BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ
XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
HỨA HẢI QUANG
HÀ NỘI – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ
XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
HỨA HẢI QUANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ VĂN CƯƠNG
HÀ NỘI - 2015
NHẬP KHẨU ........................................................................................................ 5
1.1. Những vấn đề chung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế
thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu........................................................................ 5
1.1.1. Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu .............................................. 5
1.1.2. Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu ................................... 8
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu . 11
1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu ........................ 11
1.2.2. Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và
pháp luật về thủ tục hải quan. .......................................................................... 14
1.2.3. Cấu trúc pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu .................... 16
1.2.4. Những yếu tố chi phối đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập
khẩu ................................................................................................................ 18
1.3. Kinh nghiệm và xu hướng đổi mới hoạt động quản lý thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu và pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở một số
nước trên thế giới ............................................................................................. 24
1.3.1. Kinh nghiệm của Singapore trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu... 24
1.3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 26
1.3.3. Kinh nghiệm của Đài Loan trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu . 27
1.3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt nam trong việc hoàn thiện pháp luật quản
lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ................................................................... 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP
LUẬT QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM ... 31
2.1. Đánh giá chung về hệ thống các quy phạm pháp luật quản lý thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu ...................................................................................... 31
2.2. Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật
quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay. .................... 33
2.2.1. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ pháp luật
xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam .......................................................... 79
3.3.1. Nhóm giải pháp tạo lập và nuôi dưỡng nguồn thu .................................. 79
3.3.2. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ
nghiệp vụ cho cán bộ công chức Hải quan....................................................... 80
3.3.3. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về hải quan ................................ 82
3.3.4. Triển khai ứng dụng mạnh mẽ kỹ thuật hiện đại phục vụ công tác quản lý
thuế XNK........................................................................................................ 83
3.3.5. Tăng cường công tác chống buôn lậu, chống gian lận thương mại, thanh
tra, kiểm tra sau thông quan ............................................................................ 84
3.3.6. Tăng cường phối kết hợp với chính quyền địa phương các cấp, các cơ
quan chức năng trên địa bàn để quản lý và chống thất thu thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu ........................................................................................................ 86
3.3.7. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ nhận thức cho đối tượng nộp
thuế chấp hành tốt nghĩa vụ nộp thuế XNK ..................................................... 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 87
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất kỳ một chế độ xã hội nào, thuế luôn là một công cụ tạo dựng nguồn tài
chính chủ yếu để phục vụ nhu cầu chi tiêu của quốc gia. Trong cấu trúc hệ thống
thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là những sắc thuế có ý nghĩa
quan trọng, vừa là nguồn động viên ngân sách quốc gia, vừa là công cụ để điều tiết
sản xuất trong nước, đồng thời cũng là đòn bẩy thúc đẩy kinh tế trong nước và
thương mại quốc tế phát triển.
Với tốc độ hội nhập quốc tế nhanh chóng và sâu rộng, hoạt động XNK trở nên
năng động hơn và có ảnh hưởng to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế - chính trị - xã
hội của Việt Nam. Các luồng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng,
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài tìm hiểu về nội dung sắc TXK, TNK là một đề tài thu hút sự quan tâm,
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả cả ở phương diện lý luận và thực
tiễn. Tuy nhiên, nghiên cứu về pháp luật quản lý TXK, TNK trên phương diện
chuyên sâu trong lĩnh vực này thì chưa có nhiều.
Trong chuyên ngành kinh tế có một số công trình nghiên cứu về quản lý
thuế như: “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ
thuế của doanh nghiệp”- Nguyễn Thị Lệ Thuý, Luận án tiến sỹ kinh tế (2009),
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội; “Cơ chế tự khai, tự nộp thuế và những
vấn đề đặt ra ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Văn Hiệu - TS. Nguyễn Việt Cường,
NXB Tài Chính, HN, 2007.
Trong khoa học pháp lý chuyên ngành có một số luận văn và luận án đã có
đề cập đến vấn đề quản lý TXK, TNK dưới giác độ nghiên cứu toàn bộ quá trình
quản lý thuế nói chung, chẳng hạn như: Luận án tiến sĩ Luật học (2012) của Vũ Văn
Cương: “Pháp luật Quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – Những
vấn đề lý luận và thực tiễn”; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thùy Liên:
“Hoàn thiện công tác Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế ở Việt Nam hiện nay” năm
2012; Luận văn thạc sĩ của Đỗ Thu Hồng: “Pháp luật quản lý nợ thuế ở Việt Nam –
thực trạng và giải pháp” năm 2013; Luận văn thạc sỹ luật học “Đổi mới và hoàn
thiện pháp luật về thuế ở Việt Nam’’ của tác giả Trần Trung Nhân...
Ngoài ra, có một số bài viết nghiên cứu trên báo, tạp chí liên quan đến quản
lý TXK, TNK như bài viết: “Các nguyên tắc của pháp luật thuế và mô hình cấu
trúc của hệ thống pháp luật thuế” của TS. Nguyễn Văn Tuyến đăng trên Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 8/2008; “Thông tin về người nộp thuế trong luật quản lý
thuế ở nước ta hiện nay” của ThS.Vũ Văn Cương đăng trên Tạp chí Luật học số
2
4/2009; “Luật quản lý thuế và những vấn đề cần bàn thêm” của TS. Nguyễn Thị
3
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật của Việt Nam trong lĩnh
vực quản lý TXK, TNK cũng như thực tiễn thi hành các quy định pháp luật quản lý
TXK, TNK để từ đó chỉ ra những khó khăn, hạn chế của hoạt động quản lý TXK,
TNK ở Việt Nam.
- Đóng góp những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện các
biện pháp bảo đảm thực thi có hiệu quả pháp luật quản lý TXK, TNK.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cở sở phương pháp luận các quan điểm
của triết học Mác- Lênin về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện
chứng, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền,
chính sách của nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả sử dụng phương pháp so sánh bằng cách đối chiếu từng giai đoạn
lịch sử phát triển, đối chiếu với pháp luật nước ngoài, cam kết quốc tế liên quan;
phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu từ các báo cáo định kỳ của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền để đánh giá một cách chính xác, khách quan thực trạng quản lý
nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK.
5. Kết của của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có
3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và pháp
luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật quản lý thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp
luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay
4
5
ngoại thương. Vì vậy, Nhà nước của các quốc gia đó còn kết hợp hàng rào thuế
quan với các công cụ khác như hạn mức ngoại tệ trong thanh toán, hạn ngạch xuất,
nhập khẩu, quy định danh mục hàng hoá XNK,...
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển tương đối nhanh chóng nền
kinh tế của các nước phát triển đã đưa đến sự ổn định trong buôn bán quốc tế và sự
ra đời hệ thống tiền tệ thế giới. Trong xu thế đó, hầu hết các nước dần dần từ bỏ các
biện pháp quản lý hành chính trong hoạt động ngoại thương, hạ thấp hoặc xoá bỏ
hàng rào thuế quan (ở các nước tham gia hiệp định GATT). Còn đối với các nước
đang phát triển, công cụ thuế quan vẫn được chú trọng. Điều này xuất phát từ hai lý
do chủ yếu. Một là, nền công nghiệp của các nước đang phát triển còn yếu chưa đủ
khả năng cạnh tranh. Hai là, nguồn tài chính của các nước này eo hẹp, trong khi nhu
cầu chi tiêu ngày càng lớn.
Tóm lại, tuỳ theo tình hình kinh tế, chính trị của thế giới và mỗi nước, ở
từng giai đoạn khác nhau, thái độ sử dụng thuế quan ở mỗi nước có những điểm
khác nhau. Xu hướng chung khi nền kinh tế phát triển, khả năng cạnh tranh lớn thì
hàng rào thuế quan không được coi trọng. Đặc biệt đối với các nước có nền kinh tế
phát triển thì mục tiêu bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng công cụ thuế quan ít
được đặt ra.
1.1.1.2. Định nghĩa thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Có nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa TXK, TNK, tùy thuộc vào từng
góc độ tiếp cận.
Xét về phương diện kinh tế, TXK, TNK được quan niệm là khoản đóng góp
bằng tiền của tổ chức, cá nhân vào NSNN theo quy định của pháp luật, khi họ có
hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước. Với cách tiếp cận
này, TXK, TNK được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài
chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là
Các đặc trưng này bao gồm:
Thứ nhất, TXK, TNK có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa được phép vận
chuyển qua biên giới [43,tr.61]. Khái niệm “hàng hóa” là đối tượng chịu TXK,
TNK có thể hiểu theo nghĩa thông thường, bao gồm các tư liệu sản xuất và tư liệu
tiêu dùng do con người sản xuất ra và được lưu thông trên thị trường bằng cách
chuyển vào hoặc chuyển ra khỏi biên giới của một nước.
Thứ hai, TXK, TNK là loại thuế gắn liền với hoạt động ngoại thương.
Hoạt động ngoại thương giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân, tuy nhiên, hoạt động này đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ
7
của Nhà nước. TXK, TNK là một công cụ quan trọng của Nhà nước nhằm kiểm
soát hoạt động ngoại thương thông qua việc kê khai, kiểm tra, tính thuế đối với
hàng hóa XNK.
Thứ ba, TXK, TNK chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố quốc tế như: sự
biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế [20,tr.57] …TXK, TNK
điều chỉnh vào hoạt động XNK hàng hóa của một quốc gia. Sự biến động của kinh
tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới
hàng hóa XNK của các quốc gia, nhất là trong xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa
và hội nhập kinh tế như hiện nay. Từ đó, các yếu tố quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp
tới chính TXK, TNK của từng quốc gia. Để đạt những mục tiêu đặt ra, đòi hỏi chính
sách thuế phải có tính linh hoạt cao, có sự thay đổi phù hợp tùy theo sự biến động
của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế, ngoài ra chính sách TXK, TNK còn phải
đảm bảo phù hợp với hiệp định, cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết, tham gia.
1.1.2. Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu thuế nhập khẩu
1.1.2.1. Định nghĩa của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những lĩnh vực quản lý
thuế chuyên ngành. Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý TXK, TNK trước hết cần
đầy đủ, chính xác, kịp thời, thường xuyên, ổn định cho NSNN.
Nguồn thu TXK, TNK luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn thu ngân
sách quốc gia. Đảm bảo nguồn thu từ TXK, TNK là vai trò quan trọng hàng đầu của
công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là
nhà nước cần phải tăng thu TXK, TNK bằng mọi giá. Một tỉ lệ thu TXK, TNK hợp
lý và ổn định sẽ vừa kích thích nền kinh tế phát triển, hiệu quả vừa đảm bảo nguồn
lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Vì vậy, vai trò đảm bảo nguồn
thu TXK, TNK là một trong những vai trò quan trọng. Tuy nhiên, trong giai đoạn
hiện nay, với xu thế hội nhập và cắt giảm thuế quan thì nguồn thu từ thuế xuất khẩu,
thuế nhập khẩu ngày càng giảm, vì vậy việc quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu và
đảm bảo nguồn thu là rất khó.
Thứ hai, kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu:
Kiểm soát hàng hóa XNK là mục tiêu chủ chốt của mỗi quốc gia, đặc biệt
trong xu thế tự do hóa thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới. Thông qua việc
quản lý thu TXK, TNK cơ quan nhà nước sẽ quản lý được số lượng, loại hàng hóa
thực XNK, từ đó kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và
hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước
đưa ra chính sách pháp luật phù hợp đối với hoạt động XNK cho phép xuất khẩu,
nhập khẩu hàng hóa nào, cấm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào.
Thứ ba, bảo hộ sản xuất trong nước:
9
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK còn có vai trò quan trọng trong
việc bảo hộ sản xuất trong nước. Nhà nước sẽ sử dụng công cụ TXK, TNK theo
hướng có lợi cho nền kinh tế. Thông qua các chính sách đối với hàng hóa XNK,
Nhà nước tác động vào giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường nội địa, làm giảm
khả năng cạnh tranh đối với hàng hóa được sản xuất trong nước. Và để thay thế,
người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng hàng hoá trong nước sản xuất. Bảo hộ sản
thể được xây dựng dựa trên phương pháp tự định hoặc phương pháp thương lượng
giữa các quốc gia. Vì vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực TXK, TNK có vai trò
quan trọng trong việc thực hiện chính sách đối ngoại với từng quốc gia.
1.2. Những vấn đề chung về pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
Trên thế giới hiện nay, hệ thống pháp luật thuế ở các quốc gia được thiết kế
có cấu trúc khác nhau. Có những nước quy định tất cả các sắc thuế trong một Bộ
luật chung về thuế, gọi là Bộ luật thuế vụ. Trong bộ luật này, nhà làm luật vừa quy
định về nội dung cụ thể của các sắc thuế trong hệ thống thuế, vừa quy định về trình
tự, thủ tục hành thu và cơ chế quản lý thuế và cả xử lý vi phạm, giải quyết các tranh
chấp về thuế. Ngược lại, có những nước lựa chọn giải pháp thiết kế mỗi sắc thuế
được ban hành bằng một đạo luật riêng, độc lập với nhau nhưng vẫn đảm bảo tính
tương thích với nhau và đồng thời tách bạch các quy định về quản lý thuế bằng một
đạo luật riêng biệt với các đạo luật quy định sắc thuế, cách làm này đang là một xu
hướng chung của nhiều nước. Giải pháp này được đánh giá là thích hợp hơn với
điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, vì nó cho phép nhà làm luật có thể sửa đổi, bổ
sung và điều chỉnh các quy định trong các đạo luật thuế một cách dễ dàng hơn, so
với việc đưa tất cả các quy định về thuế trong một Bộ luật chung về thuế.
Theo TS.Nguyễn Văn Tuyến: “Xét về cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật
thuế nói chung của các nước đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm:
- Các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế;
- Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành
thu) hệ thống thuế. Các quy định này thường được quan niệm như là những quy
định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục
hành thu thuế và quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp
về thuế. Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này
đều có thể được gói gọn trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tùy
thuộc vào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ
luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo luật về
quản lý thuế.” [47]
Căn cứ vào nội dung hoạt động quản lý thuế XK, NK; pháp luật quản lý thuế
XK, NK điều chỉnh các quan hệ về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế;
hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về
người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế...
12
Qua nghiên cứu thực tiễn luật pháp nước ta cho thấy việc xây dựng pháp luật
quản lý thuế nói chung và quản lý TXK, TNK nói riêng có hai xu hướng:
Một là, các vấn đề về quản lý TXK, TNK được ghi nhận trong các Luật
TNK. Ở nước ta trước khi có Luật Quản lý thuế, pháp luật quản lý TXK, TNK được
xây dựng theo xu hướng này. Bởi vậy, các quy định về quản lý thuế nằm rải rác
trong rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau: trong các văn bản pháp luật quy
định về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đều có quy định về quản lý TXK, TNK để
áp dụng cho sắc thuế này. Ngoài ra, các văn bản pháp luật khác cũng có những quy
định liên quan đến công tác quản lý thuế như: Các văn bản pháp luật về kế toán, về
hoá đơn chứng từ, về xử phạt vi phạm hành chính, về khiếu nại, tố cáo và giải quyết
khiếu nại, tố cáo; các văn bản pháp luật về thanh tra, kiểm tra, các văn bản pháp luật
về tổ chức bộ máy các cơ quan tài chính.
Hai là, các vấn đề về quản lý thuế được quy định riêng trong đạo luật gọi là
Luật Quản lý thuế để quản lý thống nhất đối với tất cả các loại thuế trong đó có
quản lý TXK, TNK. Cách làm này có ưu điểm bao quát hết các nội dung quản lý
thuế, nâng cao tính pháp lý cho các quy định về quản lý thuế, bảo đảm tính đồng bộ,
tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan) và người dân dễ dàng tìm
hiểu, nắm bắt và thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật quản lý thuế. Đồng
thời, nó làm cho hệ thống pháp luật thuế trở nên đơn giản, rõ ràng, minh bạch hơn,
tạo cơ sở và điều kiện thuận lợi để cơ quan quản lý thuế thực hiện việc hiện đại hoá,
chuyên nghiệp hoá các hoạt động quản lý thuế của mình. Ở nước ta, việc ban hành
tính hiệu quả và mục tiêu của các luật thuế là không đạt được.” [46].
1.2.2. Mối quan hệ giữa pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và
pháp luật về thủ tục hải quan.
Quản lý TXK, TNK được gắn liền với thủ tục hải quan, hoạt động quản lý
thu nộp thuế nằm trong hoạt động thông quan hàng hóa, hồ sơ khai thuế nằm trong
hồ sơ khai hải quan. Do vậy, pháp luật về quản lý TXK, TNK và pháp luật về thủ
tục hải quan có mối quan hệ khăng khít.
So với việc quản lý các loại thuế nội địa thì việc quản lý TXK, TNK có
những đặc điểm khác biệt về trình tự, thủ tục hành thu. Sự khác biệt này không chỉ
được thể hiện ở khía cạnh chủ thể có thẩm quyền thu thuế (đối với quản lý TXK,
TNK là cơ quan hải quan, còn đối với quản lý thuế nội địa là cơ quan thuế) mà còn
được thể hiện ở những khía cạnh khác như thời hạn tính thuế, thủ tục kiểm tra hàng
hóa và giám định hàng hóa XNK, vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nộp TXK,
TNK bằng cam kết bảo lãnh của các ngân hàng. Điều đó xuất phát từ những đặc
điểm riêng có của hoạt động quản lý XNK hàng hóa. Nếu cơ quan thuế chỉ có
14
nhiệm vụ về quản lý thu nộp về thuế, phí và lệ phí; thì cơ quan hải quan được giao
nhiệm vụ quản lý chung về hàng hóa XNK. Do đó, ngoài nhiệm vụ về quản lý thu
nộp thuế đối với hàng hóa XNK, cơ quan hải quan còn phải thực hiện nhiệm vụ về
kiểm tra, giám sát hàng hóa XNK; điều tra, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép
hàng hóa qua biên giới; thống kê hàng hóa XNK. Vì vậy, hoạt động quản lý thu nộp
thuế đối với hàng hóa XNK được gắn liền với các khâu nghiệp vụ của cơ quan hải
quan khi tiến hành thông quan hàng hóa XNK.
Hiện nay, pháp luật về thủ tục hải quan đang dần có những thay đổi cơ bản
dưới tác động của các nhân tố khách quan như:
- Quá trình toàn cầu hóa và nhu cầu áp dụng công nghệ thông tin trong
thương mại quốc tế;
tục hải quan, góp phần tạo thuận lợi trong hoạt động ngoại thương.
1.2.3. Cấu trúc pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.3.1. Căn cứ vào nguồn quy phạm pháp luật thì pháp luật quản lý TXK, TNK có
cấu trúc sau:
- Các quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK được quy định ở Luật Quản lý
thuế và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Các quy phạm pháp
luật này là các quy phạm pháp luật chuyên ngành được áp dụng để thực hiện quản
lý chung các khoản thu NSNN trong đó bao gồm cả việc quản lý thuế xuất khẩu,
nhập khẩu
- Các quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK được quy định trong Luật Hải
quan và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhóm quy phạm pháp luật này là nhóm
quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK có tính đặc thù được ưu tiên áp dụng để
quản lý mà không áp dụng để quản lý các loại thuế khác.
- Các quy phạm pháp luật quản lý TXK, TNK được quy định trong các đạo
luật khác có liên quan. Các quy phạm pháp luật này sẽ được sử dụng khi các văn
bản pháp luật chuyên ngành quản lý thuế không quy định cụ thể. Chẳng hạn, các
quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế sẽ áp
dụng các quy phạm trong Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo…
1.2.3.2. Căn cứ vào nội dung quy phạm pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu
thì pháp luật quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu có thể sắp xếp theo cấu trúc sau:
- Nhóm quy phạm pháp luật quy định những vấn đề chung có tính nguyên tắc
trong quản lý thuế như: Xác định phạm vi, đối tượng áp dụng pháp luật quản lý thuế
XK, NK; Các nguyên tắc trong quản lý thuế; Quyền và nghĩa vụ cơ bản của người
nộp thuế; Quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế; Trách nhiệm của các
16
cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế và những vấn đề
có tính chất chung khác trong quản lý thuế;
17
lệ phí thuộc NSNN... cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật quản lý thuế XK, NK
và có các quyền, trách nhiệm nhất định trong việc nộp thuế.
- Bộ phận pháp luật quy định về địa vị pháp lý của các cơ quan hải quan. Cơ
quan hải quan được tổ chức tập trung tại cấp trung ương và khu vực địa bàn hải
quan để quản lý thu các khoản thuế, các khoản thu NSNN phát sinh tại cửa khẩu hải
quan. Pháp luật giao cho (cơ quan hải quan) quản lý thuế các chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn nhất định để tổ chức thực thi chính sách thuế có hiệu lực, hiệu quả.
- Bộ phận pháp luật quy định về các tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý
thuế XK, NK bao gồm: các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến
hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, liên quan đến việc tuân thủ pháp luật của người
nộp thuế hoặc liên quan đến công tác quản lý của cơ quan quản lý thuế, đồng thời
giám sát cả cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc chấp hành pháp luật về thuế.
1.2.3.5. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế, pháp luật quản lý thuế xuất
khẩu, nhập khẩu được phân thành các bộ phận như sau:
- Bộ phận pháp luật quy định về các thủ tục hành chính thuế, bảo đảm các
điều kiện cho người nộp thuế thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế, bao gồm các
nội dung: Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn
thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt...
- Bộ phận pháp luật quy định về giám sát và bảo đảm việc tuân thủ pháp luật thuế
của cơ quan Hải quan đối với người nộp thuế, bao gồm các nội dung: Quản lý thông tin
về người nộp thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế, Cưỡng chế thi hành quyết định hành
chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế.
1.2.4. Những yếu tố chi phối đến pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, nhập
khẩu
Pháp luật quản lý TXK, TNK chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau,
trong đó gồm một số yếu tố cơ bản sau:
1.2.4.1. Chính sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và cơ chế quản lý thuế của Nhà