Đề tài Chế độ quằng và đời sống văn hóa của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945 - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

BÙI THỊ NGA

CHÕ §é QU»NG Vµ §êI SèNG V¡N HãA
CñA NG¦êI TµY ë B¶O L¹C (CAO B»NG)
TR¦íC N¡M 1945
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:

60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. §µo Tè Uyªn

Hà Nội, 2014


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS. TS. Đào Tố
Uyên, người đã tận tâm, tận tình chỉ bảo, động viên và hướng dẫn tác giả trong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Lịch sử đặc
biệt là Tổ bộ môn Lịch sử Việt Nam, Phòng sau đại học trường Đại học Sư Phạm
Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình lựa chọn
và hoàn thiện đề tài luận văn.
Cuối cùng, xin gửi lời biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và các đồng
nghiệp đã luôn ủng hộ, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và
thực hiện luận văn.


: Chính trị quốc gia

ĐHSPHN

: Đại học sƣ phạm Hà Nội

TTLTQG I

: Trung tâm lƣu trữ quốc gia I

UBND

: Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích, đối tƣợng, nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài .............. 5
4. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu .................................................. 6
5. Đóng góp của Luận văn ................................................................................ 7
6. Bố cục của Luận văn ..................................................................................... 8
NỘI DUNG....................................................................................................... 9
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BẢO LẠC (CAO BẰNG) .............. 9
1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên .............................................................. 9
1.1.1. Vị trí địa lý .......................................................................................... 9
1.1.2. Điều kiện tự nhiên ............................................................................. 10
1.2. Lịch sử hành chính ................................................................................... 16

2.4. Một số nhận xét về chế độ Quằng đối với chính trị - xã hội của Bảo
Lạc trƣớc năm 1945 ........................................................................................ 80
Tiểu kết chương 2 ......................................................................................... 83
Chƣơng 3: ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA NGƢỜI TÀY Ở BẢO LẠC
(CAO BẰNG) ................................................................................................. 84
3.1. Đời sống văn hoá vật chất ........................................................................ 84
3.1.1. Làng bản và nhà cửa ......................................................................... 84
3.1.1.1. Làng bản .................................................................................... 84
3.1.1.2. Nhà cửa ...................................................................................... 85
3.1.2. Ăn uống ............................................................................................. 86
3.1.2.1. Các món ăn ngày thường ........................................................... 86
3.1.2.2. Các món ăn ngày lễ, tết.............................................................. 86


3.1.2.3. Cách chế biến một số món ăn .................................................... 87
3.1.3. Y phục, trang sức .............................................................................. 92
3.1.3. 1. Y phục ........................................................................................ 92
3.1.3.2. Trang sức ................................................................................... 92
3.2. Đời sống văn hoá tinh thần ...................................................................... 92
3.2.1. Các tục lệ xã hội ................................................................................ 92
3.2.1. 1. Hôn nhân ................................................................................... 92
3.2.1. 2. Tang ma..................................................................................... 97
3.2.1.3. Tục mừng thọ ............................................................................. 99
3.2.1. 4. Tục “Vàng rùng” .................................................................... 100
3.2.1. 5. Đầy tháng (ma nhét) ............................................................... 101
3.2.1. 6. Lễ tết ........................................................................................ 101
3.2.2. Tín ngƣỡng, tôn giáo ....................................................................... 104
3.2.2.1. Tín ngưỡng ............................................................................... 104
3.2.2.2. Tôn giáo ................................................................................... 106
3.2.3. Lễ hội........................................................................................... 106

có cả một khúc hát Cao Bằng:
“Nước Cao Bằng chảy ngược,
Một lần uống vẫn còn nhớ mãi!
Gạo Cao Bằng thật trắng,
Ăn vào mới biết hát lượn “Nàng ơi”!
[9, Tr. 10]
Cũng giống nhƣ châu Vị Xuyên (Hà Giang), châu Bảo Lạc (Cao Bằng) thuộc
trấn Tuyên Quang từ xƣa vốn là đất “phên giậu”, có vị trí chiến lƣợc quan trọng về
quốc phòng và an ninh ở biên cƣơng phía Bắc của Tổ quốc. Vì vậy, ngay khi chế độ
phong kiến trung ƣơng tập quyền đƣợc xác lập, các triều đại phong kiến Việt Nam

1


luôn coi trọng gìn giữ vùng quan ải, phiên trấn của Tổ quốc ở biên giới phía bắc
(đặc biệt là nơi đồng bào dân tộc sinh sống), để giữ yên bờ cõi bằng cách gả công
chúa, phong chức tƣớc cho thổ tù địa phƣơng,…nhƣ ở thời nhà Lý: “Thời bấy giờ
không đặt tiết trấn, các việc quân sự và dân sự đều giao cho các châu mục cai
quản. Các miền thượng du lại giao cho bọn tù trưởng địa phương cai quản. Nhà
vua sợ khó khống chế được họ nên mới kết mối giao hảo bằng các cuộc hôn nhân
để ràng buộc họ… từ đó, việc gả công chúa cho các châu mục trở thành lệ thường
của nhà Lý” [12, Tr. 33]
Nhƣ vậy, trƣớc cách mạng tháng Tám 1945, dƣới sự cai trị của các triều đại
phong kiến trung ƣơng tập quyền, ở một số vùng dân tộc miền núi đã tồn tại một
chế độ xã hội mà trong đó quyền lực của các thổ tù địa phƣơng là hết sức lớn – gọi
chung là chế độ thổ ty với nhiều tên gọi và hình thức khác nhau nhƣ: Lang đạo (hay
Nhà Lang) của ngƣời Mƣờng, Phìa tạo của ngƣời Thái, hoặc Quằng trong tiếng gọi
của ngƣời Tày.
Chế độ Quằng của ngƣời Tày đã tồn tại dai dẳng đến cách mạng tháng Tám
mới thực sự tan rã. Những tàn dƣ của nó đã ảnh hƣởng lớn đến đời sống của đồng

trƣờng phổ thông.
Với những lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Chế độ Quằng và
đời sống văn hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945” làm đề
tài nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lĩnh vực nghiên cứu lịch sử và văn hóa của các dân tộc ít ngƣời ở miền núi
phía Bắc nƣớc ta từ trƣớc đến nay đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
dƣới các góc độ khác nhau.Việc tìm hiểu về thiết chế Quằng của ngƣời Tày (hay
chế độ Quằng) ở vùng Việt Bắc nói chung và của huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) nói
riêng đã có các công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Nghiên cứu về vấn đề này trƣớc hết phải kể đến các bài nghiên cứu của các
nhà sử học, nhà nghiên cứu nhƣ Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Nguyễn Tuấn
Liêu, Hoàng Hoa Toàn, … trên Tạp chí Dân tộc học, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử…
+ Nguyễn Tuấn Liêu trong Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 44 (1962) với bài
“Mấy nét tình hình và nhận xét về chế độ Quằng trong dân tộc Tày ở Hà Giang” đã

3


trình bày những nét chính về tình hình chế độ Quằng trong dân tộc Tày ở Hà Giang
trƣớc 1945. Từ đó, tác giả đã đƣa ra một số nhận xét khá thuyết phục của bản thân
về đặc điểm chế độ Quằng nơi đây.
+ Cầm Trọng (1968) với bài nghiên cứu “Khái niệm Quằng của người Tày có
liên quan gì đến khái niệm Quảng của người Thái”, Tạp chí Dân tộc học. Trong đó,
tác giả đã có những phân tích, liên hệ và chứng minh hai khái niệm “quằng” của
ngƣời Tày và “quảng” của ngƣời Thái về bản chất là một.
+ Đặng Nghiêm Vạn (1977) với bài nghiên cứu“Người gia nô trong xã hội có
chế độ thổ ty, lang đạo, phìa tạo”đã phản ánh khá chi tiết tình cảnh và số phận của
những ngƣời gia nô (nô lệ) trong xã hội còn tồn tại chế độ thổ ty, lang đạo, phìa tạo
trƣớc năm 1945.

Giang trước năm 1945” của sinh viên Hoàng Diệu Thúy (2003) - Khoa Lịch sử ĐHSP Thái Nguyên, tác giả đã phân tích khá sâu sắc về tình hình và thiết chế
chính trị xã hội Quằng ở Hà Giang. Trong đó, có nhắc đến mối quan hệ gắn bó và
họ hàng giữa các dòng họ Quằng ở Hà Giang với các dòng họ Quằng ở Bảo Lạc
tại thời điểm mà chế độ Quằng vẫn còn tồn tại ở đây.
Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp cho tác giả những luận cứ
khoa học quan trọng và cũng là những ý kiến gợi mở quý báu để tác giả có điều
kiện thực hiện và hoàn thành đề tài của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng, nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu: Thực hiện đề tài “Chế độ Quằng và đời sống văn
hoá của người Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trước năm 1945” trên cơ sở nguồn tƣ
liệu có đƣợc, tác giả đề tài mong muốn bƣớc đầu khôi phục lại một cách chân
thực, khoa học diện mạo của chế độ Quằng và đời sống văn hoá của đồng bào Tày
ở Bảo Lạc trƣớc năm 1945. Từ đó, tác giả sẽ rút ra những nhận xét, đánh giá của
bản thân về đặc điểm của chế độ Quằng - một chế độ chính trị - xã hội đã từng
tồn tại dai dẳng, chi phối đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào địa phƣơng.
Đồng thời làm nổi bật đƣợc những nét văn hoá truyền thống trong đời sống văn
hóa của đồng bào Tày nơi đây.
- Đối tƣợng nghiên cứu: Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của ngƣời Tày ở
Bảo Lạc (Cao Bằng) trƣớc năm 1945

5


- Nội dung nghiên cứu: Tìm hiểu Chế độ Quằng) và đời sống văn hoá của
đồng bào Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trƣớc năm 1945. Từ đó, tác giả rút ra đặc điểm
và ảnh hƣởng của chế độ Quằng tới đời sống ngƣời dân bản địa.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu “Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của
ngƣời Tày ở Bảo Lạc (Cao Bằng) trƣớc 1945” ở phạm vi không gian là một châu châu Bảo Lạc (thuộc xứ Tuyên Quang cũ) nay là huyện Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng
(bao gồm hai huyện Bảo Lạc và Bảo Lâm ngày nay).

(tức là đặt Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của ngƣời Tày ở Bảo Lạc)trong một
không gian, thời gian, bối cảnh và tiến trình lịch sử của nó để giải thích đƣợc và làm
rõ vấn đề.
- Phƣơng pháp cụ thể:
+ Phƣơng pháp sƣu tầm tƣ liệu, phân loại tƣ liệu và chỉnh lí tƣ liệu
+ Phƣơng pháp điền dã dân tộc học
5. Đóng góp của Luận văn
Nghiên cứu về “Chế độ Quằng và đời sống văn hoá của ngƣời Tày ở Bảo Lạc
(Cao Bằng) trƣớc năm 1945” sẽ góp phần phục dựng lại chế độ Quằng của đồng
bào Tày đã từng tồn tại dai dẳng trong lịch sử. Qua đó, thấy đƣợc những đặc điểm
riêng biệt của chế độ Quằng nơi đây so với các nơi khác.
Thông qua tìm hiểu về Chế độ Quằng, đề tài cũng sẽ bƣớc đầu dựng lại một
cách chân thực bức tranh xã hội miền núi phía Bắc nƣớc ta dƣới sự tác động của
chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam. Trên cơ sở đó, thấy
đƣợc ý nghĩa quan trọng về quốc phòng và an ninh của những vùng dân tộc ít
ngƣời miền núi biên giới của nƣớc ta, từ đó có những chính sách dân tộc phù hợp
và kịp thời để thực hiện mục tiêu đƣa miền núi và miền xuôi xích lại gần nhau.
Qua tìm hiểu về đời sống văn hoá của đồng bào Tày sẽ giúp ta thấy đƣợc
những nét văn hoá truyền thống của đồng bào Tày ở Bảo Lạc mà cho đến ngày
nay vẫn còn lƣu giữ đƣợc. Từ đó có những chính sách gìn giữ, bảo tồn và phát
huy những nét văn hoá truyền thống trong công cuộc hội nhập hiện nay.

7


Luận văn cũng là nguồn tài liệu bổ sung cho phần lịch sử cổ - trung đại
Việt Nam và đồng thời cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy
lịch sử địa phƣơng ở trƣờng phổ thông.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phục lục và tài liệu tham khảo, phần

Hoặc “Địa hạt hai huyện (huyện Vĩnh Điện và Để Định - tức châu Bảo Lạc)
phía đông giáp địa giới châu Bạch Thông tỉnh Thái Nguyên và huyện Thạch Lâm
tỉnh Cao Bằng; phía tây giáp huyện Vị Xuyên; phía nam giáp châu Chiêm Hoá;
phía bắc giáp hai phủ Khai Hoá, Trấn An nước Thanh…” [54, Tr. 871]
Với vị trí địa lý nhƣ vậy, Bảo Lạc là một huyện biên giới, vùng cao,vùng
sâu, nằm ở phía tây của tỉnh Cao Bằng. Mặt khác, Bảo Lạc cũng có vị trí quan
trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng.

9


1.1.2. Điều kiện tự nhiên
- Về địa hình
Nằm trong khu vực địa bàn núi cao phía bắc của tỉnh Cao Bằng cũng là vùng
miền núi cao phía Bắc Việt Nam, huyện Bảo Lạc là một quần thể núi non hùng vĩ,
có địa hình hiểm trở, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống núi cao kéo dài, có độ
dốc lớn với nhiều khe núi, nhiều núi đá, trong đó, chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ các
sông suối, thung lũng hẹp.
Xét trong tổng thể địa hình Cao Bằng, địa hình Bảo Lạc thuộc Cao nguyên
Lang Cá và Cao nguyên Bình Lạng, đây là cao nguyên đá vôi đồ sộ nằm ở phía tây
của huyện Bảo Lạc và huyện Bảo Lâm. Cao nguyên này bị cắt xẻ bởi nhiều thung
lũng sâu với những vách đá dựng đứng, có nhiều vực thẳm có nhiều ngọn núi cao từ
1200m - 1800m, là một cao nguyên hiểm trở giao thông đi lại khó khăn, dân cƣ
thƣa thớt.
Dãy Bảo Lạc - Tắp Ná chạy sang phía đông Bảo Lạc kéo dài qua Thông Nông,
tây Hòa An đến đông bắc Nguyên Bình. Đỉnh cao nhất có độ cao 1803m thuộc xã
Khánh Xuân (Bảo Lạc). Dãy núi này cũng bị chia cắt thành nhiều hẻm vực sâu,
nhiều thung lũng rộng, điển hình là thung lũng Đồng Mu, một thung lũng nổi tiếng
ở độ cao 893 m so với mặt nƣớc biển.
Trong cuốn Đồng Khánh Dƣ địa chí cũng đã ghi chép về núi sông của Bảo Lạc (bấy

Thời Nguyễn, ghi chép châu Bảo Lạc có các con sông: “Một sông từ sông
Bách Nam ở phủ Trấn An nước Thanh đổ xuống cửa sông xã Ân Quang huyện Để
Định, (đây có thể chính là sông Gâm ngày nay - TG), một sông từ sông phủ Khai
Hoá đổ xuống cửa sông xã Yên Lãng huyện ấy. Hai sông này hợp dòng ở xứ Nà
Sài (tục gọi là ngã ba Nà Sài) chảy đến xứ Hạ Lam xã Lạc Nông, tiếp vào giang
phận châu Chiêm Hoá, làm thượng lưu sông Khâm Giang” [54, Tr. 872].
Nhƣ vậy, nếu chiếu vào vị trí và địa hình ngày nay thì hai con sông mà sách
Đồng Khánh Dƣ địa chí đã chép chính là hai con sông là sông Gâm và sông Neo,
ngã ba Nà Sài rất có thể chính là ngã ba Kéo Cò Luồng (nơi còn gắn liền với câu
chuyện truyền thuyết về chặt đầu rồng đƣợc các cụ già nơi đây kể lại liên quan tới
vị thủ lĩnh họ Nông - TG) ở địa phận thị trấn Bảo Lạc ngày nay. (Xem thêm hình 21,
phụ lục C)

11


- Sông Gâm (tiếng địa phƣơng gọi là Pác Miào) là con sông quan trọng nhất
chảy về phía tây của cánh cung sông Gâm. “Sông này bắt nguồn từ Trung Quốc
chảy qua dãy núi đá vôi Bảo Lạc, Tắp Ná một đoạn đường dài hàng chục
kilômét, rồi mới đi qua vùng đá phiến. Đến tây nam Bảo Lạc sông lại cắt ngang
qua khối núi đá vôi của cao nguyên Lang Cá để sang đất Hà Giang. Lòng sông
rộng trung bình khoảng 70m và thu lại rất hẹp khi đi qua các hẻm đá nên mùa lũ
nước dâng lên rất nhanh, thuyền bè đi lại khó khăn.” [4, Tr.35].
Một số ngƣời dân địa phƣơng sống dọc ven sông khi đƣợc hỏi đã cho biết,
dân bản thƣờng nói với nhau rằng dƣới sông có thuồng luồng to ăn thịt ngƣời,
hàng năm đều lấy ngƣời thì sông mới yên, nhất là khi mới lũ xong. Họ còn cho
biết, “thần sông” hay “thuồng luồng” thƣờng “lấy” ngƣời lạ từ nơi khác đến. Bởi
vậy, những ngƣời lạ từ nơi khác đến thƣờng không dám xuống vì sợ thuồng
luồng kéo chân.
Nƣớc sông Gâm quanh năm xanh biếc, đoạn sông chạy qua thị trấn Bảo Lạc

60 kg. Ngày nay, do tình trạng đánh bắt bừa bãi nên các loại cá này ngày càng trở
nên khan hiếm.
- Sông Neo (ngƣời dân quen gọi là sông Reo, tiếng địa phƣơng gọi là sông Tà
Miào), con sông này bắt nguồn từ Nặm Pắt xã Đình Phùng và Huy Giáp chảy đến xã
Hƣng Đạo giáp với xã Hồng Trị tại bản Nà Tồng dọc theo quốc lộ 34 chảy qua các
xóm Pác Luồng, Bản Piậy, Bản Khuông, Thang Buổng, Nà Chùa, Nà Phạ đến điểm
tiếp giáp cuối tại Nà Cán khu 10 thị trấn Bảo Lạc rồi đổ ra sông Gâm tại Kéo Cò Luồng
với tổng chiều dài 12km. “Sông Neo có độ sâu là 1m đến 4m, rộng 10 - 15m, nước
chảy siết, lúc lên lúc xuống không ổn định lưu lượng dòng chảy 2m/s.” [48, tr.71]
Ngoài sông Gâm và sông Neo, mật độ các con suối, hồ ở Bảo Lạc cũng khá
dày nhƣ: cách thị trấn Bảo Lạc khoảng 15km theo đƣờng chim bay về phía đông có
hồ Đồng Mu, mặt hồ cao gần 900m so với mặt nƣớc biển có vài con suối từ trên núi
đổ xuống hồ. Hồ Đồng Mu có tác dụng điều hoà thời tiết và tƣới nƣớc cho đồng
ruộng. Cho tới ngày nay, nhân dân sinh sống quanh hồ cũng chƣa biết chính xác độ
sâu của hồ là bao nhiêu và họ chỉ biết rằng mùa khô hồ cũng không bao giờ bị cạn.
- Sinh vật
Là một huyện miền núi của tỉnh Cao Bằng, 90% diện tích Bảo Lạc là đồi núi.
Bảo Lạc cũng là huyện vẫn còn hệ thống rừng nguyên sinh nhƣ rừng Bản Bét, rừng

13


Lũng Lèng, Lũng Lô, Lũng Cắm,… Theo thống kê của Hoàng Tuấn Nam khi tìm hiểu
về non nƣớc Cao Bằng, hiện nay, trong các khu rừng nguyên sinh của huyện còn có rất
nhiều các loại lâm, thổ sản quý hiếm nhƣ: gỗ nghiến, thông đá, dổi, khảo, dẻ đỏ, dẻ
trắng, cắng cò,… và các loại gỗ khác. Hay những rừng cây Mạy Kẹo, Mạy Cáng Lò,
Mạy Xả Cài, Mạy Khỉ Lếch cao vút và bạt ngàn cây lát - đây là một loại gỗ quý của
huyện đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trƣớc 1970, trong các rừng còn có nhiều cây sa
nhân - thuốc quý, song, do chặt phá bừa bãi nên số lƣợng giảm dần.
Nhân dân địa phƣơng có nhắc tới một loại cây gọi là cây mác cai, là một

thường âm u, mỗi khi mưa lâu tiếp đến ngày nắng thì khí nóng khác thường; đến
tiết sương giáng thường có gió rét, tháng ba và tháng chín khí nóng nung nấu,
nhiều người bị cảm. Ngạn ngữ có câu: tháng chín thì quýt đỏ trôn. Tháng ba ngái
nở cái con cùng về” [37, Tr.334]
Nhƣ vậy, các sách đều chép và miêu tả về khí hậu của Bảo Lạc diễn biến
phức tạp, là nơi “hang thâm cùng cốc”, âm u. Điều đó chứng tỏ đây là một
miền xa xôi hẻo lánh với chính quyền trung ƣơng. “Đất giáp nước Thanh,
nhiều sương núi khí độc, đến giờ thìn, giờ tỵ trời mới hửng nắng. Đến mùa
xuân còn rét. Mùa hè nhiều mưa lũ, đường thủy, đường bộ đều khó đi. Mùa
đông sương độc như mưa, đến giờ ngọ mới tan, rét buốt” [54, Tr. 872]
Do đặc điểm địa hình chủ yếu là đồi núi, nhiều khe suối, địa hình bị cắt xẻ nên
giao thông Bảo Lạc đi lại hết sức khó khăn. Trong “Gia phả họ Nông” do Nông
Hồng Loan (chắt đời thứ tƣ của Nông Văn Vân - thổ tù của bảo Lạc thời phong kiến
- TG) có ghi: “Bảo Lạc là một châu hẻo lánh thuộc Cao Bằng, cách tỉnh lỵ hơn trăm
cây số. Ngày trước, … từ Nguyên Bình vào châu lỵ phải đi qua ba ngày ngựa qua trạm
Nặm Pắt và Pác Lũng. Đường xa hun hút, phong cảnh tiêu sơ… Châu Bảo Lạc là một
thị trấn nhỏ nằm gọn trong thung lũng… có sông Reo (tức sông Neo - TG) trong vắt
chảy qua ghềnh đá … đối diện là núi Vân Trung hiểm trở…” [83, Tr.3]
Trong những năm gần đây, đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm, với những
chính sách 134, 135, 327, của Đảng và chính phủ, giao thông đi lại của đồng bào
các dân tộc nơi đây đã có những bƣớc cải thiện rõ rệt, đƣờng huyện lỵ, tỉnh lỵ, thậm
chí có cả đƣờng liên xã.
Nhƣ vậy, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên nhƣ vậy đã mang lại cho Bảo Lạc
khá nhiều thuận lợi xong cũng không ít những khó khăn. Bảo Lạc là một huyện có

15


thế mạnh về lâm nghiệp, tài nguyên rừng khá phong phú đặc biệt là những rừng
nguyên sinh với nhiều cây gỗ quý nhƣ trúc, trẩu, sở,… Do vậy, nếu đƣợc đầu tƣ cơ


Thuận thứ 10 (1469) đổi làm huyện Định Châu, sau lại đổi thành châu Bảo Lạc.
Đầu thời Nguyễn vẫn giữ nguyên, thuộc xứ Tuyên Quang gồm 4 tổng 21 xã (tổng
Vân Quang có 6 xã tổng Đông Quang có 4 xã, tổng Mông Ân có 5 xã, tổng Yên Phú
có 6 xã, .... Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) Nông Văn Vân khởi nghĩa chống lại
triều đình. Sau khi dẹp được Nông Văn Vân, năm 1835, vua Minh Mệnh đã chia đặt
2 huyện Vĩnh Điện và Để Định. Đến cuối thế kỷ XIX, châu Bảo Lạc được lập lại
thuộc tỉnh Hà Giang. Đến những năm đầu thế kỷ XX, huyện mới được tách về địa
phận của tỉnh Cao Bằng” [47, Tr. 831 - 832]. Sau khi sáp nhập vào tỉnh Cao Bằng,
Bảo Lạc có 2 tổng:
“- Tổng Nam Quang, có 7 xã:
+ Xã Ân Quang: Gồm các xã Phan Thanh, Khánh Xuân, Xuân Trƣờng, Hồng
An và một phần đất của xã Huy giáp ngày nay.
+ Xã Yên Lạc: Gồm các xã Hƣng Đạo, Đình Phùng, Huy Giáp và xã Sơn Lộ
ngày nay.
+ Xã Thƣợng Yên: Gồm các xã Hồng Trị, Hƣng Đạo, Vĩnh Phong và một
phần xã Vĩnh Quang ngày nay.
+ Xã Yên Lãng: Gồm các xã Thƣợng Hà và Bảo Toàn ngày nay.
+ Xã Nặm Quét:Là xã Cô Ba ngày nay.
+ Xã Cốc Pàng: Gồm các xã Cốc Pàng và Đức Hạnh ngày nay.
+ Xã Yên Đức: Gồm xã Lý Bôn và xã Vĩnh Quang ngày nay.
- Tổng Mông Ân có 5 xã:
+ Xã Nam Cao
+ Xã Quan Quang gồm xã Nam Quang và xã Tân Việt ngày nay.
+ Xã Mông Ân: Gồm các xã Mông Ân, xã Quảng Lâm và một phần xã Thái
Học ngày nay.
+ Xã Mông Yên.
+ Xã Lạc Thổ gồm xã Yên Thổ và một phần xã Thái Học ngày nay”.
[47, Tr.832]


- Nùng: 11.550 ngƣời

-

Mông: 7572 ngƣời

- Dao: 11.722 ngƣời

-

Sán chỉ: 2377 ngƣời

- Lô Lô: 1301 ngƣời

-

Kinh: 407 ngƣời

- Dân tộc khác: 411 ngƣời

Về phong tục, sách Đồng Khánh dƣ địa chí đã chép về phong tục của ngƣời
dân bản địa sinh sống trên địa bàn châu Bảo Lạc, khi đó là 2 huyện Vĩnh Điện và

18


Để Định nhƣ sau: “Dân hai huyện nguyên có người Thổ (Tày), Nùng, Mèo, Mán,
mỗi dân tộc có một hai tộc, gồm ba bốn hạng dân, phong tục tiếng nói đều khác
nhau, không học hành, ít hiểu biết. Trong đó, người Thổ (Tày) tương đối có văn lễ,
biết điều sỉ nhục. Các tục cưới xin, tang ma, cúng tế nửa xa xỉ, nửa tiết kiệm. Người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status