có âm thanh,
hình ảnh tĩnh hoặc hình ảnh động.
Do báo in và báo mạng có phương tiện chuyển tải thông tin
chính đều là chữ viết nên chúng mang những đặc điểm giống nhau
về cả hình thức, kết câu, lỗi sai…
3. Kết cấu chung của một bài báo
a) Tít báo:
Tít (title) là phần độc giả đọc trước tiên khi bước vào bài báo, cho độc giả
biết chuyện gì đã xảy ra và vì sao họ phải quan tâm đến nó. Nếu tít viết hay,
độc giả sẽ tiếp tục đọc bài báo; nhưng nếu viết hỏng, toàn bộ phần dưới sẽ bị
bỏ qua.
Tít báo luôn phải đảm nhận nhiệm vụ là thu hút người đọc, vì vậy ngôn
từ khi viết tít phải có sự sắc sảo và hấp dẫn.
Tít phải đảm bảo tính ngắn gọn, không quá dài dòng, không đưa những
thông tin phức tạp và nhiều con số. Vì vậy, số lượng từ dành cho tít
phải được cân nhắc kỹ và nên lấy từ nội dung của bài viết.
Tránh dùng những câu từ sáo rỗng hay viết theo lối chơi chữ. Điều này
sẽ làm cho độc giả cảm thấy khó chịu. Đặc biệt cần giảm thiểu tối đa
việc viết tắt trên tít vì nó sẽ làm ảnh hưởng đến tính rõ ràng cả bài báo.
Sự chính xác cả về nội dung, chính tả hay ngữ pháp luôn là điều cần
thiết đối với một tít báo.
b) Sapô:
8
Sapô (chapeau) theo tiếng Pháp có nghĩa là “cái mũ”. Thật vậy, nó có
phần nào đó giống như cái mũ của một bài báo, xuất hiện sau phần tiêu đề và
trước nội dung bài báo. Sapô thường là một văn bản hoàn chỉnh, bao gồm một
câu hay một vài câu. Nó mang lại cho độc giả khái niệm chung nhất về đề tài
của bài báo và thu hút sự chú ý của người đọc.
Đặc thù của báo chí là một bài báo thường được viết trong vài giờ, được
này, điển hình như:
“Phong trào rộ lên bắt đầu từ những du học sinh từ nước ngoài
về, những cậu ấm cô chiêu bắt trước dân nghiền qua phim ảnh.”
(Đêm chơi của những cậu ấm cô chiêu; VNExpress, 29/12/2006)
Động từ “bắt chước” nghĩa là “làm theo một cách rập khuôn, máy móc”
còn “bắt trước” thì không hề thấy trong từ điển, phải chăng nó mang hàm ý
“không bắt sau” ?!
“14h30’ ngày 27/3, cơn lốc có kèm theo mưa đá đã tràn qua
huyện miền núi Nam Đông trên diện rộng (Thừa Thiên Huế: Mưa lốc
quấn bay 354 ngôi nhà, VietNamNet, 29/3/2005)”
Chữ này phải thay bằng "cuốn bay". Theo như giải thích trong từ điển
Tiếng Việt có nghĩa là "kéo đi theo trên đà chuyển động mạnh". Có thể tác giả
đã đồng nhất “cuốn” và “quấn” vì cách đọc của hai từ này là gần giống nhau.
“Tôi viết về “chuyến đi định mệnh” của tôi để mong tìm gặp lại
người mà tôi gọi là “quý nhân phù trợ” trong lúc xa cơ.”
(Chuyến đi định mệnh; Thể thao & Văn hóa ngày 20/2/2009, trang 20)
Tra trong từ điển tiếng Việt chỉ có từ "sa cơ": rơi vào tình thế rủi ro, không
may… không hề có từ "xa cơ".
10
b) Lỗi sai về dấu thanh điệu:
Có hai kiểu lỗi thường gặp về dấu thanh điệu, đó là:
- Nhầm lẫn giữa dấu hỏi và dấu ngã, chủ yếu thường gặp trên các báo
của các tỉnh miền Trung, miền Nam. Chẳng hạn “kỹ năng” được viết thành
“kỷ năng”, “vẩn vơ” thành “vẫn vơ”. “nghĩ” thành “nghỉ”,…
- Đánh sai vị trí dấu thanh điệu, điển hình như: “hoà” bị chuyển thành
“hòa”, “thuỷ” thành “thủy”, “quí” thành “qúy”,…
c) Lỗi về diễn đạt:
Lỗi diễn đạt ở đây có thể hiểu là lỗi sai về tư duy logic. Nó khiến cho
việc tiếp nhận thông tin của độc giả trở nên khó khăn nếu không muốn nói họ
không thể hiểu được tác giả viết gì. Có thể chia những câu văn mắc phải lỗi
(Nguyễn Ngọc Tư đoạt giải ASEAN: "Tôi thường treo thưởng cho mình bằng
tiền" - Thể Thao & Văn Hóa ngày 12/9/2008)
Chỉ cần đọc qua thôi cũng đã thấy được lỗi sai của câu trên. Nội dung
hai vế câu “Tuy…nhưng” không hề có một sự liên hệ nào về mặt ý nghĩa
với nhau.
Lỗi sai quy chiếu:
Là bạn đọc thường xuyên, những năm qua báo Nhân Dân đã cung
cấp cho tôi
nhiều kiến thức bổ ích.
(báo Nhân Dân)
12
Điều vô lý ở đây là báo Nhân Dân không thể là bạn đọc của chính nó.
Cần phải sửa như sau:
Là bạn đọc thường xuyên, những năm qua tôi đã được báo Nhân Dân
cung cấp nhiều kiến thức bổ ích.
Trên đây là một số kiểu lỗi thường gặp trên mặt báo. Trong nhiều trường
hợp, nó có thể gây ấn tượng xấu đối với độc giả và làm giảm uy tín của cả tờ
báo. Chính vì vậy, vấn đề này cần được quan tâm hơn nữa bởi người viết
cũng như những người làm công tác biên tập.
5. Một số điểm cần chú ý trong ngôn ngữ báo chí
a) Viết tắt:
Đối với các từ hay cụm từ được sử dụng lặp đi lặp lại trong một bài báo
hay văn bản nói chung, viết tắt không chỉ tiết kiệm được thời gian và công
sức mà còn giúp đáp ứng yêu cầu về trình bày (diện tích khổ báo hạn chế,
đảm bảo sự hài hòa, cân xứng giữa các thành tố ngôn ngữ…).
- Kiểu viết tắt phổ biến nhất hiện nay là viết các chữ cái đầu tiên của
các âm tiết có trong tên gọi.
Ví dụ: xã hội chủ nghĩa XHCN; ủy ban nhân dân UBND; Word
Trade Organization WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới);…
- Kiểu viết tắt thứ ba kết hợp một âm tiết của từ này với một âm tiết
của từ khác để tạo nên một từ ghép mới rồi gán cho nó ý nghĩa của các từ
nguyên gốc.
Ví dụ: kiểm chứng = kiểm
tra + chứng
minh; khảo thí = khảo
sát + thí
nghiệm; tương thích = tương
ứng + thích
hợp;…
Đây là kiểu viết tắt không nên sử dụng trong giao tiếp nói chung cũng
như trong địa hạt báo chí vì nó gây nhiều trở ngại cho việc tiếp cận thông tin
của công chúng. Thực tế cho thấy không ít người tỏ ra ngỡ ngàng khi bắt gặp
những từ như: quan chiêm (quan sát + chiêm ngưỡng), điều nghiên (điều tra +
nghiên cứu), cụ tỉ (cụ thể + tỉ mỉ), Nếu cần thiết, chúng ta chỉ nên dùng
những chữ tắt đã có sẵn, thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông
tin đại chúng và ý nghĩa của nó đã được mọi người chấp nhận.
14
b) Viết hoa:
Có một số quy tắc viết hoa cơ bản đã được thừa nhận và đang được sử
dụng rộng rãi trong xã hội:
- Viết hoa tên người:
+ Đối với tên người nước ngoài, chỉ cần viết hoa chữ cái đầu ở mỗi bộ
phận của tên.
Ví dụ: Vladimir Putin, Bill Clinton, Victo Hugo,…
Chủ nghĩa Việt Nam);
c) Dấu câu trong tiếng Việt:
Dấu câu là một thành phần không thể thiếu được trong bất kỳ một văn bản
nào, cho dù văn bản đó chỉ gồm một câu hay dài hàng chục trang. Hiện nay
trong tiếng Việt tồn tại 10 loại dấu câu, bao gồm: dấu chấm (.), dấu chấm hỏi
(?), dấu chấm than (!), dấu phẩy (,), dấu chấm phẩy (;), dấu chấm lửng (…),
dấu gạch ngang (-), dấu hai chấm (:), dấu ngoặc đơn (( )), dấu ngoặc kép (“ ”).
- Dấu chấm: đứng ở cuối các câu trần thuật, ví dụ:
Chúng đi xe hiện đại, sử dụng điện thoại di động hiện đại, sử dụng intenet
siêu tốc và máy vi tính hiện đại. Ngay cả đồ chơi và trò chơi chúng cũng không
còn chơi những đồ chơi và trò chơi của các thế kỉ trước
(Cần sự nổi dậy của tư duy khoa học; Dantri.com, 08/09/2008)
- Dấu chấm hỏi: đứng ở cuối câu hỏi, ví dụ:
Vậy theo ông, những đòi hỏi bức xúc đó là gì?
Dấu chấm hỏi được đặt trong ngoặc đơn thể hiện sự hoài nghi, ví dụ:
16
Vậy mà vị trưởng phòng nọ khẳng định ông ta không hề hay biết về chuyện này (?)
(Báo lao động)
- Dấu chấm than: dùng để kết thúc câu cảm thán hay câu cầu khiến, ví dụ:
Hãy giúp họ kéo dài thêm sự sống!
(Báo Văn hoá)
Bên cạnh đó, dấu chấm than còn được dùng trong cả câu gọi và đáp, ví dụ:
- Hoàng!
-Vâng!
Nếu dấu chấm than được dùng trong ngoặc đơn (có thể được kèm với dấu
chấm hỏi) thì nó sẽ biểu đạt sắc thái ngạc nhiên hay mỉa mai, châm biếm, ví dụ:
Một giám đốc bệnh viện nói rằng tình trạng xuống cấp của các cơ sở y
tế cũng giống như bệnh ung thư, chưa có thuốc chữa (!)
- Dấu phẩy: dùng để phân cách với các vế câu, các thành phần cùng loại
hay nòng cốt câu với các thành phần phụ…, ví dụ:
tính cách. Tôi sống hòa đồng hơn, hạnh phúc và tự tin hơn. Tôi không thể tin
mình lại trở nên nhanh nhẹn như thế”.
(Thiếu nữ bự nhất nước Anh đã giảm được 77 kg; dantri.com, 15/04/2009)
- Dấu hai chấm: dùng để chỉ phần đứng sau có chức năng thuyết minh chú
giải cho phần đứng trước, hoặc báo hiệu một sự liệt kê.
Ví dụ:
“Hà Lội”: “Sóng” vô tình vỗ bạc đầu người
(“Hà Lội”: “Sóng” vô tình vỗ bạc đầu người; dantri.com, 03/11/2008)
- Dấu ngoặc đơn: dùng để phân cách phần chú thích với các phần khác
hoặc đóng khung bộ phận chỉ nguồn gốc lời trích dẫn. Ví dụ:
18
Ông Hồ Phúc Hợp - Chủ tịch UBND huyện Quỳnh Lưu cho hay, chiều nay
(27/4), UBND cùng các tổ chức đoàn thể trong toàn huyện đã có mặt tại gia
đình ông Nguyễn Văn Hải, xã Tiến Thủy (huyện Quỳnh Lưu) để cùng gia đình
và bà con làng xóm đưa ông Hải về nơi an nghỉ cuối cùng.
(Vớt được xác một trong hai ngư dân mất tích; dantri.com, 27/04/2009)
- Dấu ngoặc kép: dùng để đánh dấu lời trích dẫn trực tiếp; đóng khung tên
riêng, tên tác phẩm; đánh dấu những từ ngữ được hiểu theo nghĩa khác…
Ví dụ:
Liên quan đến vụ 3 xe sang “chập” biển tứ quý 8888, Đại tá Trần Anh
Dũng - Giám đốc Công an tỉnh Vĩnh Phúc khẳng định: “Việc Phòng CSGT cấp
đổi biển số tứ quý 8 cho 3 xe là chưa đúng và sẽ kỉ luật những cán bộ liên quan
của phòng này”.
(Thu hồi biển số 88H-8888, kỉ luật cán bộ liên quan; dantri.com, 27/4/2009)
Ngoài 10 loại dấu câu đã liệt kê ở trên, còn có một số cách ghép các dấu
câu với nhau tạo nên sắc thái biểu cảm cao hơn. Ví dụ như: dấu “?!” biểu thị
sự hoài nghi và ngạc nhiên trước một sự việc gì đó.
Lỗi sai về dấu câu:
Các lỗi sai về dấu câu thường gây trở ngại rất lớn cho người đọc. Chỉ
thiếu hoặc thừa một dấu nào đó thôi cũng làm cho câu trở nên khá mơ hồ
căng kể trên ở các tờ báo nổi tiếng dành cho học sinh, sinh viên như Hoa Học Trò,
Sinh Viên, 2!…Phải chăng những báo này chịu “uốn mình” theo xu hướng của một
bộ phận giới trẻ để rồi quên mất trách nhiệm định hình ngôn ngữ cho độc giả ?!
20
* Trách nhiệm của người làm báo trong việc giữ gìn sự trong sáng của
Tiếng Việt:
- Nhà báo cần nắm vững những kiến thức cơ bản liên quan tới việc sử dụng
tiếng Việt, bao gồm: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách. Chỉ khi nắm bắt
được, hiểu được những kiến thức về ngôn ngữ tiếng Việt, nhà báo mới có thể viết
đúng, nói đúng; chưa viết đúng, nói đúng thì cũng chưa thể viết hay được.
- Nhà báo cần hạn chế tối đa việc vay mượn những từ ngữ nước ngoài. Nó
không chỉ gây cản trở đối với đối tượng độc giả không biết ngoại ngữ mà còn làm
cho bài báo trở nên khó hiểu khi dùng sai nghĩa của từ.
- Nhà báo cần có một trình độ ngoại ngữ nhất định. Nó mang đến cho họ rất
nhiều lợi ích, nhất là trong thời kỳ đa phương hoá, toàn cầu hoá như hiện nay. Bên
cạnh đó, khi đã có ngoại ngữ, nhà báo có thể quy chiếu một cách chính xác những
từ, tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Các ngoại ngữ phổ biến như Anh, Pháp,
Nga đều có tính khoa học và chính xác cao. Học được điều này sẽ giúp cho nhà
báo sử dụng tiếng Việt một cách khúc chiết, mạch lạc, tránh sự dài dòng, cầu kỳ
không cần thiết.
21
IV - KẾT LUẬN
Những vấn đề ngôn ngữ xoay quanh hai loại hình báo kể trên mới
chỉ nghiêng về phương diện chữ viết - phương diện ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình gìn giữ tiếng Việt trong thời đại hiện nay. Nhưng
nói về ngôn ngữ báo chí, chúng ta còn phải kể đến ngôn ngữ nói của
người dẫn chương trình trên sóng phát thanh và truyền hình. Tất
nhiên, đó lại là một vấn đề “nhức nhối” khác của ngôn ngữ báo chí,
cần có sự quan tâm đúng mực của đội ngũ những người làm báo.
Ngôn ngữ của một dân tộc là ngôn ngữ đa bản sắc, đặc trưng cho