Pháp luật về thu hồi đất từ thực tiễn huyện đông anh, thành phố hà nội - Pdf 36

LÊ THỊ THANH VÂN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LÊ THỊ THANH VÂN

2013 - 2015

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN HUYỆN
ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LÊ THỊ THANH VÂN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội,
Khoa Đào tạo sau đại học Viện Đại học Mở Hà Nội đã đào tạo và tạo những điều
kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình theo học tại đây và hoàn thành luận văn của
mình.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 ......................................................................................................... 10
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT ................ 10
1.1. Sự cần thiết phải thu hồi đất ...................................................................................... 10

1.1.1. Cơ sở lý luận - Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu ..................................................................................................... 10
1.1.2. Chức năng quản lý nhà nước về đất đai .............................................. 11
1.1.3. Thực tiễn - Nhu cầu cần thiết khách quan của việc thu hồi đất cho quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước ............................................. 12
1.2. Khái niệm thu hồi đất................................................................................................. 14
1.3. Điều chỉnh pháp luật về thu hồi đất ........................................................................... 19

1.3.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về thu hồi đất ................ 19
1.3.2. Cơ cấu pháp luật điều chỉnh việc thu hồi đất ...................................... 22
1.4. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thu hồi đất ................................ 23

1.4.1. Giai đoạn trước năm 1993 ................................................................... 23
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003 ................................................. 24
1.4.3 Giai đoạn từ năm 2003 đến trước ngày 1/7/2014 ................................. 25
1.4.4. Giai đoạn từ ngày 1/7/2014 đến nay .................................................... 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................................. 28

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 96


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HĐND

Hội đồng nhân dân

LĐĐ

Luật Đất Đai

NSDĐ

Người sử dụng đất

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

UBND

Uỷ ban nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về tổng kết tình hình thi hành
Luật Đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai (ngày 6/9/2012), thống

đưa vào sử dụng như thời gian vừa qua, cũng như phù hợp với chủ trương cải cách
thủ tục hành chính. Nắm bắt được thực trạng cũng như yêu cầu đặt ra như vậy, LĐĐ
năm 2013 được Quốc Hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi
hành từ 01 tháng 7 năm 2014. LĐĐ năm 2013 có 14 chương với 212 Điều, tăng 7
chương và 66 điểm so với LĐĐ năm 2003, đã thể chế hóa đúng và đầy đủ những
quan điểm, định hướng nêu trong Nghị Quyết số 19/NQ-TƯ Hội nghị lần 6 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng, đồng thời khắc phục, giải quyết được những tồn tại,
hạn chế phát sinh trong quá trình thi hành LĐĐ năm 2003, đặc biệt là vấn đề thu hồi
đất. Đến nay, LĐĐ năm 2013 đã triển khai được hơn 01 năm, có thể đây là một
khoảng thời gian không dài cho việc đánh giá tính ổn định và tính phù hợp của một
đạo luật, nhưng cũng đủ để các nhà nghiên cứu, giới chuyên môn, các cán bộ quản lý
nhà nước về đất đai và người dân, cộng đồng doanh nghiệp có những nhận định,
đánh giá một cách tổng quan và thiết thực nhất, kịp thời nhất những thành công của
LĐĐ năm 2013, cũng như những trở ngại, vướng mắc của Luật này trong quá trình
tổ chức triển khai trên thực tế.
Huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội cũng đã và đang trong thời kỳ triển khai
LĐĐ năm 2013, các Nghị định của Chính Phủ, các Thông tư của các Bộ và đặc biệt
là các văn bản của UBND thành phố Hà Nội đất đai nói chung và về vấn đề thu hồi
đất nói riêng. Quá trình triển khai pháp luật mới cho thấy có nhiều thuận lợi và dễ
triển khai hơn, các quy trình, thủ tục cũng được triển khai rút ngắn hơn. Tuy nhiên,
thực tiễn triển khai công tác này cũng đã và đang gặp phải những vướng mắc và trở
ngại do thời điểm chuyển giao giữa luật cũ và luật mới, do những thay đổi mới chưa
kịp thời được thích ứng. Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp
luật về thu hồi đất từ thực tiễn huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội” để thực hiện
Luận văn thạc sỹ với mong muốn nhận diện vấn đề thu hồi đất một các sâu sắc hơn,
đa diện hơn và thực tế hơn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

2



3


- Bài viết “Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất” được đăng trên Tạp chí
Luật học số 10/2010 của tác giả Trần Quang Huy. Sau khi trình bày sự cần thiết xây
dựng chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; đồng thời đánh giá các quy định cụ
thể về hỗ trợ người sử dụng đất khi bị thu hồi đất và tác giả đã đưa ra kiến nghị.
- Bài viết “Pháp luật về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường và giải phóng
mặt bằng và những vướng mắc nảy sinh trong quá trình áp dụng” được đăng trên
Tạp chí Luật học số 11/2010 của tác giả Nguyễn Thị Nga. Sau khi nghiên cứu quy
định pháp luật trong lĩnh vực nói trên, tác giả đề nghị: (i) Quy định quyền khiếu nại,
tố cáo của người dân được thực hiện ở tất cả các công đoạn của quá trình thu hồi đất;
(ii) Cần quy định việc giải quyết khiếu nại ở quy trình, công đoạn nào thì phải được
giải quyết dứt điểm ngay trong thời hạn luật định ở quy trình công đoạn đó, sau đó
mới thực hiện các trình tự, thủ tục tiếp theo của việc thu hồi đất, bồi thường và giải
phóng mặt bằng.
- Cuốn sách “Chế độ pháp lý về sở hữu và quyền tài sản đối với đất đai” của tác
giả Phạm Văn Võ, Nhà xuất bản Lao động năm 2012, đã đề cập việc thực hiện chế
độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thu hồi đất và những vấn đề đặt ra. Những vấn đề
có liên quan đến công tác thu hồi đất được tác giả đưa ra là cơ sở của việc tiếp tục
nghiên cứu, nhằm góp phần vào việc hoàn thiện pháp LĐĐ.
- Bài viết “Về giá đất làm căn cứ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” được
đăng trên Tạp chí Luật học, số 9 (148)/2012 của tác giả Phạm Thu Thủy. Trong bài
viết, tác giả đã đề xuất giải pháp hoàn thiện liên quan đến vấn đề giá đất làm căn cứ
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
- Giáo trình “Luật Đất Đai” của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Tư
pháp năm 2006 (tr.141-147). Trong nội dung “Các quy định về thu hồi đất”; tác giả
đã lần lượt trình bày các vấn đề: (i) Đưa ra định nghĩa về thu hồi đất (ii) Trên cơ sở
Điều 38, Điều 40 LĐĐ năm 2003, dưới giác độ khoa học, tác giả đã phân chia thành

dịch đất đai bắt buộc (Nhà nước thu hồi đất và giao đất), chuyển dịch đất đai tự
nguyện (các nhà đầu tư trực tiếp nhận chuyển nhượng QSDĐ của người đang sử
dụng đất) ở Việt Nam và cuốn sách đã có những khuyến nghị đề xuất về hoàn thiện
chính sách Nhà nước thu hồi đất và cơ chế chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt
Nam; đề xuất về hoàn chỉnh quy định của pháp luật về định giá đất áp dụng cho bồi

5


thường, hỗ trợ và tái định cư; đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết bức xúc,
khiếu nại về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Các kết quả nghiên cứu trên cùng với việc triển khai điều tra và tổng hợp số liệu
thứ cấp là tài liệu quan trọng trong việc học tập, nghiên cứu, kế thừa, hoàn thiện quy
định pháp luật có liên quan trong luận văn của mình.
3. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là phương
pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận văn để đánh giá
khách quan sự thể hiện của các quy định của pháp luật về thu hồi đất giới hạn trong
các trường hợp thu hồi đất. Luận văn cũng được nghiên cứu dựa trên đường lối,
chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước ta.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể khác nhau, như: phân tích, tổng hợp, thống kê, lịch sử cụ thể,
khảo cứu thực tiễn nhằm minh chứng cho những lập luận, cho những nhận xét đánh
giá, kết luận khoa học của luận văn.
Để hoàn thành mục đích nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp giữa các phương
pháp trong từng phần của luận văn, trong đó phương pháp phân tích và tổng hợp
được sử dụng nhiều nhất.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các văn bản pháp luật về thu hồi đất và các quy định
pháp luật có liên quan; thực tiễn thực hiện pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền và người được Nhà nước trao quyền, cũng như sự tuân thủ pháp luật của các
chủ thể có liên quan đến việc Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội được thể hiện trong một số quyết định hành chính; bản án, quyết
định của tòa án khi giải quyết các vụ khiếu kiện hành chính.
5.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn

7


Thu hồi đất là vấn đề có thể được nghiên cứu, tiếp cận từ nhiều góc độ khác
nhau. Trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý
của nội dung về thu hồi đất giới hạn trong các trường hợp thu hồi đất, nhằm tìm hiểu
những vấn đề chung của pháp luật về thu hồi đất, đánh giá thực trạng áp dụng pháp
luật về thu hồi đất tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó tác giả sẽ
đề ra định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đối với
lĩnh vực thu hồi đất trong bối cảnh kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay.
Bên cạnh đó, do LĐĐ năm 2013 mới có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014
nên những phân tích pháp luật thực định, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật mà
tác giả đề cập đã xảy ra trong thời gian áp dụng LĐĐ năm 2003, song những bất cập
đó vẫn chưa được giải quyết trong LĐĐ năm 2013.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về phương diện lý luận, luận văn đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề có liên
quan đến thu hồi đất từ thực tiễn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, qua đó giúp
các nhà lập pháp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các nhà nghiên cứu trong
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về vấn đề thu hồi đất ở nước ta hiện nay.
Về phương diện thực tiễn, luận văn góp phần nâng cao việc bảo đảm thực hiện
pháp luật đối với cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người được nhà nước trao
quyền và người bị thu hồi đất. Kết quả nghiên cứu mà luận văn đưa ra có thể được sử

Chương 1: Những vấn đề chung của pháp luật về thu hồi đất.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về thu hồi đất tại huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội.
Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thu
hồi đất.

9


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ
THU HỒI ĐẤT
1.1. Sự cần thiết phải thu hồi đất
1.1.1. Cơ sở lý luận - Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sở hữu
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu,
chế độ sở hữu này được xây dựng dựa trên những nền tảng lý luận khá vững chắc và
cơ sở thực tiễn phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất nước ta. Điều này đã trở thành
nguyên tắc cơ bản nhất của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp LĐĐ từ Hiến
pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 và LĐĐ năm 2013
hiện nay.
Theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và
các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý, là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Việc thực hiện sở hữu toàn
dân về đất đai, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu nhằm đảm bảo cho Nhà nước chủ
động trong khai thác, sử dụng tài nguyên đất đai phục vụ các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, an ninh, quốc phòng; phục vụ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
10



11


nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định
và theo sự giám sát của Nhà nước. Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước
nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và đa
dạng, bao gồm: hoạt động nắm chắc tình hình đất đai, phân phối và phân phối lại đất
đai và thanh tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất. Trong các hoạt động đó,
hoạt động phân phối và phân phối lại đất đai là hoạt động cơ bản, diễn ra thường
xuyên nhất. Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quy
hoạch và kế hoạch chung thống nhất. Trong quá trình phát triển của đất nước, ở từng
giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành, các cơ quan, tổ chức cũng
khác nhau, Nhà nước với vai trò chủ quản lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho
các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân
phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Để thực hiện việc
phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử
dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa
các vùng kinh tế. Hơn nữa, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất, cho phép chuyển quyền sử dụng đất và thu hồi đất.
Như vậy, thu hồi đất là một trong những chức năng, nhiệm vụ quan trọng của Nhà
nước trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước về đất đai.
1.1.3. Thực tiễn - Nhu cầu cần thiết khách quan của việc thu hồi đất cho quá
trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
Đất nước ta đang trong quá trình phát triển và hội nhập, vì vậy đô thị hóa, công
nghiệp hóa là một xu thế tất yếu, gắn liền với những biến đổi về kinh tế-xã hội. Sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mở ra không chỉ vì bản thân sự phát
triển tất yếu của nền kinh tế mà còn xuất phát từ mục tiêu, con đường đi tới chủ
nghĩa xã hội mà chúng ta đã lựa chọn.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra yêu cầu Nhà nước phải dành một quỹ đất

trong đó phần lớn đất thu hồi là đất nông nghiệp. Vì vậy, vấn đề đặt ra là việc thu hồi
đất phải được tính toán một cách khoa học và dựa trên cơ sở quy hoạch, đảm bảo hài
hòa giữa tăng trưởng kinh tế với ổn định xã hội, giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ
với bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và sự phát triển bền vững đất nước. Chúng
ta phải ý thức rất rõ về vai trò của đất nông nghiệp đối với cuộc sống của người dân
hiện tại và mai sau. Chính vì vậy, không thể phát triển công nghiệp bằng mọi giá mà
phải cẩn trọng, biết trân trọng đối với đất nông nghiệp.
13


Thứ ba, việc thu hồi đất còn do nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp nhằm mục đích sử dụng đất hiệu quả hơn. Trên thực tế, có những trường hợp
chủ sử dụng để đất nông nghiệp hoang hóa, không khai thác được giá trị sử dụng của
đất, hoặc là cho người khác thuê để sử dụng vào mục đích khác, hoặc bản thân diện
tích đất nông nghiệp đó không còn đáp ứng được yêu cầu về mặt hóa, lý cho mục
đích trồng trọt, ví dụ đất có độ dốc cao, bạc màu, cằn cỗi,… Trong khi đó, việc
chuyển đất nông nghiệp thành đất đô thị làm cho giá trị một đơn vị diện tích đất tăng
lên rõ rệt, ví dụ đất nông nghiệp có giá 50.000 đồng/1m2 nhưng chuyển sang đất đô thị
thì giá trị đất sẽ tăng lên là 5.000.000 đồng/1m2 (tăng gấp 100 lần). Để đảm bảo hiệu quả
cho việc sử dụng đất, cũng như quyền lợi của chủ thể sử dụng đất, việc quy hoạch,
chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp cần phải được đặt ra.
Việc thu hồi đất do nhu cầu của Nhà nước sẽ là hợp lí, hợp quy luật và chính
đáng nếu đất đó được khai thác và sử dụng có hiệu quả cho các mục đích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và vì mục tiêu phát triển kinh tế.
Việc thu hồi đất cũng sẽ là tất yếu và nhận được sự đồng lòng, nhất trí cao của người
có đất bị thu hồi nếu đất đó được sử dụng đích thực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
đô thị hóa đất nước và đi kèm với đó là chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho
người có đất bị thu hồi một cách thỏa đáng, hơn thế nữa là sự bố trí việc làm gắn liền
với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách hợp lí, cân bằng.
1.2. Khái niệm thu hồi đất

Trong quá trình xây dựng LĐĐ năm 2013, đã có khá nhiều quan điểm, ý kiến
bàn luận về khái niệm pháp lý này. Có quan điểm cho rằng, thuật ngữ “thu hồi đất”
chỉ thật sự phù hợp cho trường hợp: Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp LĐĐ và
thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật hoặc tự nguyện. Bởi lẽ, khi Nhà
nước giao đất, cho thuê đất hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mặc
dù không có quyền sở hữu nhưng người dân hoặc tổ chức đã được xác lập quyền sử
dụng với ý nghĩa là quyền tài sản tư (Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005). Người sử
dụng đất được thực hiện các quyền năng trong việc chuyển quyền sử dụng đất như
chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê quyền sử dụng đất,… Như vậy, trong
quá trình sử dụng đất, họ được “định đoạt” quyền sử dụng đất hợp pháp của mình.
Mặt khác, toàn văn Hiến pháp năm 1992 không có quy định về thu hồi đất, mà chỉ
quy định về vấn đề trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản hợp pháp của cá
nhân, tổ chức (Điều 23, Hiến pháp 1992). Quyền thu hồi đất của Nhà nước là quy
15


định riêng của hệ thống pháp luật về đất đai, căn cứ vào sở hữu toàn dân về đất đai,
mà chưa được thể hiện trong Hiến pháp là đạo luật gốc của quốc gia. Cần phải thay
cơ chế “Nhà nước thu hồi đất” của LĐĐ bằng cơ chế “Nhà nước trưng mua hoặc
trưng dụng quyền sử dụng đất” và chỉ áp dụng trong trường hợp thật cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia. Có như vậy LĐĐ mới phù hợp với
Hiến pháp.
Đa số các ý kiến khác lại cho rằng, trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước có quyền
phân bổ và điều chỉnh đất đai. Việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền sử dụng
đất của đối tượng này hay đối tượng khác vì mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước là
hoàn toàn thuộc quyền của Nhà nước với hai tư cách đó. Việc có hay không sự lạm
quyền, độc quyền hay xâm phạm tới quyền tài sản tư, không biểu hiện ở quyết định
hành chính về thu hồi đất mà cần phải xem xét quyết định hành chính đó có đúng đắn
và vì mục đích chung hay không.

quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức,
UBND cấp xã quản lý trong những trường hợp cụ thể và Nhà nước có trách nhiệm
bồi thường giá trị thiệt hại, hỗ trợ nhằm đảm bảo cuộc sống của người sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
Việc Nhà nước thu hồi đất thể hiện ở những khía cạnh pháp lý và thực tiễn như
sau:
Thứ nhất, ý chí của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền định đoạt tài
sản là QSDĐ của NSDĐ, hoặc là đất mà Nhà nước đã giao cho các cơ quan nhà nước
phải được thể hiện quyết định hành chính. Đây là hành vi pháp lý đơn phương của
người đại diện chủ sở hữu nhằm chấm dứt quan hệ pháp LĐĐ giữa Nhà nước và
NSDĐ, không phụ thuộc vào ý chí của NSDĐ.
Thứ hai, bên cạnh việc thể hiện quyền của chủ sở hữu trong việc thu hồi đất
nông nghiệp, bất cứ Nhà nước nào cho dù là sở hữu đất đai toàn dân như ở nước ta
hoặc là đa sở hữu về đất đai như các quốc gia khác trên thế giới cũng đều có quyền
năng này với tư cách là người được nhân dân ủy quyền để thực hiện quyền lực công;
hay nói cách khác đây là quyền lực đương nhiên của Nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích
cộng đồng, tuy nhiên, có sự khác nhau về việc sử dụng thuật ngữ pháp lý như truất
hữu vì lợi ích công cộng đối với pháp luật của Cộng hòa Pháp, trưng thu hay trưng
17


dụng đất đai đối với pháp luật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, trưng dụng đất đối
với pháp luật của Hoa Kỳ, Nhật Bản,...[24, tr. 30 - 33].
Thứ ba, khác với việc chuyển QSDĐ giữa các chủ thể, sau khi các bên thực
hiện quyền và nghĩa vụ theo nội dung đã cam kết theo quy định pháp luật thì đương
nhiên chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự; còn trong trường hợp Nhà nước thu hồi
đất, ngoài việc bồi thường giá trị thiệt hại, Nhà nước còn có trách nhiệm trong việc
hỗ trợ, đảm bảo đời sống của NSDĐ trong trường hợp NSDĐ không vi phạm pháp
luật, ngoại trừ trường hợp đương nhiên bị thu hồi đất do bị chết, không có nhu cầu sử
dụng,... hay nói cách khác, quan hệ giữa Nhà nước và người có đất bị thu hồi không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status