Truyền thống yêu nước – giá trị văn hóa bất biến của dân tộc Việt Nam - Pdf 36

Truyền thống yêu nước – giá trị văn hóa bất biến của dân tộc Việt Nam
PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc nhấn mạnh lịch sử dân tộc Việt Nam đã được định
hình từ rất sớm, với những truyền thuyết nổi tiếng, gắn với những truyền thống,
giá trị văn hóa, nhân văn của dân tộc. Trong đó, truyền thống yêu nước được hun
đúc và trở thành một trong giá trị văn hóa bất biến của dân tộc.
PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc (Ảnh: TH)
1. Ngay từ thời Hùng Vương dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải chống các thế lực
xâm lược như giặc An, ngoại bang xâm chiếm bờ cõi. Qua các cuộc đấu tranh bảo vệ
đất nước, dân tộc Việt Nam đã được rèn đúc ý chí chống xâm lược. Trong quá trình
chống xâm lược, xây dựng và phát triển đất nước, đã định hình ra các nền văn hóa tiêu
biểu. Đó là văn hóa Hùng Nguyên, văn hóa Đồng Đậu, văn hóa Gò Mun, văn hóa Đông
Sơn. Đây là đỉnh cao để định hình nền văn minh sông Hồng với 4 yếu tố quan trọng:
Phát triển lực lượng sản xuất thời đại đồ đồng; định hình ra nền nông nghiệp lúa nước;
phát triển giá trị văn hóa, đặc biệt là cộng đồng làng xã, ứng xử văn hóa làng xã; định
hình ra Nhà nước dân chủ sơ khai, cố kết các thành viên trong xã hội, trong cộng đồng.
Thế giới đã công nhận nền văn minh sông Hồng là 1 trong 33 nền văn minh cổ đại của
nhân loại. Dân tộc Việt Nam hoàn toàn có quyền tự hào về những giá trị văn hóa như
vậy.
2. Sau này, khi bị thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược, nước Âu Lạc rơi vào tay
phương Bắc, bị phương Bắc thống trị kéo dài tới 1117 năm. Sau năm 938, Ngô Quyền
mới giành lại độc lập. Trong thời kỳ Bắc thuộc đen tối, vẫn sáng ngời lên giá trị văn
hóa yêu nước. Đó là khởi nghĩa của các vị tướng như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí,
Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền… đã
giành lại độc lập cho đất nước.
Bước vào thời kỳ phong kiến, bị Bắc thuộc kéo dài hơn 11 thế kỷ, vì sao dân tộc Việt
Nam vẫn giành lại được độc lập chủ quyền? PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc cho rằng,
ngoài lý giải về sức mạnh về quân sự, kinh tế, cần phải khẳng định về sức mạnh văn
hóa, đã làm thất bại ý đồ đồng hóa về văn hóa của phương Bắc, giữa gìn nền văn hóa,
văn minh của dân tộc. Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng để Việt Nam không bị đồng hóa
bởi văn hóa phương Bắc.
Dưới thời chế độ phong kiến, khi nước ta giành được độc lập từ thế kỷ thứ X đến thế

cường bạo”. Hay “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Con người Việt Nam ăn ở với
nhau có nhân nghĩa, tình nghĩa, hiếu nghĩa, đối với bên ngoài là đại nghĩa.
Một yếu tố quan trọng, tạo ra sự thành công trong việc chống giặc xâm lược dưới thời
đại phong kiến chính là văn hóa đồng thuận trong xã hội, đoàn kết, ứng xử tốt trong xã
hội, tạo ra sự đồng lòng nhất trí, cùng hướng về mục tiêu nhất định như Trần Hưng
Đạo đã khẳng định: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức. Đấy
chính là thượng sách về giữ nước”. Và các bậc ông cha đi trước đã đúc kết thành 4 chữ
tạo nên xã hội: “khoan – giản – an – lạc”, là khoan dung, giản dị, hòa đồng; làm cho
đời sống của người dân tốt đẹp sung sướng, tạo ra sức mạnh của xã hội. Với sức mạnh
ấy, dân tộc Việt Nam đã đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.
3. Thời đại Hồ Chí Minh, Đảng và Bác Hồ đã kế thừa và nêu cao tinh thần dân tộc, văn
hóa yêu nước đã được kết tụ lại hàng nghìn năm qua.
Năm 1945- 1946, thực dân Pháp quay lại xâm lược Nam bộ. Ngoài Bắc, 20 vạn quân
của Tưởng Giới Thạch kéo vào với các chính sách diệt cộng, cầm hồ, tiêu diệt và bắt
giam các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta. Lúc đó Bác đã rất chủ động, áp dụng
chính sách khoan hòa, hòa hoãn. Bác đã tuyên bố chính sách “Hoa - Việt thân thiện” để
tạm hòa với quân Tưởng, tập trung đánh giặc Pháp ở miền Nam. Sau đó, Bác lại chủ
trương hòa với Pháp để gạt quân Tưởng về nước, tranh thủ tối đa khả năng hòa bình.
Đó là những minh chứng khẳng định khát vọng hòa bình của dân tộc, thể hiện văn hóa
ứng xử khoan hòa của nước vừa giành được độc lập chính nghĩa, nhưng rất chủ động
để ổn định hòa bình. Trong đường lối, trong quan điểm, trong ứng xử, dân tộc ta lúc
nào hết sức nhũn nhặn để giữ hòa bình.
Trong thư gửi cho đồng bào Nam bộ năm 1945, Bác Hồ đã nói: “Chúng ta là quang
minh chính đại, chúng ta chỉ đòi quyền độc lập tự do của chúng ta thôi chứ không gây
tư thù, tư oán gì cả. Chúng ta phải tỏ rõ cho thế giới biết rằng dân tộc chúng ta là dân
tộc văn minh, văn minh hơn những kẻ đi xâm lược”. Đây chính là những ý tưởng rất
quan trọng trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước thế giới.
Khi viết thư cho Mỹ, Bác cũng nhấn mạnh: “Quan điểm của chúng tôi là giữ vững độc
lập, nhưng hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ”. Có thể nói đó là những chính sách hết sức
cởi mở. Năm 1946, Bác đã tuyên bố những luận điểm rõ ràng: Việt Nam thực hiện

biến, ứng vạn biến”. Cái bất biến của chúng ta hiện nay chính là độc lập, chủ quyền của
dân tộc mình. Là của mình thì một tấc đất trên bộ, một con sóng ngoài biển chúng ta
cũng phải giữ. “Ứng vạn biến” là chúng ta phải linh hoạt mềm dẻo, theo tinh thần
“đoàn kết, đồng thuận trong xã hội, tỏ cho thế giới biết rằng dân tộc Việt Nam là dân
tộc hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển”. Đó là tư tưởng xuyên suốt từ thời đại dựng
nước, giữ nước của ông cha ta từ trước, đến thời đại ngày nay – thời đại Hồ Chí Minh.
của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Những bài học lịch trong truyền thống đấu tranh
dựng nước và giữ nước vẫn còn nguyên giá trị cho tình hình mới hiện nay




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status