ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO
DỤC
TRẦN THỊ HỒNG
DẠY HỌC TÁC PHẨM "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA"
CỦA
NGUYỀN MINH CHÂU CHO HỌC SINH LỚP 12 THEO
ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ
VĂN
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY
HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60.14.01.11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN PHƢỢNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn
P h ư ợn g , n g ư ời t h ầ y đ ã t ận t ì n h g i ú p đ ỡ , ch ỉ b ảo e m t ro n g s u ố t q u á t rì n h l à m l u
ận v ăn .
Xin cảm ơn các quý thầy cô trong trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia
Hà Nội, đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để em hoàn thành luận văn này.
Em cũng gửi lời cảm ơn đến BGH trường THPT Phùng Khắc Khoan- Thạch
Thất - Hà Nội cùng bạn bè đồng nghiệp, cùng các em học sinh đã giúp đỡ em rất
Giáo dục - đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
HĐ
Hoạt động
NXB
Nhà xuất bản
PPDH
Phương pháp dạy học
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
1 . 2 . 2 . T h ự c t i ễ n d ạ y h ọ c t á c p h ẩ m C h i ế c t h u yề n n g o à i x a c ủ a N g u yễ n M i n h
Châu .....................................................................................................................19
Tiểu kết chương 1.................................................................................................34
CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ DẠY HỌC TÁC PHẨM "CHIẾC THUYỀN
NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC...........................................................................................36
2.1. Những năng lực cần đạt được sau khi dạy học bài "Chiếc thuyền ngoài xa"...36
2.1.1. Năng lực đọc hiểu ......................................................................................36
2.1.2. Năng lực cảm thụ .......................................................................................43
2.1.3. Năng lực giải quyết vấn đề.........................................................................46
2.1.4. Năng lực sáng tạo.......................................................................................49
2.1.5. Năng lực tạo lập văn bản............................................................................51
2.2. Quy trình thiết kế dạy học tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" củaNguyễn
Minh Châu theo định hướng phát triển năng lực. ................................................53
iii
2.3. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài
xa" của Nguyễn Minh Châu theo định hướng phát triển năng lực ......................58
2.3.1. Phương pháp...............................................................................................58
2.3.2. Các hình thức tổ chức dạy học...................................................................63
Tiểu kết chương 2.................................................................................................65
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ
PHẠM ....................................................66
3.1. Giáo án dạy bài "Chiếc thuyền ngoài xa" theo định hướng phát triển năng
lực.........................................................................................................................66
3.2. Tiến trình thực nghiệm dạy bài "Chiếc thuyền ngoài xa" theo định hướng
phát triển năng lực................................................................................................88
3.2.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm............................................88
3.2.2. Kế hoạch thực nhiệm .................................................................................89
Bảng 3.1.
Tổng quan đối tượng TN và ĐC
89
Bảng 3.2.
Kết quả hai bài kiểm tra lớp 12A2 và 12A6
90
Bảng 3.3.
Phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra
91
số 1 và số 2 của HS 2 lớp TN và ĐC
Bảng 3.4.
Kết quả phân loại học tập của học sinh
92
v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
của khoa học và công nghệ. Nền kinh tế tri thức trở thành yếu tố then chốt quyết
định sự phát triển và vị thế của mỗi quốc gia, trong đó con người đóng vai trò là yếu
tố trung tâm, chủ thể kiến tạo nên xã hội, vì thế con người cần trang bị vốn tri thức
và năng lực đa dạng để đáp ứng yêu cầu mới của xã hội tri thức. Hơn nữa trong
một xã hội toàn cầu con người không chỉ là công dân của một quốc gia mà còn là
công dân của quốc tế, nguồn nhân lực của thế giới nên con người cần chuẩn bị
một hành trang tốt nhất để đón nhận những cơ hội và cả những thách thức mới
của đời sống quốc tế. Để chuẩn bị cho thế hệ trẻ đối mặt và vững vàng trước những
thách thức đó, giáo dục phải đi trước một bước, phải tiến hành cuộc cách mạng
nhằm thay đổi, cải tiến chương trình, phương pháp cách tiếp cận để giáo dục thực
sự là công cụ hữu hiệu hỗ trợ đắc lực cho con người trong một xã hội mới. Đây
cũng là mục tiêu giáo dục của mà UNESCO đề xướng: "Học để biết, học để làm,
học để chung sống, học để tự khẳng định mình", như vậy HS học không phải chỉ
tiếp thu tri thức của nhân loại mà còn phải biết vận dụng, thực hành tạo ra được sản
phẩm cho xã hội, biết cách chung sống với cộng đồng, thích ứng được với từng
hoàn cảnh, môi trường sống, phát huy được những năng lực sở trường và khả
năng của mình, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo cho mình. Qua đó tự khẳng định giá
trị của bản thân, vị thế của bản thân trong cộng đồng.
Dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực là một chương trình dạy học
theo chuẩn đầu ra về phẩm chất năng lực. Khác với chương trình hiện hành theo định
hướng nội dung đã triển khai nhiều năm qua, đang tồn tại nhiều bất cập và hạn chế,
chương trình dạy học theo năng lực tập trung vào mô tả chất lượng đầu ra, có thể
coi là "sản phẩm cuối cùng" của quá trình dạy học đáp ứng những mục tiêu giáo
dục hiện nay. Phát triển năng lực của người học đang trở thành một
1
hướng đi đúng đắn hiện nay mà nhiều quốc gia đang theo đuổi, đáp ứng xu thế
toàn cầu, phù hợp với định hướng của trung ương Đảng trong nghị quyết 29:
"Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
lực học sinh trong thế kỉ XXI (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2010), bài viết Thiết kế
chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận đầu ra (Tôn Quang Cường), bài báo
cáo Từ định hướng giáo dục phát triển năng lực học sinh nghĩ về viêc dạy học
văn học dân gian trong nhà trường phổ thông (Nguyễn Thị Ngọc Điệp, 2014)
luận án tiến sĩ Phát triển một số những năng lực của họa sinh trung học phổ
thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong dạy học hóa học vô cơ (Trần
Thị Thu Huệ, 2012), luận án tiến sĩ Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
cho học viên trường sĩ quan chính trị (Trần Xuân Phú, 2012),luận văn thạc sĩ Dạy
học phát triển năng lực học sinh trung học phổ thông với các bài toán tiếp cận
chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) (Nguyễn Quốc Trịnh, 2011).
Ngoài ra còn nhiều bài báo khoa học, bài nghiên cứu, nhiều công trình nghiên
cứu, tham luận khác đã cung cấp các vấn đề lí luận và thực tiễn về việc xây dựng
hệ thống các năng lực cho HS hiện nay.
2.2. Dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa theo hướng phát triển năng lực
Tác giả Nguyễn Minh Châu và tác phẩm của ông luôn có một vị trí đặc
biệt trong chương trình phổ thông. Ông là người đặt những viên gạch đầu tiên
định hướng, chuyển giao thành công về cảm hứng sáng tác, chủ đề, đề tài cho sự
đổi mới của nền văn học nước nhà trong thời kì hậu chiến. Truyện ngắn "Chiếc
thuyền ngoài xa" cùng nhiều truyện vừa, truyện ngắn khác sau 1975 như: Cỏ lau,
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành… luôn tạo dược sự chú ý, hấp dẫn với bạn
đọc nói chung và giới phê bình nói riêng. Số lượng bài viết lên đến con số hàng
trăm, được tập hợp trong cuốn: "Nguyễn Minh Châu - Con người và Tác
4
phẩm" do Nguyễn Trọng Hoàn giới thiệu và tuyển chọn, Tôn Phương Lan với
công trình "Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu" và còn nhiều chuyên
luận, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, nghiên cứu về tác giả và
tác phẩm của Nguyễn Minh Châu.
"Chiếc thuyền ngoài xa" là truyện ngắn mới được đưa vào chương trình
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT Phùng Khắc Khoan - Thạch
Thất - Hà Nội.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
- Năng lực của học sinh THPT qua dạy học tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài
xa" của Nguyễn Minh Châu .
- Tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu .
- Học sinh lớp 12
- Hiệu quả dạy học "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu theo
định hướng phát triển năng lực.
5. Phạm vi nghiên cứu
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho hoạc sinh lớp 12 qua tác
phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu (Chương trình SGK
Ngữ văn 12 cơ bản)
6. Giả thuyết khoa học
Nếu dạy học tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" theo định hướng phát
triển năng lực thì sẽ giúp hoạt động dạy học cuả thầy và trò đạt được những mục
tiêu của bài học, đồng thời giúp HS phát huy được các năng lực khi học tác
phẩm, tạo động lực và hứng thú cho HS khi học văn, góp phần vào đổi mới dạy
học tác phẩm này nói riêng và đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn
nói chung.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
7
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu, phân tích, tổng hợp những
vấn đề lí luận, những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
những năm 50 của thế kỉ XX với các công trình nghiên cứu về năng khiếu, tài
năng của các tác giả J.Guilfold, C.Taylor.
Đến thập kỉ 70 của thế kỉ XX, các nước xã hội chủ nghĩa có nhiều công
trình nghiên cứu về năng lực và phát triển năng lực nghề nghiệp cho người học
trong tổ chức dạy học ở các nhà trường. Ở Liên Xô (cũ) tiêu biểu các công trình
nghiên cứu của các tác giả: I.Ia.Lecne, M.I.Macmutov, M.N.Xkatkin, V.Okon...
Các công trình đó đều chỉ rõ tầm quan trọng của phát triển tính độc lập, sáng tạo và
năng lực nghề nghiệp của người học, từ đó trở thành hệ thống lí luận trong việc
hình thành cho người học những năng lực nghề nghiệp cần thiết, tiêu biểu tác
phẩm "Lí luận dạy học trong trường phổ thông trung học" (1982) của các tác giả
M.I.Macmutov, M.N.Xkatkin, V.Okon; tác phẩm "Khoa học sư phạm tích hợp
hay làm thế nào để phát triển các năng lực trong nhà trường" của Xavier
Roegiers; công trình nghiên cứu "Hình thành các kĩ năng kĩ xảo sư phạm cho
sinh viên trong điều kiện nền giáo dục đại học", Kixegof và các cộng sự đã thiết kế
hơn 100 kĩ năng giảng dạy, trong đó tác giả đề xuất 50 kĩ năng cần thiết để nhằm
phát triển năng lực cho người học. Tuy nhiên các công trình không đưa ra được
cách thức tổ chức quá trình dạy học trong nhà trường nhằm phát triển năng lực cho
người học.
Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI ở phương Tây cũng xuất hiện các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học đề cập đến việc phát triển các năng lực
9
cần thiết cho người học trong tổ chức dạy học. Đó là các công trình "Rèn luyện
tư duy siêu tốc" (1996) của Robert Z.Strenberg và Wendy M.William; "Phát
triển tư duy sáng tạo" (2008) của Kal Russel.
Ở Châu Á- Thái Bình Dương trong những năm gần đây, vấn đề phát triển
năng lực hành động thực tiễn cho người học luôn được các quốc gia chú ý, nhiều
công trình khoa học của các tác giả đã ra đời. Năm 1988 tại Seoul - Hàn Quốc,
trong hội thảo của Chương trình Châu Á - Thái Bình Dương về cách tân giáo dục
dừng lại ở mức độ tham luận bàn bạc, một số quan điểm hay đề xuất đổi mới còn
mang tính kinh nghiệm.
Những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu, đề tài lí luận và thực
tiễn nghiên cứu việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực
học sinh chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực học sinh, với
những các tiếp cận và hướng giải quyết khác nhau. Các công trình này đã chỉ ra
rằng, quá trình dạy học không dứng lại ở việc trang bị những kiến thức kĩ năng
cho HS mà cò bồi dưỡng cho HS những năng lực cần thiết giúp các em biết vận
dụng linh hoạt những kiến thức đã học vào các tình huống trong thực tiễn.
Trong các công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực cho người
học phải kể đến một số những nghiên cứu của các tác giả: PGS.TS. Đỗ Ngọc
Thống, GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS. Tôn Quang Cường, ThS. Nguyễn Quốc Trịnh
… Các nghiên cứu đó đã khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển năng lực cần phải
chuyển từ cách dạy tập trung vào kiến thức sang tập trung vào năng lực, hướng
việc xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp, vận dụng các hình thức tổ
chức vào việc dạy học, đào tạo năng lực theo mục tiêu dạy học. Những nghiên
cứu này bước đầu đã tạo nền tảng về lí luận và thực tiễn cho các nhà giáo dục tiếp
tục các công trình khác có tính sâu rộng hơn, góp phần đổi mới toàn diện nền giáo
dục nước nhà và bắt kịp với xu thế giáo dục thế giới.
11
Nhìn lại quá trình lịch sử nghiên cứu về năng lực và phát triển năng lực
cho người học của các tác giả trong và ngoài nước có thể nhận thấy: Năng lực và
dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học được sự quan tâm
đông đảo của các nhà khoa học giáo dục và được triển khai nghiên cứu dưới
nhiều hình thức khác nhau và sự chú ý của nhiều quốc gia trên thế giới.
Từ những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi hình thành, xây dựng và
phát triển đề tài của mình với mục đích tiếp cận những tri trức, phương pháp dạy
học mới nhằm phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy góp phần đổi mới dạy học
Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2000): "Năng lực là tập hợp các tính
chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định".
F.E.Weinert (2001) định nghĩa: "Năng lực là những kĩ năng kĩ xảo học
được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như
sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề
một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt".
OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển) (2002) đã xác định: Năng lực là
khả năng cá nhân đáp ứng yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiện vụ trong
một bối cảnh cụ thể".
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005): Năng lực là một thuộc tính
tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,
kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức" [1].
Theo Nguyễn Minh Phương (2007): "Năng lực cần đạt của học sinh THPT
là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị dược cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động
có kết quả" [13, tr.12].
Theo Nguyễn Trọng Khanh (2013): Một cách khái quát, có thể hiểu năng
lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý của con người đảm bảo thực hiện một hoạt
động nào đó [6].
13
T ừ n h ữn g k h á i n i ệ m t r ê n c ó t h ể t h ấ y v i ệ c đ ị n h n g h ĩ a k h á i n i ệ m n ă n g l ực
k h á đ a d ạ n g , t ồ n t ạ i n h i ề u c á c h h i ể u k h á c n h a u . Tu y n h i ê n c á c đ ị n h n g h ĩ a c ó
khác nhau về câu chữ nhưng đều khẳng định: nói đến năng lực là phải nói đến
khả năng thực hiện, khả năng hành động một việc nào đó, tức là phải biết làm, ch ứ
k h ô n g ch ỉ b i ết v à h i ểu t ri t h ứ c đ ơn t h u ần .
Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm
năng lực được sử dụng như sau:
- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy
đòi hỏi theo đuổi việc xác định "con người cần phải có những kiến thức và kỹ
năng gì" để thực hiện tốt vai trò của mình.
(3) Mô hình dựa trên các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác
định con người "cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc".
Theo tác giả Bernd Meier, Nguyễn văn Cường (2005): Có nhiều loại năng lực
khác nhau. Năng lực hành động cũng là một loại năng lực. Khái niệm phát triển
năng lực cũng được hiểu đồng nghĩa với phát triển năng lực hành động. Cấu
trúc của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần
Nguồn: [1, tr 46]
15
(a) Năng lực chuyên môn (Professional competency):
Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh
giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt
chuyên môn. Trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp,
trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ hệ thống và quá trình. Năng lực
chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực, nội dung chuyên môn theo nghĩa
rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn.
(b) Năng lực phương pháp (Methodical competency):
Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích
trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm
năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của
phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ
và trình bày tri thức.
(c) Năng lực xã hội (Social competency):
Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội xã hội cũng
như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp sự phối hợp chặt chẽ với
những thành viên khác.
- Năng lực tính toán
Năng lực riêng (năng lực chuyên biệt hoặc năng lực cụ thể) được hình
thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó. Đối với bộ môn Ngữ văn
bậc THPT năng lực chuyên biệt được xác định gồm có 6 năng lực:
- Năng lực giao tiếp tiếng Việt
- Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ
- Năng lực tư duy sáng tạo
- Năng lực giải quyết vấn đề
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tự quản lý bản thân
17