Đánh giá tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Điện Biên, Tỉnh Điện Biên - Pdf 36

MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC HÌNH


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết đề tài
Từ bao đời nay, con người luôn coi đất đai là nền tàng để xây dựng và phát triển
cuộc sống. Ngay từ khi mới xuất hiện, con người đã lấy đất đai là nơi cư ngụ, sinh tồn
và phát triển. Bất kỳ mỗi quốc gia nào cũng đều có riêng một quỹ đất nhất định được
giới hạn bởi biên giới quốc gia do mẹ thiên nhiên ban tặng.
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc
gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được đối với sản xuất nông –lâm
nghiệp, một thành phần quan trọng của môi trường sống. Đất đai tham gia vào hoạt
động của đời sống kinh tế - xã hội (KT-XH), nó là nguồn vốn quan trọng của đất
nước.Việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này được thực hiện theo quy định của Nhà
nước, Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất đối với đất đai nhưng không trực tiếp khai
thác, sử dụng đất mà trao quyền cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân. Chứng thư pháp
lý để xác định mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất trong quá
trình sử dụng đất là cấp Giấy chứng nhận. Đây là một trong những nội dung quan
trọng của hoạt động quản lý nhà nước về đất đai. Đồng thời cũng là một quyền đầu
tiên mà bất kỳ người sử dụng đất hợp pháp nào có các thông tin được thể hiện trên
giấy, số hiệu, diện tích, mục đích sử dụng, những biến động sau khi cấp giấy… thì việc
cấp giấy chứng nhận có vai trò hết sực quan trọng đối với cả Nhà nước và người sử
dụng đất.
Ngày nay, do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ kéo theo
nhu cầu về nhà ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng lên. Nhất là từ khi gia

2. Mục đích, yêu cầu
2.1. Mục đích
- Tìm hiểu và nắm vững được những quy định của Luật đất đai đối với công tác
cấp Giấy chứng nhận.
- Tìm hiểu tình hình công tác cấp giấy chứng nhận trên địa bàn huyện Điện
Biên – tỉnh Điện Biên.
- Đánh giá được những hiệu quả và hạn chế trong công tác cấp giấy chứng nhận
tại huyện Điện Biên.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác cấp giấy chứng nhận trên
địa bàn huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên.
- Tiếp xúc được với công việc thực tế để học hỏi và củng cố kiến thức đã được
5


học tại trường.
2.2. Yêu cầu
- Nắm chắc các quy định của nhà nước, của ngành đối với công tác cấp giấy chứng
nhận để vận dụng vào tình hình thực tế của huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Nguồn tài liệu, số liệu điều tra thu thập phải có độ tin cậy và chính xác, phản ánh
khác quan, trung thực tình hình thực hiện công tác của huyện Điện Biên.
- Phân tích đầy đủ, chính xác kết quả đăng ký cấp giấy chứng nhận, các yếu tố
tác động đến tiến độ đăng ký cấp giấy chứng nhận trong từng giai đoạn trên địa bàn.
- Tiếp cận thực tế hoạt động đăng ký cấp giấy chứng nhận để tìm hiểu và thực
hiện được trình tự, thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận.
- Các kiến nghị, đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của huyện
Điện Biên.

6



7


thuật, pháp lý của hồ sơ địa chính và cấp GCN đòi hỏi phải triển khai thực hiện đồng
bộ các nội dung; xây dựng và ban hành đầy đủ các văn bản pháp luật về chính sách đất
đai. Mặt khác hoàn thành tốt nhiệm vụ đăng ký đất đai không chỉ tạo tiền đề mà còn là
cơ sở nhất thiết cho việc triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất
đai.
GCN còn là cơ sở để nhà nước quản lý đất đai. Việc sử dụng đất do tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân cụ thể thực hiện. Nhà nước giao đất cho dân để dân sử dụng và trong
quá trình sử dụng luôn có sự biến đổi về chủ dụng , về diện tích cũng như loại đất.
Thông qua việc cấp GCN cơ quan nhà nước có thể nắm được tỷ lệ chiếm hữu và sử
dụng đất của các thành phần kinh tế. Phát hiện được những việc sử dụng trái phép, kịp
thời sửa chữa, phân phối đất đa cho phù hợp. Việc cấp GCN là quyền lợi và cũng là
nghĩa vụ của chủ sử dụng đất và của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai.
Sau khi đăng ký đất đai là cơ sở để thiết lập hồ sơ địa chính và cấp GCN. Khi
đó mọi giao dịch về quyền sử dụng dấtđai nhà nước có thể nắm chắc được và thu thuế
cho ngân sách nhà nước.
Việc cấp GCN sẽ hạn chế tranh chấp khiếu nại về đất đai. Vấn đề đất đai,đặc
biệt là vấn đề về đô thị thường hay xảy ra tranh chấp. Trong khi đó, nguồn gốc sử dụng
đấtcủa họ lại rất đa dạng, biến động nhiều, không ít trường hợp được giao cấp trái
phép, mua bán trao tay, vì vậy công tác quản lý gặp nhiều khó khăn, chỉ khi cấp giấy
chứng nhận thì Nhà nước mới quản lý tốt được.
GCN tạo nguồn thu ngân cho ngân sách nhà nước. Muốn được cấp GCN thì
phải thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất tùy thuộc vào nguồn gốc sử dụng đất của họ.
GCN là căn cứ quan trọng để người sử dụng đất bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của mình, mặt khác là căn cứ để nhà nước quản lý tài nguyên quý giá này. Ngoài hai
đối tượng liên quan đến quản lý, sử dụng trực tiếp thì GCN còn là cơ sở để các đối
tượng khác như các ngân hàng, các công ty… đưa ra các quyết định có liên quan đến
quá trình quản ly, sử dụng đất.[14]

Với những lợi ích trên ta thấy được công tác cấp GCN đóng vai trò hết sức
quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Do đó việc ban hành các văn
bản pháp lý phục vụ công tác cấp GCN là điều cần thiết:
Thời kỳ Luật Đất đai 2003 đến Luật Đất đai sửa đổi bổ sung năm 2009:
Luật Đất đai 2003 thông qua ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa
XI, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2004.
Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg ngày 29/02/2004 của Thủ tướng chính phủ về việc
các địa phương phải hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong
năm 2005.
9


Quyết định 24/2004/BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ tài nguyên môi trường
ban hành quy định về GCN.
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi
hành luật đất đai 2003.
Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử
dụng đất, trong đó có quy định cụ thể hóa Luật đất đai về việc thu tiền sử dụng đất khi
cấp GCN.
Thông tư 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Thủ tướng chính phủ về
việc hướng dẫn, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
Thông tư 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 của Bộ tài chính hướng dẫn các
quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ.
Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02/08/2007 của Bộ tài nguyên môi trường
về hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung
về việc cấp GCN, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thử tục bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 quy định về cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

địa bàn tỉnh Điện Biên năm 2015.
1.1.3. Những vấn đề về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất
1.1.3.1. Một số khái niệm
- Khái niệm đăng ký đất đai
Trong thực tế đời sống xã hội có nhiều công việc phải đăng ký như khi phát
sinh các sự việc sinh, tử, kết hôn, giám hộ, nuôi con nuôi (đăng ký hộ tịch) hoặc phát
sinh nhu cầu sở hữu hoặc sử dụng tài sản (đăng ký sở hữu, sử dụng nhà cửa, xe cộ, tàu
thuyền,...); khi phát sinh các nhu cầu khác : đăng ký lao động, du lịch, mua bán tài sản,
đăng ký nghĩa vụ quân sự,...), song cũng có nhiều việc đăng ký theo tự nguyện của
người có nhu cầu. Đăng ký thường được hiểu là công việc của một cơ quan Nhà nước
hoặc một tổ chức, cá nhân nào đó thực hiện việc ghi nhận hay xác nhận về một sự việc
hay một tài sản nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người được đăng ký cũng
như tổ chức cá nhân đứng ra thực hiện việc đăng ký.
Đăng ký đất đai là một thủ tục hành chính do cơ quan Nhà nước thực hiện đối
với các đối tượng là các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất, bởi nó thực hiện
11


đăng ký đối với đất đai - một loại tài sản đặc biệt có giá trị và gắn bó mật thiết với mọi
tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong quá trình sản xuất và đời sống.[6]
- Khái niệm về quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất là quyền khai thác công dụng tính năng của đất và hưởng
những lợi ích từ việc khai thác đó. Đất đai là tài sản đăc biệt. Nhà nước giao đất, cho
thuê một phần đất cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng thực chất Nhà nước
giao đất, cho thuê quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất có nghĩa vụ đối với Nhà nước
và tuân thủ những quy định của Nhà nước về quản lý sử dụng đất.[6]
Theo Luật đất đai 2003 có quy định về quyền sử dụng đất như sau: “ Nhà nước
trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất thông
qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang

13


Theo điều 3, thông tư 23/2014/TT-BTNMT quy định giấy chứng nhận là một tờ
có bốn trang, mỗi trang có kích thước 190mm x 265mm, có nền hoa văn trống đồng,
màu hồng cách sen, gồm các nội dung sau đây:
- Trang 1 gồm Quốc hiệu, Quốc huy và dòng chữ “ Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” in màu đỏ; mục I. Tên
người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” và số phát hành
Giấy chứng nhận gồm 2 chữ cái tiếng Việt và 6 chữ số, bắt đầ từ BA 000001, được in
màu đen; dấu nổi của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Trang 2 in chữ màu đen gồm mục “II. Thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất”, trong đó, có các thông tin về thửa đất, nhà ở, công trình xây dựng khác,
rừng sản xuất là rừng trồng, cây lâu năm và ghi chú; ngày tháng năm ký Giấy chứng
nhận và cơ quan ký Giấy chứng nhận; số vào sổ Giấy chứng nhận;
- Trang 3 in chữ màu đen gồm mục “III. Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất” và mục “ IV. Những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận”;
- Trang 4 in chữ màu đen gồm nội dung tiếp theo của mục “IV. Những thay
đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận”; những vấn đề cần lưu ý đối với người được cấp
Giấy chứng nhận; mã vạch đất theo một mẫu thống nhất trong cả nước đối với tất cả
các loại, cấp theo từng thửa đất do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành và trên
giấy chứng nhận có gắn liền quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất.
1.1.3.2. Vai trò của công tác cấp Giấy chứng nhận
* Đối với người sử dụng đất
- Là cơ sở để người sử dụng đất yên tâm sử dụng và đầu tư vào đất đai nhằm sử
dụng đất đai tiết kiệm, hiệu quả.
- Là cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền lợi hợp pháp như: tặng,
cho, thừa kế, chuyển nhượng, góp vốn…bằng quyền sử dụng đất không gặp bất cứ trở
ngại nào về phía luật pháp.

- Đối với các doanh nghiệp, công ty cổ phần thì GCN là căn cứ để xác nhận vốn
góp bằng quyền sử dụng đất có hợp pháp hay không nhằm đảm bảo việc kinh doanh có
hiệu quả.
- Đối với người đầu tư vào đất đai (nhưng không sử dụng trực tiếp) thì GCN là
căn cứ pháp lý để người đầu tư an tâm về khoản đầu tư của mình.
- Đối với các cá nhận, tổ chức tham gia vào thị trường bất động sản thì GCN là
cơ sở để họ nắm các thông tin cần thiết khi quyết định mua nhà, thuê…quyền sử dụng
đất của mảnh đất đó.
1.1.3.3. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận
Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất được thực hiện theo quy định tại Điều 105 của Luật Đất
đai 2013 và Điều 37 của Nghị định thi hành Luật Đất đai 2013.
Theo Điều 105 của Luật Đất đai 2013, quy định như sau:

15


- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo; người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư;
tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi
trường cùng cấp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân
cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử
dụng đất ở tại Việt Nam.
- Đối với những trường hợp đã được cấp Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng mà thực hiện

dụng đất ở tại Việt Nam.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về các trường hợp cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất khi thực
hiện đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất và việc xác nhận thay đổi vào
Giấy chứng nhận đã cấp.
1.1.3.4. Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất.
Nguyên tắc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất được quy định tại Điều 98 Luật đất đai 2013 như sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất được cấp theo từng thửa đất. Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng
nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được
cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất chung cho các thửa đất đó.
- Thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung
nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có
chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và
cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có
yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện.
17


- Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất được nhận
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất
không thuộc đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được miễn, được ghi nợ
nghĩa vụ tài chính và trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm thì được nhận
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với

a) Chứng nhận quyền sử dụng đất.
Điều 99, Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp người sử dụng đất được
cấp giấy chứng nhận như sau:
- Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất cho những trường hợp sau đây:
+ Người đang sử dụng đất có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại các điều 100,
101 và 102 của Luật này;
+ Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ sau ngày Luật này có hiệu lực
thi hành;
+ Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho
quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng
đất khi xử lý hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ;
+ Người được sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành đối với tranh chấp đất
đai; theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ
quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;
+ Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất;
+ Người sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế;
+ Người mua nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất;
+ Người được Nhà nước thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở; người mua
nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
+ Người sử dụng đất tách thửa, hợp thửa; nhóm người sử dụng đất hoặc các
thành viên hộ gia đình, hai vợ chồng, tổ chức sử dụng đất chia tách, hợp nhất quyền sử
dụng đất hiện có;
19


+ Người sử dụng đất đề nghị cấp đổi hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.

20


+ Giấy tờ về mua bán hoặc nhận tặng cho hoặc đổi hoặc nhận thừa kế nhà ở đã
có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật.
Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2006 thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định của pháp luật về
nhà ở.
Trường hợp nhà ở do mua của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có
hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết;
+ Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;
+ Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong
những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản này mà trên giấy tờ đó ghi
tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận
thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 có chữ ký của các bên có liên quan và
phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho,
đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 mà không có giấy tờ về việc
đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có chữ ký của các bên có liên quan
thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi,
nhận thừa kế nhà ở đó.
Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những
giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản này mà hiện trạng nhà ở không
phù hợp với giấy tờ đó thì phần nhà ở không phù hợp với giấy tờ phải được Ủy ban
nhân dân cấp xã xác nhận như quy định tại Điểm h Khoản này;
+ Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định
tại các Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản này thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân
dân cấp xã về nhà ở đã hoàn thành xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006, được
xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp

- Trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là người sử dụng đất ở thì
ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại các Khoản 1, 2 và 3
Điều này, phải có hợp đồng thuê đất hoặc hợp đồng góp vốn hoặc hợp đồng hợp tác
kinh doanh hoặc văn bản chấp thuận của người sử dụng đất đồng ý cho xây dựng nhà
ở đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật và bản sao giấy tờ
về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
c) Chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở.
22


Căn cứ Điều 32 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của
chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai về việc chứng nhận
quyền sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở như sau:
Chủ sở hữu công trình xây dựng không phải là nhà ở được chứng nhận quyền
sở hữu theo quy định sau đây:
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước, cộng đồng dân cư phải có một trong các loại
giấy tờ sau:
+ Giấy phép xây dựng công trình đối với trường hợp phải xin phép xây dựng
theo quy định của pháp luật về xây dựng.
Trường hợp công trình đã xây dựng không đúng với giấy phép xây dựng được
cấp thì phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng xác
nhận diện tích xây dựng không đúng giấy phép không ảnh hưởng đến an toàn công
trình và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê
duyệt;
+ Giấy tờ về sở hữu công trình xây dựng do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các
thời kỳ, trừ trường hợp Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng;
+ Giấy tờ mua bán hoặc tặng cho hoặc thừa kế công trình xây dựng theo quy
định của pháp luật đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định;
+ Giấy tờ của Tòa án nhân dân hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải
quyết được quyền sở hữu công trình xây dựng đã có hiệu lực pháp luật;

người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có giấy tờ theo quy định sau:
+ Trường hợp tạo lập công trình xây dựng thông qua đầu tư xây dựng mới theo
quy định của pháp luật thì phải có quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư
dự án hoặc giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy phép xây dựng do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định
của pháp luật về đất đai hoặc hợp đồng thuê đất với người sử dụng đất có mục đích sử
dụng đất phù hợp với mục đích xây dựng công trình;
+ Trường hợp tạo lập công trình xây dựng bằng một trong các hình thức mua
bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế hoặc hình thức khác theo quy định của pháp luật
thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định của pháp luật;
+ Trường hợp không có một trong những giấy tờ quy định tại Điểm a và Điểm b
Khoản này thì phải được cơ quan quản lý về xây dựng cấp tỉnh xác nhận công trình
xây dựng tồn tại trước khi có quy hoạch xây dựng mà nay vẫn phù hợp với quy hoạch
xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
24


+ Trường hợp công trình đã xây dựng không phù hợp với giấy tờ quy định tại
các Điểm a, b và c Khoản này thì phần diện tích công trình không phù hợp với giấy tờ
phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng kiểm tra, xác nhận diện tích xây
dựng không đúng giấy tờ không ảnh hưởng đến an toàn công trình và phù hợp với quy
hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Trường hợp chủ sở hữu công trình xây dựng không đồng thời là người sử
dụng đất thì ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu công trình theo quy định tại
Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, phải có văn bản chấp thuận của người sử dụng đất
đồng ý cho xây dựng công trình đã được công chứng hoặc chứng thực theo quy định
của pháp luật và bản sao giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về
đất đai.
1.1.3.6. Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status