TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
MAI TUẤN KHẢI
KHẢO SÁT NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA
GIỐNG GÀ NÒI BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN
58-69 TUẦN TUỔI
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: CÔNG NGHỆ GIỐNG VẬT NUÔI
Cần Thơ, 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: CÔNG NGHỆ GIỐNG VẬT NUÔI
KHẢO SÁT NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA
GIỐNG GÀ NÒI BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN
58-69 TUẦN TUỔI
Giáoviênhướngdẫn:
Sinhviênthựchiện:
PGs.Ts. NguyễnTrọngNgữ
Cần Thơ, ngày...tháng...năm 2014
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả
MAI TUẤN KHẢI
i
LỜI CẢM TẠ
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Cần Thơ, tôi đã nhận
được sự quan tâm, giúp đỡ chân thành từ quý thầy cô, gia đình và bạn bè, giúp
cho tôi có được kiến thức trong công việc cũng như trong cuộc sống, cùng với
sự nỗ lực của bản thân, hôm nay tôi đã hoàn thành luận văn tốt nhiệp, tôi xin
chân thành gửi lời cảm tạ đến:
Cha mẹ, người đã sinh ra và là nguồn động lực lớn nhất giúp tôi vượt qua
khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống.
Thầy Nguyễn Trọng Ngữ đã tận tình hướng dẫn, giải đáp thắc mắc, động
viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp.
Cô Nguyễn Thị Kim Khang-cố vấn học tập lớp Công Nghệ Giống Vật
Nuôi K37 đã dạy dỗ, giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
tại trường.
Gia đình anh Châu Thanh Vũ và chị Lưu Huỳnh Anh ở huyện Bình
Minh, tỉnh Vĩnh Long đã luôn ở bên cạnh giúp đỡ và chia sẽ những kinh
quả/mái/tuần, khối lượng trứng trung bình đạt 52,3g và chỉ số hình dạng trung
bình đạt 73,7%.
Từ kết quả trên cho thấy năng suất trứng của nhóm gà thí nghiệm cao
hơn so với một số nghiên cứu trên gà Nòi ở đồng bằng sông Cửu Long. Xét về
chỉ số hình dạng và khối lượng trứng thì của trứng gà Nòi Bình Định đạt tiêu
chuẩn tốt.
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................ i
LỜI CẢM TẠ .............................................................................................. ii
TÓM LƯỢC................................................................................................. iii
MỤC LỤC ................................................................................................... iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG .................................................................................... vii
DANH MỤC HÌNH ................................................................................... viii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ ............................. Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN ....................... Error! Bookmark not defined.
2.1 Đặc điểm sinh học của gia cầm ............. Error! Bookmark not defined.
2.2 Khả năng sinh sản của gia cầm..............................................................4
2.2.1 Sức đẻ trứng của gia cầm .................................................................5
2.2.2 Sức sinh sản của gia cầm .................................................................9
2.3 Giới thiệu chung về gà Nòi ..................................................................11
2.3.1 Tập tính sinh học của gà Nòi ......................................................... 12
2.3.2 Thức ăn ......................................................................................... 12
2.4 Khả năng sản xuất của gà Nòi .............................................................. 14
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ......... 15
3.1 Phương tiện.......................................................................................... 15
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Kí hiệu
Ý nghĩa
TB
Trung bình
ĐBSCL
Đồng bằng sông Cửu Long
NST
Năng suất trứng
TLTT
Tỷ lệ thụ tinh
TLN
Tỷ lệ nở
TLTG
Tỷ lệ trứng giống
khá cao so với các vùng khác, cộng thêm tập quán ăn uống và nhu cầu sử dụng
thịt, trứng ngày càng cao… là những lợi thế làm cho khu vực này trở thành thị
trường tiêu thụ rộng lớn. Sự thuận lợi về thiên nhiên, khí hậu, đất đai đã làm
cho ngành chăn nuôi nơi đây có rất nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là chăn
nuôi gà theo phương thức thả vườn.
So với gà công nghiệp, gà thả vườn rất dễ nuôi, có sức chống chịu bệnh
cao có khả năng tận dụng thức ăn, chất lượng thịt thơm ngon, đầu tư chuồng
trại thấp. Vì vậy, việc phát triển ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gà thả
vườn ngày càng được xã hội quan tâm.
Gà Nòi là giống gà thả vườn có nhiều ưu điểm như: sức đề kháng cao,
thích nghi tốt với điều kiện chăn thả ở nước ta, da vàng, thịt thơm ngon săn
chắc, ít mỡ, ít cholesteron, đùi to, thịt ức dày,… thịt gà Nòi ngày càng được thị
trường nội địa tiêu thụ mạnh, không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm trong nước
mà còn có tiềm năng xuất khẩu, số lượng người nuôi và quy mô nuôi ngày
càng lớn. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu khoa học về năng
suất sinh sản của giống gà này.
Chính vì vậy đề tài “Khảo sát năng suất sinh sản của giống gà Nòi
Bình Định giai đoạn 58-69 tuần tuổi” được tiến hành với mục tiêu ghi nhận
các chỉ tiêu năng suất sinh sản của nhóm gà Nòi Bình Định nuôi tại Vĩnh
Long.
1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Đặc điểm sinh học của gia cầm
Tổ tiên của gia cầm là các loài chim hoang dại, tiến hóa lên từ lớp bò sát
nên chúng còn mang rất nhiều đặc điểm của lớp động vật này. Mặt khác cũng
là một loại vật nuôi nhưng những đặc điểm sinh học của gia cầm khác xa so
với gia súc và liên quan đến các hoạt động chăn nuôi của con người. Do đó, để
xương sống cổ, xương ngực, xương hông (lưng khum) và xương đuôi. Cấu tạo
bộ xương gia cầm được trình bày ở Hình 2.2.
1
2
3
5
6
7
4
8
9
Hình 1. Sơ đồ hệ xương gà
1. Xương đầu; 2. Xương cổ; 3. Cột sống; 4. Xương lưỡi hái; 5. Xương cánh; 6. Xương đùi; 7. Xương
cẳng; 8. Xương bàn chân; 9. Xương ngón chân
(Nguồn: Nguyễn Thị Mai và ctv., 2009)
Xương ngực (xương lưỡi hái) ở gia cầm phát triển mạnh. Phần xương
này là nơi bám vào của những cơ có giá trị quý (cơ trắng). Ở ngỗng, vịt, mõm
xương ngực phát triển kém hơn, vì vậy chỗ bám của cơ là ở hai phía của
xương ngực; đà điểu không có xương này vì chúng không phải là chim bay mà
là chim chạy. Các phần còn lại của hệ xương như cánh, đùi, chân… được tạo
thành từ các xương riêng biệt và có sự kết hợp hài hòa với nhau.
Bộ xương của gia cầm mái là nơi dự trữ khoáng để tạo vỏ trứng. Trong
những xương dài có nhiều gai xốp trong tủy xương. Khi hoạt động sinh dục
và gà tây sáng hơn, còn ở thủy cầm thì sẫm hơn. Tốc độ chẩy của máu qua cơ
quy định màu của nó. Đùi có thịt màu sẫm trong khi ngực và cánh có thịt màu
trắng. Gà tây đi lại nhiều thì có thịt màu sáng hơn, trong khi thủy cầm tất cả
thịt đều có màu sẫm.
Độ lớn của tế bào cơ biến động từ 10-100mm, chiều dài từ 6-12 cm. Các
tế bào cơ chứa 70-75% nước, 17-19% protein, 1-7% các hợp chất không chứa
nito, khoàng 1% chất khoáng và 3,9% là mỡ.
2.2 Khả năng sinh sản của gia cầm
Theo Nguyễn Thị Mai (2009), trong chăn nuôi gia cầm, người ta chỉ
quan tâm đến các chỉ tiêu đẻ trứng mà không quan tâm đến các chỉ tiêu ấp nở.
Vì vậy thường chia ra sức sản xuất trứng và sức sinh sản.
4
2.2.1 Sức đẻ trứng của gia cầm
Sức đẻ trứng của gia cầm là số lượng trứng đẻ ra trong một thời gian
nhất định, có thể là một tháng, một vụ, một năm hay một đời của gà mái đẻ.
Có nhiều ý kiến và cách tính khác nhau. Hiện nay thường tính sức đẻ trứng
trong 365 ngày kể từ khi con gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên hoặc 500 ngày từ
khi con gia cầm nở ra.
Xác định khả năng đẻ trứng của gia cầm bao gồm việc đánh giá chất
lượng trứng, khả năng đẻ trứng và các chỉ tiêu về ấp nở (Bùi Hữu Đoàn,
2011).
2.2.1.1 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng trứng của gia cầm
a) Màu sắc vỏ trứng
Màu sắc vỏ trứng khác nhau tùy theo giống, dòng gia cầm. Thực tế nó
không ảnh hưởng đến chất lượng trứng song nó ảnh hưởng đến kỹ thuật soi
trứng khi ấp và thị hiếu của người tiêu dùng.
b) Khối lượng trứng
là hàm lượng Ca, P và vitamin D trong khẩu phần ăn của gà. Độ bền vỏ trứng
phải >3 kg, mật độ lỗ khí trung bình 130/cm2, đường kính lỗ khí 17-25µ.
2.2.1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của gia cầm
Để đánh giá sức đẻ trứng của gia cầm người ta thường dùng một số chỉ
tiêu như cường độ đẻ trứng, tỷ lệ đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng
a) Tuổi thành thục sinh dục
Tuổi thành thục sinh dục của gia cầm là thời gian từ khi gia cầm mới nở
đến khi đẻ quả trứng đầu tiên. Đối với đàn gia cầm, tuổi thành thục sinh dục là
tuổi của đàn gà khi đạt tỷ lệ đẻ 5%. Ngoài ra người ta còn tính tuổi đàn gà vào
các thời điểm có tỷ lệ 30-50%, đẻ đỉnh cao nhất. Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5% và đỉnh
cao của mỗi loài gia cầm là khác nhau. Có thể tham khảo ở Bảng 2.1.
Bảng 2.1. Tuổi (tuần) đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao 5% và đỉnh cao của một số
loại gia cầm.
Loại gia cầm
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ 5%
Tuổi đạt tỷ lệ đẻ đỉnh cao
Gà hướng trứng
20-22
29-32
Gà hướng thịt
22-24
32-34
c) Tỷ lệ đẻ trứng
Tỷ lệ đẻ trứng là tỷ lệ phần trăm giũa số trứng đẻ ra của đàn gà tại một
thời điểm nhất định và số gà có mặt tai thời điểm đó (còn gọi là số ngày gà).
Tỷ lệ đẻ trứng là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng trên tất cả các đàn gia
cầm. Từ các đàn giống gốc dòng thuần, các đàn giống ông bà, bố mẹ cho đến
các đàn giống thương phẩm.
Đồ thị biểu diễn tỷ lệ đẻ trứng trong một chu kỳ đẻ của gia cầm đều có
dạng giống nhau. Từ khi đàn gia cầm vào đẻ, tỷ lệ đẻ tăng dần lên và đạt đỉnh
cao. Sau đó tỷ lệ đẻ ổn định và giảm dần.
Công thức để tính tỷ lệ đẻ trứng:
Tổng số trứng được đẻ ra trong tuần (quả)
Tỷ lệ đẻ (%) =
x100
Tổng số mái có mặt trong tuần (con)
d) Năng suất trứng- NST (quả/mái)
Năng suất trứng là số trứng gia cầm đẻ ra trong một thời gian nhất định,
thường tính trong 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng hay 1 năm.
Công thức tính năng suất trứng:
Tổng số trứng đẻ ra trong kỳ (quả)
Năng suất trứng (quả/mái) =
Số mái bình quân có mặt trong kỳ (con)
e) Chu kì đẻ trứng
Chu kỳ đẻ trứng là số trứng đẻ ra liên tục trong vòng một số ngày. Thời
gian hình thành trứng càng dài thì chu kỳ đẻ trứng càng ngắn và ngược lại. Gia
cầm đẻ tốt thì chu kỳ đều và kéo dài.
2.2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm
a) Di truyền cá thể
Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đén sức đẻ trứng của gia cầm trong một
thịt người ta cũng tiến hành chọn giống theo hướng loại bỏ hoặc giảm đến
mức thấp nhất bản năng đòi ấp.
b) Giống, dòng gia cầm
Giống, dòng gia cầm có ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm.
Giống gia cầm khác nhau thì khả năng đẻ trứng cũng khác nhau. Những dòng
được chọn lọc thường cho sản lượng trứng cao hơn khoảng 15-20%.
c) Tuổi gia cầm
Tuổi gia cầm cũng liên quan đến năng suất trứng. Sản lượng trứng của gà
giảm dần theo tuổi, năm 2 giảm 15-20% so với năm nhất.
d) Thức ăn và dinh dưỡng
Muốn gia cầm có sản lượng trứng cao, sản lượng trứng tốt cần phải có
một khẩu phần ăn đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng. Quan trọng nhất
là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các acid amin, cân bằng các
chất khoáng và vitamin. Khẩu phần không đáp ứng đủ protein sẽ làm năng
8
suất trứng giảm xuống dẫn đến khối lượng trứng và tỷ lệ ấp nở thấp. Khẩu
phần thừa năng lượng sẽ làm gia cầm tích lũy nhiều mỡ, ảnh hưởng tới quá
trình tạo trứng.
e) Điều kiện ngoại cảnh
Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng của chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức đẻ
trứng của gia cầm. Trong đó nhiệt độ là quan trọng nhất, ở gà nhiệt độ thích
hợp cho quá trình đẻ trứng trong khoảng từ 18-24oC, tuy nhiên nhiệt độ thích
hợp nhất là 20oC.
Khi nhiệt độ dưới 20oC, gia cầm phải huy động thêm năng lượng để duy
trì thân nhiệt làm hiệu quả sử dụng thức ăn giảm xuống. Ngược lại nhiệt độ
trên 20oC, gia cầm có hiện tượng thải nhiệt, gia cầm phải tăng cường độ hô
hấp. Sự mất nhiều khí CO2 làm tăng khả năng nhiễm kiềm trong máu, điều này
Số trứng đẻ ra (quả)
Công thức được dùng trong thực tế sản xuất:
Số trứng có phôi (quả)
Tỷ lệ thụ tinh (%) =
x100
Số trứng được chọn ấp (quả)
b) Những yếu tố ảnh hướng đến tỷ lệ thụ tinh
+ Yếu tố di truyền
Loài giống và các cá thể khác nhau thì tỷ lệ thụ tinh cũng khác nhau. Kỹ
thuật nhân giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh. Nếu cho giao phối đồng
huyết thì sẽ làm giảm tỷ lệ thụ tinh.
+ Yếu tố dinh dưỡng
Nếu trong khẩu phần ăn không đầy đủ dinh dưỡng sẽ làm giảm tỷ lệ thụ
tinh. Nếu thiếu protein thì phẩm chất tinh dịch sẽ kém vì đây là nguyên liệu cơ
bản để hình thành tinh trùng. Nếu thiếu vitamin A, E làm cơ quan sinh dục
phát triển không bình thường, từ đó làm giảm tỷ lệ thụ tinh. Khẩu phần ăn cần
phải đầy đủ và cân bằng giữa năng lượng và protein, giữa các acid amin, giữa
các chất dinh dưỡng khác nhau.
+ Điều kiện ngoại cảnh
Nhiệt độ và độ ẩm cao hay thấp hơn so với quy định đều ảnh hưởng đến
tỷ lệ thụ tinh. Tỷ lệ thụ tinh của gia cầm thường cao vào mùa thu và mùa xuân,
giảm vào mùa hè nhất là vào những ngày nắng nóng. Khi độ ẩm chuồng nuôi
quá cao, làm chất độn chuồng ẩm ướt, gà dễ mắc bệnh ở chân, đường ruột,
hàm lượng khí độc trong chuồng tăng lên ảnh hưởng đến sức khỏe và giảm tỷ
lệ thụ tinh.
+ Tuổi gia cầm
Thường ở gà trống gia cầm đạt kích thước tối đa ở 28-30 tuần tuổi và đạt
Môi trường bên ngoài bao gồm toàn bộ các khâu kỹ thuật thuộc quy
trình ấp trứng (thu vào bảo quản trứng ấp; khử trùng máy ấp; kỹ thuật xếp
trứng vào máy ấp; nhiệt độ, độ ẩm, sự trao đổi khí, đảo trứng và làm mát trong
quá trình ấp) và chất lượng đàn bố mẹ.
2.3 Giới thiệu chung về giống gà Nòi
Về ngoại hình giống gà Nòi có tầm vóc lớn con, cao ráo, màu sắc lông
rất đa dạng. Da cổ da ức màu đỏ tía, da vùng nách màu vàng nhạt, đùi to, chân
không lông, chân thường có màu đen, vàng hoặc trắng. Do màu sắc lông rất đa
dạng nên tên gọi cũng thường dựa theo màu sác lông của chúng như: gà có sắc
lông màu đen gọi là gà ô, sắc lông màu đỏ gọi là gà điều, sắc lông màu trắng
gọi là gà nhạn, sắc lông màu gạch tàu gọi là gà khét, sắc lông màu lem luốc
như chim gọi là gà ó….(Nguyễn Văn Thưởng, 2004). Người nuôi gà đá (gà
chọi) thì chia gà Nòi làm 2 dòng: dòng gà đòn và dòng gà cựa.
Gà đòn
11
Thường màu sắc lông rất đa dạng có 5 màu sắc lông: ô, điều, nhạn, khét,
ó. Gà đòn, có tầm vóc vạm vỡ, đầu to, cổ trụi, mắt to đen, mặt hung dữ. Chân
to khỏe màu vàng nghệ, lông thưa, cứng, da cổ và da ức màu đỏ sậm, da vùng
nách cũng đỏ nhưnghơi nhạt màu hơn. Gà đòn thường không cựa hoặc cựa rất
ngắn.
Gà cựa
Có màu sắc lông hơi nghèo nàn chỉ có 2 màu lông: là điều và chuối. Gà
cựa có tầm vóc nhỏ con, chân nhỏ, nhưng cựa rất dài và sắc bén, lông nhiều,
bóng mượt phủ cả thân, đuôi dài chấm đất, rất lanh lẹ, bay nhảy giỏi (Việt
Chương và Nguyễn Việt Tiếng, 2001).
2.3.1Tập tính sinh học của gà Nòi
Giống gà Nòi còn mang nhiều tập tính hoang dã, nên không cần sự chăm
2.3.2.1 Lúa và các phụ phẩm
Lúa là loại thức ăn phổ biến nhất của gia cầm thường được sử dụng
nguyên dạng trong chăn nuôi vịt chạy đồng và gà thả vườn ở nông hộ. Lúa khi
xay xát cho ra nhiều phụ phẩm là thức ăn của nhiều vật nuôi. Theo số liệu của
`7,2 kg cám to và mịn; 0,8 kg phôi; 6,2 kg tấm; 0,8 kg bột vụn và 66 kg gạo.
Tấm được tách ra sau quá trình đánh bóng và có giá trị tương đương với
gạo lau. Gạo chứa càng nhiều tấm thì giá trị càng hạ nên tùy theo nhu cầu tiêu
thụ của con người mà tỷ lệ tấm xuất dùng trong chăn nuôi thay đổi. Tấm là
một thực liệu ngon miệng, giàu năng lượng nên được ưa dùng cho mọi vật
nuôi, đặc biệt nhờ giàu năng lượng và ít xơ nên rất có giá trị trong khẩu phần
nuôi gà đang lớn.
Cám gạo cũng là sản phẩm phụ phẩm của công nghiệp chế biến gạo.
Cám gạo được hình thành từ lớp vỏ nội nhũ, mầm phôi của hạt, cũng như một
phần từ tấm. Chất béo của cám có ảnh hưởng làm nhão mỡ vật nuôi và mềm
bơ sữa. Cám có thể đưa vào khẩu phần của gia cầm đến 25%. Cám có nguồn
B1 phong phú, ngoài ra còn có cả vitamin B6 và Biotin, đây là nguồn cung cấp
vitamin nhóm B cho gia cầm. Trong 1 kg cám có khoảng 22 mg vitamin B1,
13 mg B6 và 0,43 mg Biotin. Cám gạo chứa lượng xơ và dầu cao, đồng thời
chất béo trong cám rất dễ bị oxy hóa (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2001).
Thành phần dinh dưỡng của một số loại nguyên liệu thường được sử
dụng làm thức ăn nuôi gà Nòi được trình bày qua Bảng 2.1.
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của lúa, tấm và cám gạo.
Thành phần dinh dưỡng
DM
CP
EE
CF
Ca
P
Lysine
11,0
0,06
0,5
0,6
0,5
0,1
0,4
DM: Vật chất khô; CP Protein thô; EE : Béo thô; CF: Xơ thô (Nguồn: Nguyễn Thị Hồng Nhân, 2001)
13
2.3.2.2 Trùn đất
Trùn đất là thức ăn giàu dinh dưỡng cho gà, nhất là gà con ăn rất mau
lớn, đẻ sai. Vì trùn đất thành phần dinh dưỡng: CP 70%; Lipid 7- 8%; chất
đường 12-14%; tro 11-12% (tính theo vật chất khô). Ngoài ra trùn đất còn
tham gia làm đất tơi xốp, màu mỡ giúp đất trong vườn tơi xốp hơn (Nguyễn
Thị Thanh Huệ, 2001).
2.4 Khả năng sản xuất của gà Nòi
Theo Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (2001), giống gà Nòi được
nuôi ở khắp nơi trong cả nước thường được gọi là gà chọi. Đây là giống gà
được nuôi lâu đời ở các tỉnh Nam Bộ và chiếm khoảng 70% các giống gà thả
vườn (Nguyễn Minh Dũng và Huỳnh Hồng Hải, 2006). Giống gà Nòi được
người chăn nuôi rất ưa chuộng vì chúng có rất nhiều ưu điểm. Gà thích nghi
tốt với điều kiện chăn thả vì chúng có sức đề kháng cao và ít bệnh hơn so với
một số giống gà thả vườn khác. Tuy nhiên, gà Nòi lại chậm lớn nuôi 1 năm
tuổi gà mới trưởng thành và khối lượng cơ thể trống đạt 2,8-3,2 kg gà mái
nặng 2,0-2,2 kg. Năng suất trứng còn thấp trung bình 40-50 quả/năm và giống
gà Nòi bị lai tạp nhiều (Lê Hồng Mận, Hoàng Hoa Cương, 2005).