Phần I. MỞ ĐẦU
1.1.ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta ngành nông nghiệp có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát
triển của nước nhà, trong đó thì ngành chăn nuôi giữ một vị trí quan trọng dẫn
đến sự thành công đó, mà đáng kể là phải nói đến ngành chăn nuôi lợn. Mặc
dù trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng ngành chăn nuôi lợn vẫn tồn
tại, phát triển và đạt được những thành tựu đáng kể.
Ngày nay khi khi mà nền kinh tế phát triển nhanh, cuộc sống con người
ngày được nâng cao thì nhu cầu về dinh dưỡng trong bữa ăn hằng ngày là một
vấn đề đáng được quan tâm. Từ đó thôi thúc nhà chăn nuôi luôn tìm cách cải
tạo đàn giống của mình luôn cho được năng suất cao nhất và phẩm chất thịt
ngày càng đạt thị hiếu người tiêu dùng.
Để đạt được thành công đó thì ngoài việc quan tâm chăm sóc, nuôi
dưỡng quản lý thì công tác giống được đặt lên hàng đầu nhằm chọn lọc lai tạo
ra những con giống có khả năng sinh sản cao thích nghi tốt với khí hậu ở
nước ta. Việc thường xuyên theo dõi, phân tích đánh giá năng suất sinh sản
của đàn lợn nái là một vấn đề then chốt của các nhà chăn nuôi, nhằm tìm ra
những chiến lược phù hợp để cải thiện và phát triển đàn lợn ngày càng tốt
hơn.
Được sự đồng ý của Khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm
Huế và sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Thị Thanh cùng với sự giúp đỡ của
trại chăn nuôi lợn nái Sông Phan thuộc công ty CP Việt Nam, tôi tiến hành đề
tài “khảo sát năng suất sinh sản một số nhóm giống LY (Landrace x
Yorkshire) và YL (Yorkshire x Landrace) tại trại nái Sông Phan thuộc
công ty CP Việt Nam”.
Phần 2: TỔNG QUAN
2.1. SƠ LƯỢC VỀ TRẠI LỢN SÔNG PHAN
2.1.1. Vị trí địa lý- Đất đai.
-Vị trí địa lý: Trại nằm trên vùng đất cao ráo thuộc xã Sông Phan,
Huyện Hàm Tân, Tỉnh Bình Thuận cách quốc lộ 1A 1km về hướng Đông.
Loại Số lượng Đơn vị tính
Lợn nái sinh sản 1103 con
Lợn nái hậu bị 131 con
Lợn đực giống 36 con
Lợn cai sữa 950 con
Lợn con theo mẹ 2467 con
2.1.6. Nguồn gốc, đặc điểm về ngoại hình và khả năng sinh sản của một
số giống lợn.
2.1.6.1. Giống Yorkshire (Y)
Lợn Yorkshire là một trong những lợn trắng cổ gốc của nước Anh,
vùng Yorkshire. Lợn sắc lông trắng, có dạng hình thân dài, lưng rộng, đầu dài
trán rộng, trắc diện hơi lõm. Lợn thường được chia là ba hạng dựa vào khối
lượng:
- Đại Bạch (Large White)
- Trung Bạch (Middle White)
- Tiểu Bạch (Little White)
Chủ trại:(ông Tường)
Bộ phận sản xuất
Bộ phận phục
vụ sản xuất
Trại đẻ
3:
2 người
Tổ tạp
vụ, bảo
vệ: 1
người
Phục vụ
đời sống
2 người
Hiện nay, lợn được nuôi phổ biến khắp các lục địa, nhiều nhất là ở các
nước có vĩ tuyến ôn hòa, hơi lạnh chạy ngang. Năm 1936 lợn Yorkshire được
nhập vào Nam bộ để lai với lợn Bồ Xụ tạo nên giống lợn Thuộc Nhiêu.
Lợn Yorkshire đặc biệt dòng lợn của úc có ưu điểm tăng trọng nhanh, ít
mỡ, nhiều nạc, dễ nuôi dưỡng chăm sóc và có khả năng thích nghi cao với
môi trường nhiệt đới nóng ẩm nước ta. Đực Yorkshire 4 chân cao, to khỏe rắn
chắc tạo dáng đi linh hoạt, có chất lượng tinh dịch tốt, cho tỷ lệ thụ thai cao
và nhiều lợn cho mỗi lứa đẻ. Năng suất sinh trưởng và sinh sản của con lai từ
đực Yorkshire cũng cao hơn so với những giống khác và thích nghi tốt với
điều kiện chăn nuôi nông hộ.
Lợn Yorkshire lúc 6 tháng tuổi đạt từ 90 - 100 kg khi trưởng thành đạt
250 - 300 kg, nái mỗi năm có thể đẻ từ 1,8 - 2,2 lứa mỗi lứa đẻ trung bình từ 8
- 9 con.
2.1.6.2. Giống lợn Landrace (L)
Giống lợn Landrace có thành tích xuất sắc như hiện nay là giống
Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch. Từ những năm 1840 Đan Mạch đã nhập
nhiều giống lợn từ các nước Anh, Đức, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Trung
Quốc…để cải tạo giống lợn trong nước.
Giống lợn Landrace được hình thành từ sự lai tạo giữa các giống lợn
Youtland có nguồn gốc từ Đức và lợn Yorkshire cơ nguồn gốc từ Anh.
Lợn Landrace có màu lông trắng tuyền, mình dài, tai to rủ úp về phía
trước bụng. Bụng gọn, ngực không sâu, 4 chân mảnh dẻ đẹp. Lợn có dạng
hình thủy lôi, phần mông rất phát triển. Lợn đực trưởng thành nặng 300 –
320kg. Lợn cái có 12 – 14 vú, nặng 220 – 250kg. Tỷ lệ nạc nhiều hơn giống
Yorkshire, nhưng nhạy cảm với những điều kiện môi trường bất lợi (stress).
Ở Việt Nam, từ năm 1978 nhập lợn Landrace từ CuBa. Những năm
1985-1986 nhập lợn Landrace từ Bỉ và Nhật Bản. Lợn Landrace được sử dụng
đẻ lai kinh tế với giống lợn nội. Công thức lai phổ biến hiện nay là ½ máu lợn
Landrace + ¼ máu lợn Đại Bạch và ¼ máu lợn móng cái. Con lai 6 tháng tuổi
Bảng chỉ tiêu tăng trưởng của giống lợn Yorkshire và Duroc.
Giống
Chỉ tiêu
Yorkshire Duroc
Cho ăn( Kg/ ngày)
2.54 2.61
Thức ăn chuyển đổi( Thức ăn/ tăng trưởng)
2.93 2.91
Trọng lượng trung bình( Kg/ ngày)
0.84 0.89
Kiểm tra tăng thịt nạc( Kg/ ngày) 0.31 0.32
Số ngày lúc đạt 114kg
174.6 196.7
[Số liệu lấy từ chương trình quốc gia đánh giá di truyền, NPPC, 1995.
USA về bộ giống lợn hướng nạc Yorkshire, Duroc. Các chỉ tiêu tăng
trưởng đạt được (Tổng kết của U.S.Livestock Genetics Export.Inc.,
1998)]
2.1.6.5. Giống lợn Pietrain (P.P)
Giống lợn có nguồn gốc từ nước Bỉ, mang tên làng Pietrian. Được công
nhận là giống mới năm 1953 tại tỉnh Barbant và năm 1956 cho cả nước. Lợn
có tầm vóc trung bình, lông trắng đốm đen, xung quanh đốm đen được viền
sắc tố trắng nhạt của da lông, tai đứng, chân ngắn nhưng rắn chắc lưng dài và
rộng, mông đùi nở nang, con đực trưởng thành đạt từ 240 - 260 kg. Lợn
pietrain là một điển hình về vết loang đen trắng không cố định trên da, nhưng
năng suất thì rất ổn định.
Lợn pietrain có tuổi đẻ lứa đầu chậm, khoảng 418 ngày (so với
Yorkshire là 366 ngày), khoảng cách giữa hai lứa đẻ khoảng 165,1 ngày. Tính
ưu việt của giống Pietrain là sử dụng thức ăn rất hiện quả để chuyển đổi thành
nạc, tỷ lệ nạc/ thịt xẻ là 61,35%. Tuy nhiên, giống lợn này kém thích nghi với
Đánh dấu lợn được chọn bằng cách bấm số tai.
+ Bước chọn lợn lúc 60 ngày tuổi:
Trọng lượng mỗi con phải đạt từ 15 kg trở lên, ngoại hình thể chất phải
đạt tiêu chuẩn về giống, bộ phận sinh dục xuôi và lộ rõ nhưng cân đối.
+ Bước chọn lợn 150 ngày tuổi:
Trọng lượng mỗi con phải đạt từ 100 kg trở lên, ngoại hình đẹp, chân
rắn chắc khoẻ mạnh, không mắt bệnh mãn tính hay truyền nhiễm, thân hình
cân đối.
+ Bước chọn lợn 240 ngày tuổi:
Trọng lượng phải đạt từ 120 kg trở lên, ngoại hình đẹp cân đối, da lông
bóng mượt, khoẻ mạnh, đi đứng vững chắc bộ phận sinh dục bình thường và
lộ rõ.…
2.3. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN
CỦA LỢN NÁI
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ đến hai yếu
tố, đó là di truyền và ngoại cảnh. Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con
giống, mỗi giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính, sức sản xuất cũng
khác nhau. Yếu tố ngoại cảnh bao gồm: Thức ăn, thú y, chuồng trại, quá trình
chăm sóc… Rất cần thiết phải nắm vững và vận dụng linh hoạt trong chăn
nuôi để có thể phát huy tối đa năng suất của nái nâng cao hiệu quả kinh tế của
người chăn nuôi.
2.3.1. Yếu tố di truyền.
Di truyền là đặc tính của sinh vật được truyền từ thế hệ này đến thế hệ
khác, những đặc tính của cha mẹ, tổ tiên đã có và truyền lại cho con cháu đời
sau.
Giữa mọi thế hệ trong gia đình, quần thể thì các đặc tính di truyền sẽ
khác nhau. Sự khác nhau thể hiện ở tính trạng như: Sự sinh trưởng, khả năng
sinh sản, phát dục… Sự khác nhau đó là do di truyền biến dị trong sự hình
thành giao tử, sự bắt chéo, sự trao đổi chéo, sự trao đổi nhiễm sắc thể và cuối
0.27
Khoảng cách 2 lứa đẻ
0.08
(Theo tác giả Rydmer.,1995)
Ta thấy rằng các biến dị do di truyền như biến dị cộng gộp, tương tác
giữa gen là thấp do đó, vấn đề đặt ra là phải tìm cách nâng hê số di truyền các
tính trạng số lượng mới dẫn tới việc tăng hiệu quả chọn lọc.
2.3.2. Yếu tố ngoại cảnh.
Các tính trạng chủ yếu phản ánh năng suất sinh sản ở lợn nái là số con
đẻ ra/lứa, số lợn con cai sữa, khối lượng lợn con lúc cai sữa,…Phần lớn các
tính trạng này phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh (Dinh dưỡng, mùa vụ,
phương thức và thời điểm phối giống, đực giống, điều kiện chăm sóc nuôi
dưỡng, yếu tố chuồng trại, khả năng phòng trừ dịch bệnh…)
- Khí hậu chuồng nuôi bao gồm các yếu tố như: nhiệt độ, ẩm độ, ánh
sáng… ảnh hưởng to lớn đến sinh trưởng và sinh sản của lợn, bên cạnh đó
còn sinh sôi nảy nở mầm bệnh, gây bệnh cho gia súc. Nếu chuồng nuôi tốt, độ
thông thoáng tốt, không ẩm thấp… sẽ đưa ra năng suất sinh sản của lợn lên 10
- 15 %, ngược lại thì giảm 15 - 30 %.
-Chuồng trại: Có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái.
Tầm quan trọng của nó được thể hiện qua bảng sau:
Chỉ tiêu
Kiểu chuồng K64 cũ
Chuồng công
nghiệp
Số ổ theo dõi(ổ)
28 30
Số lứa đẻ/ nái/ năm( lứa)
1.85 2.10
Số con sơ sinh sống/ ổ
2.4. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT SINH SẢN
Năng suất sinh sản là tập hợp nhiều yếu tố để cấu thành, hiệu quả kinh
tế của một trang trại hay nông hộ chăn nuôi lợn phụ thuộc gần như hoàn toàn
vào khả năng sinh sản của đàn lợn nái. Do đó để có một đàn nái khỏe mạnh
có năng suất sinh sản cao thì ngoài công tác chọn giống chúng ta cần phải
quan tâm đến các điều kiện thuận lợi đảm bảo cho khả năng phát triển toàn
diện của nái về các yếu tố:
2.4.1. Tuổi thành thục về tính.
Gia súc sinh ra sau một thời gian sinh trưởng và phát triển nhất định
(tuỳ loài) thì có khả năng sinh sản. Tuổi con vật bắt đầu có khả năng sinh sản
gọi là tuổi thành thục về tính. Tuổi này được ghi nhận bởi lần động dục có
rụng trứng đầu tiên của con cái.
Đây là một trong các chỉ tiêu được các nhà chăn nuôi quan tâm nhất. Vì
nó không những đánh dấu về mặt trưởng thành sinh sản mà còn ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế nếu ta không phát hiện sớm.
Tuổi thành thục sớm phối giống đậu thai sớm điều này giúp các nhà
chăn nuôi tiết kiệm được thời gian nuôi dưỡng chăm sóc cũng như lượng thức
ăn tiêu tốn không cần thiết. Trung bình lợn hậu bị có tuổi thành thục vào
khoảng 4 - 9 tháng tuổi, nhưng cũng có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thành
thục của lợn như: giống, dinh dưỡng, môi trường, chăm sóc quản lí…
Theo Zimmerman (1981), Hughe (1993), Cole (1970). Khi nuôi riêng
lợn hậu bị cái sẽ chậm thành thục hơn khi tiếp xúc với lợn đực giống. Theo
Nguyễn Quang Linh (2004), khi phối đồng huyết thì thành thục về tính muộn
hơn. Ví dụ theo Salmon-Legangner (1980) Lợn Yorkshire khi giao phối đồng
huyết thì tuổi thành thục về tính là 244,5 ngày, khi giao phối giữa hai dòng là
214 ngày, giữa 3 dòng là 198 ngày và giữa 4 dòng là 193 ngày.
Theo kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (1998) cho biết, lợn
Landrace thành thục về tính dục là 312,310 ngày và lợn Yorksire là 219,40
ngày. Khi nghiên cứu về lợn nái lai và lợn nái thuần trên các giống Landrace,
đó, cần phải theo dõi phát hiện biểu hiện động dục và phối giống đúng lúc
nhằm tăng khả năng đậu thai. Tránh bỏ qua nhiều chu kỳ động dục vì sẽ làm
tăng chi phí nuôi dưỡng chăm sóc không cần thiết.
Theo Trần Thị Dân (1997), thời điểm phối giống quyết định tỷ lệ đậu
thai và số lợn con đẻ ra trong một ổ. Nên phối giống vào khoảng 12 đến 30
giờ sau khi lợn hậu bị có biểu hiện động dục và 18 đến 36 giờ trên lợn nái rạ.
Thông thường người ta phối giống hai hoặc ba lần (mỗi chu kỳ cách nhau 12
đến 24 giờ) nhằm tăng tỷ lệ đậu thai.
Theo đề nghị của Leman (1992), nên phối giống cho lợn hậu bị lúc 210
ngày tuổi với trọng lượng 120kg và ở chu kỳ động dục lần hai.
Theo Ts. Hoàng Nghĩa Duyệt (2006), nái hậu bị nên phối giống khi có
tuổi và trọng lượng thích hợp. Nái ngoại 9-10 tháng tuổi, khi trọng lượng lợn
đạt từ 90 kg trở lên. Phối ở chu kì động dục thức 3 và phối vào thời điểm
thích hợp.
2.4.4. Số con sinh ra trên ổ.
Là một chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái. Số con sơ sinh/
ổ nhiều chứng tỏ trạng thái hoạt động của buồng trứng tốt, tình trạng sinh lý
của cơ thể lợn mẹ( như động dục, chửa, đẻ…) bình thường.
Số con sinh ra trên ổ phụ thuộc vào các yếu tố như: Phối giống đúng
thời điểm, số trứng rụng nhiều, phẩm chất tinh dịch, dinh dưỡng hợp lí sẽ kích
thích trứng chính đồng loạt, tăng tỷ lệ rụng trứng…
Chỉ tiêu này nói lên tính mắn đẻ của nái và có hệ số di truyền là 15%
(Warwick and Legates, 1984). Nếu dinh dưỡng cao trong thời gian chờ phối,
kích thước lợn nái rụng trứng nhiều làm tăng khả năng số trứng được thụ tinh
thì sẽ tăng số lợn con đẻ ra trên ổ. Theo Kikwood (1985) (trích dẫn bởi Trịnh
Ngọc Thu Trang, 2004), lợn ăn 1,5kg/ngày ở mức năng lượng 3265kcal/ kg
thì tỷ lệ phôi sống chỉ còn 71%. Mặt khác, nghiên cứu của Omtved và ctv
(1971), nái sau khi phối 8–10 ngày, nếu bị stress trong thời gian này thì số
phôi sống chỉ còn 6,9 phôi, so với đối chứng là 12,8 phôi. Theo Evansv
thấp. Theo Spicer (1986), có sự liên quan giữa số con trong một ổ với trọng
lượng sơ sinh và tỷ lệ heo con có trọng lượng sơ sinh nhỏ hơn 0,8 kg như sau:
Số heo con/ ổ (con)
Trọng lượng sơ sinh
(kg)
Tỷ lệ heo con có trọng
lượng nhỏ hơn 0,8 kg
(%)
2 - 7
8 - 13
14 - 17
1,5
1,37
1,28
8,7
29,2
66,7
2.4.9. Số lợn con cai sữa/ ổ.
Hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản được đánh giá bằng số lợn con cai
sữa/ nái/ năm, đây là một chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng. Theo một só nhà
nghiên cứu đã thống kê khoảng 3-5% số lợn con chết khi sơ sinh bao gồm:
Lợn chết do lợn mẹ đẻ khó và lợn chết trong giai đoạn kỳ chửa cuối. Các
nguyên nhân chủ yếu lợn con chết trong giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa là bị
lợn mẹ đè và không bú được chếm 50%, nhiễm khuẩn 11,1%, dinh dưỡng
kém 8%, di truyền 4,5%, các nguyên nhân khác 26,4% (Veterinary
Investigation Sevice, 1960).
Trong giai đoạn này sự chăm sóc chu đáo của người chăn nuôi sẽ hạn
chế tối đa những nguyên nhân gây hao hụt lợn con từ sơ sinh đến cai sữa như
bị mẹ đè, chết do lạnh, chết do bệnh tật và những nguyên nhân khác. Góp
phần tăng năng suất sinh sản của nái, nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn
ngày trước khi cai sữa. Cho nhịn ăn một ngày hoặc cho giảm lượng thức ăn
sau cai sữa. Ngày thứ hai sau cai sữa tiến hành đổi cám 567 thành 566 và tăng
lượng thức ăn, thông thường 2,5 kg/ bữa. Kết hợp chích AD3E để tăng sức
khỏe đẩy nhanh quá trình động dục. Một phương pháp nữa không thể thiếu
được áp dụng là ép heo để gây stress tạo động dục, phương pháp này phải có
sự tham gia của nọc giống. Nọc giống góp tiếng kêu và mùi Feramone hấp
dẫn giới tính khiến con nái lên giống (công ty CP).
Những vấn đề lưu ý khi cai sữa lợn con:
• Không cai sữa lợn khi trong đàn đang có lợn con ốm
• Không chuyển đổi sang loại thức ăn mới vào trước ngày cai sữa
và ngày đầu cai sữa.
• Hạn chế lượng thức ăn cho lợn con trong vòng từ 2-3 ngày kể từ
ngày cai sữa.
• Hạn chế tối đa sự chênh lệch về nhiệt độ trong chuồng nuôi vào
những ngày đầu mới cai sữa so với nhiệt độ lúc lợn con theo mẹ.
• Ô chuồng càng khô ráo càng tốt.
Tuân thủ sát sao các kỹ thuật chăm sóc con con sau đẻ nhằm chống các
tác nhân gây chết: bị nái mẹ đè chết, viêm nhiễm sau đẻ do cắt rốn, bấm nanh,
bấm số tai, thiến hoạn, tiêm chích.
2.6. MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN LỢN NÁI SINH SẢN
Bệnh dịch ngày càng diễn biến phức tạp làm thiệt hại không nhỏ cho
ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nái nói riêng. Do đó, người chăn
nuôi cần phải tìm hiểu để có thể phòng tránh và làm giảm bớt thiệt hại về kinh
tế. Sau đây là một số bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản:
2.6.1.Nguyên nhân truyền nhiễm:
2.6.1.1 Bệnh rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS)
Nguyên nhân: do một họ virus mới thuộc họ Togaviridae, có tên là
lelystad
Triệu chứng: Virus tác động đến cơ quan sinh dục của lợn cái gây ra
C trong 1 giờ, dưới ánh sáng mặt trời trong 1-2 giờ; nhưng tồn tại
được trong phân lợn 10-30 ngày.
Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh 3-10 ngày tùy thuộc vào độc lực và sức
đề kháng của lợn. Lợn bị ở hai thể:
- Thể cấp tính: Lợn hậu bị thường bị viêm âm đạo và tử cung
chảy dịch. Lợn nái mang thai ở tháng đầu, thai sẻ bị chết và tế bào thai bị hấp
thu vào cơ thể mẹ và lợn nái động dục trở lại; nhiễm vào tháng chửa thứ 2,
thai cũng bị chết lưu, khô rắn lại và lợn nái mang “thai gỗ”. Nhiễm virus
không làm thai chết cùng một lúc nên có thể gặp thai gỗ với các kích thước
khác nhau trong cùng kỳ chửa của lợn. Nhiễm virus ở giai doạn muộn, các
bào thai như có sức đề kháng với Parvovirus; nhưng lợn sơ sinh thường bị
yếu ớt, khó nuôi, chết dần sau khi đẻ vì vẫn mang virus.
- Thể mãn tính: Thường gặp ở lợn hậu bị với bệnh viêm nội mạc
âm đạo tử cung kéo dài. Lợn đực gióng cũng bị bệnh mãn tính hoặc có virus
trong tinh dịch. Tinh dịch này khi thụ tinh cho lợn nái sẽ làm lây bệnh cho lợn
nái.
Bệnh tích: Biểu hiện viêm nội mạc tử cung âm đạo ở lợn hậu bị, thai
gỗ với các kích cỡ khac nhau ở lợn nái mang thai thường xảy ra.
Phòng trị bệnh
Bệnh này không co thuốc điêu trị đặc hiệu chỉ có thể thực hiện các biện
pháp phòng bệnh:
Theo dõi hiện tượng sẩy thai và thai gỗ ở lợn nái, kết hợp kiểm tra
huyết thanh đàn lợn nái và đực giống để phát hiện lợn bệnh và lợn mang trùng
để loại thải, hạn chế sự lây lan trong đàn lợn.
Tổ chức tiêm phòng vacxin cho đàn lợn nái và đực giống trong các cơ
sở có lưu hành bệnh theo định kỳ: 6 tháng/ lần.
Thực hiện vệ sinh thú y: chuồng trại khô sạch hàng ngày và có phun
thuốc sát trùng định kỳ 1-2 tuần/ lần để diệt mầm bệnh trong chồng trại và
khu vực chăn nuôi.
Tiêm vacin phòng bệnh đinh kỳ mỗi năm 2 lần.
Vệ sinh tiêu độc chuồng trại
2.6.2. Nguyên nhân không truyền nhiễm:
2.6.2.1. Bệnh đẻ khó
Bệnh xảy ra trong thời gian vỡ nước ối 2-3 giờ rặn đẻ và không ra con.
Nguyên nhân: Lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình
từ hậu bị đến chửa, đẻ như: ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn
yếu xương chậu hẹp. Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai
quá to thường gặp.
Cơ thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém lợn chửa hay sốt
cao, mắt một số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị khá nhiều thời gian.
Lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ horrmon kích đẻ
quá thấp trong thời gian đẻ.
Triệu chứng
Nước ối chảy ra có lẫn máu đỏ, sau 2-3 giờ rặn mà thai vẫn không ra,
thai ra nửa chừng không ra hết con con do con to thai ra 1-2 cm sau đó không
ra tiếp do lợn mẹ rặn ít. Có những trường hợp lợn nái đã đẻ được một con rồi
nhưng vẫn khó đẻ con tiếp theo. Khi khám thai trong tử cung ta thấy thai ngay
ở khung xương chậu không qua được.
Phòng bệnh
- Có ngăn cho lợn nái đẻ riêng biệt, yên tĩnh, vệ sinh .
- Đỡ đẻ đúng kỹ thuật, không gây ồn ào trong khi lợn nái đẻ.
- Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bổ sung kịp thời các nguyên tố
vi lượng giúp quá trình tiết hormone phù hợp với từng giai đoạn.
Điều trị
Những trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép cần phải tiêm
oxytocin 20-40-50 UI/1 nái .Trong trường hợp không có kết quả cần thiết phải
can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để kéo thai ra.
Sau khi can thiệp bằng phẩu thuật phải thụt rửa âm đạo và dùng kháng
chảy ra, sau dần chuyển sang dịch nhầy đặc hơn, đôi khi có mùi hôi tanh. Thể
viêm này nếu can thiệp không kịp thời sẽ chuyển sang dạng viêm nặng có thể
gây viêm vú và mất sữa. Nếu vi sinh vật xâm nhập sẽ gây tác động toàn thân,
bệnh kéo dài 3-7 ngày hay hơn.
Tác hại xảy ra:
Trên lợn mẹ: Nái suy yếu giảm sức đề kháng. Giảm tiết sữa ít cho con
bú.
Nái quá yếu có thể chết. Khả năng đậu thai ở lứa sau có khả năng giảm.
Trên lợn con: Nái bị bệnh nên lượng sữa tiết ra nuôi con giảm. Lợn con
đói liếm phải sản dịch của lợn mẹ dẫn đến tiêu chảy. Lợn con cõi cọc tăng
trọng giảm dẫn đến tử vong
Phòng bệnh
Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ thụ tinh phải đúng qui cách không
nhiễm khuẩn. Không sử dụng lợn đực bị bệnh đường sinh dục để lấy tinh
cũng như cho phối trực tiếp. Vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn nái sau
khi đẻ xong.
Thực hiện vệ sinh chuồng trại và quét dọn sạch sẽ nơi ở của lợn nái.
Điều trị
Tiêm oxytocin 4
cc
/ 1 nái để loại thải chất bẩn trong tử cung.
Tiêm Vime-tobra 1ml/ 10kg P, điều trị 2-3 ngày liên tục.
Sau dó tiến hành thụt rửa tử cung cho chảy hết nước nhờn, mủ bằng
thuốc sát trùng hay kháng sinh đến khi nào nước trong thì thôi.
2.6.2.3. Bệnh viêm vú:
Nguyên nhân chung:
- Khi bú con cắn loét đầu vú
- Chuồng bẩn, con vật kéo lê bầu vú lên sàn chuồng
- Do vi trùng có thể xâm nhập qua lổ đầu vú, ống lâm ba hoặc huyết
chia làm 9 khu chuồng: 2 khu trại bầu, 6 khu trại đẻ, 1 khu trai cách ly.
Chuồng trại kín hoàn toàn do đó sự ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu tới vật
nuôi là không đáng kể.
a) Khu trại bầu:
Là khu lớn nhất có kích thước: dài 50m, rộng 30m, cao 4,5m. Chuồng
được xây dựng cách mặt đất 1m. Tường ngang 20 cm, tường dọc 15 cm, bên
dưới nền chuồng có hệ thống ống thoát được trãi bằng bê tông gọi là mương
xã giúp dẫn nước và phân ra ngoài khi tắm cho nái. Có 4 mương xã được nối
với nhau bởi hệ thống ống và nối trực tiếp với máy bơm nước.
Mái được lợp tôn cách nhiệt có hệ thống la phông tản nhiệt và cách
nhiệt. La phông cao cách nền chuồng 2m. Cửa sổ mỗi bên 8 chiếc, kích thước
1,96 x 1 (m).
Trại chia làm 8 dãy. Mỗi dãy có 67 chuồng. Kích thước của chuồng nái
là 2,1 x 0,65 x 1,1; chiều cao của cữa chuồng chỉ 0,8 m. Dãy 1 có 5 chuồng để
ép lợn, nhốt nọc kích thích khi ép hoặc nhốt nái tạm thời; năm chuồng này có
kích thước 2,1 x 2,1 x 1,5 (m). Trong dãy 1 còn có 4 chuồng ngăn để phối
giống kích thước 1,8 x 0,45-0,6 (m). Vì vậy dãy 1 còn lại 50 chuồng chuyên
dùng để nhốt nái chờ phối, phối và một nửa số nọc của trại.
Hành lang đi lại tuần hoàn, có hệ thống cửa ngăn và thanh chắn. Chia
làm hai loại: Hành lan dọc trên dùng để cào phân, vệ sinh lợn, đi lại kiểm tra
lợn, chích thuốc lợn có kích thước 1m; Hành lan dọc dưới chủ yếu đi lại châm
cám cho lợn ăn và xịt gầm chuồng có kích thước 0,6m, trừ hành lan dưới ở
trung tâm có kích thước 1,2m. Hành lang ngang cũng có kích thước 1m.
Hệ thống điều hòa gồm 7 quạt thông gió kích thước 1,38 x 1,38 (m) và
4 giàn lạnh kích thước: Dài 6m, cao 1,5m. Hệ thống này có thể làm việc tự
động (automatically).
Hệ thống nước được bố trí đến từng chuồng, cho lợn uống bằng núm
uống ở đầu các chuồng. Có hai đầu mối nước vệ sinh đặt tại 2 đầu chuồng
được cung cấp trực tiếp từ giếng khoan lên không thông qua bồn chứa. Bồn
cao 1,5m và hai quạt có kích thước: 1,06 x 1,06 (m).
Hệ thống chiếu sáng gồm 4 đèn huỳnh quang kích thước 1,2m được
phân bố đều trong trại.
2.6.2. Thức ăn
2.6.2.1. Chương trình thức ăn cho nái mang thai.
a)Nái hậu bị: đơn vị (kg).
NGÀY MẬP(kg) VỪA(kg) Ốm(kg)
1-84 ngày 1.8 0.8 1 2 1 1 2 1 1
> 84 ngày 2.2 1 1.2 2 1 1 3 1 2