Nhu cầu của việc nghiên cứu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay –
Toàn cầu hóa là xu thế không thể cưỡng lại đối với tất cả các quốc gia. Chủ động để
hội nhập là một thái độ tích cực, khôn ngoan. Chủ động hội nhập là khẳng định
đường hướng có chiến lược, có chiến thuật, có kế hoạch cho từng bước đi. Đồng
thời có thể khai thác được nhiều nhất những thuận lợi, những cơ hội để dân tộc có
nhiều lợi ích nhất và có thể hạn chế được mức thấp nhất những thách thức, những
tiêu cực nảy sinh.
Văn hóa là hồn cốt của một dân tộc. Vậy nên nhu cầu nghiên cứu văn hóa trong bối
cảnh toàn cầu hóa trở nên quan trọng và cấp thiết. Nó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, khoa
học…
NỘI DUNG
I. KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1. KHÁI NIỆM VĂN HÓA
Ngay từ giữa thế kỉ, năm 1952, hai nhà văn hóa học Hoa Kì A.Kroeber và
C.Kluckholn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Ngày nay, số
lượng các định nghĩa đó đã tăng lên rất nhiều( trên 300 định nghĩa). Gần đây,
UNESCO đã đưa ra định nghĩa chính thức về văn hóa: “Văn hóa phản ánh và thể
hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống( của mỗi cá nhân và các
cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng
bao thế kỉ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mĩ và
lối sống mà dựa trên đó các dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình.”
2. KHÁI NIỆM TOÀN CẦU HÓA
Thuật ngữ toàn cầu hóa đã được xuất hiện vào những năm 1950, với sự phổ biến
của các phương tiện giao thông vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi
thương mại, nó được chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990.
“Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền
kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia,
các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa ,kinh tế…trên quy mô toàn cầu. Đặc
1. TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC
Nhờ sự mở rộng giao lưu văn hóa, Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp thu một cách có
chọn lọc những tinh hoa của nền văn hóa , văn minh nhân loại để làm giàu kho tàng
văn hóa dân tộc. Bằng cách đó, những yếu tố văn hóa tiến bộ được dung nạp và
những yếu tố văn hóa lạc hậu lỗi thời đang kìm hãm sự phát triển bị loại bỏ _ trong
khi diện mạo văn hóa riêng của Việt Nam vẫn được khẳng định.
Toàn cầu hóa tạo nên cơ sở để chúng ta tăng cường đầu tư nhiều hơn nữa vào giáo
dục và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, củng cố ý thức cộng đồng, đẩy mạnh
dân chủ và đa dạng hóa văn hóa để chuẩn bị chuyển sang một nền kinh tế mới _ nền
kinh tế dựa vào tri thức.
2. TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC
Trong quãng thời gian hội nhập văn hóa thế giới quả là cuộc đấu tranh quyết liệt.
Đánh giá về thành tựu hội nhập văn hóa có nhiều ý kiến khác nhau, không được
đồng thuận như khi chúng ta đánh giá về thành tựu đổi mới kinh tế. Điều này chứng
tỏ quá trình hội nhập văn hóa của chúng ta có nhiều vấn đề non yếu . Không ai phủ
nhận sau những năm đổi mới, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta được nâng
cao, được mở rộng phong phú, đa dạng và giàu có hơn nhiều. Nhưng cũng phải thừa
nhận rằng, bên cạnh những mặt tích cực đó thì nhiều mặt hạn chế của đời sống xã
hội cũng nảy sinh . Đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, đồi sống văn hóa bị lai
căng, nhiều chuẩn mực xã hội không còn được tôn trọng, một số mặt xấu được duy
trì công khai, nhiều tệ nạn không ngăn chặn được…
Riêng về lĩnh vực văn học – nghệ thuật, văn chương nghệ thuật thế giới ồ ạt tràn
vào nước ta, cả những tác phẩm hay lẫn những tác phẩm dở. Văn hóa bạo lực, tình
dục hiên ngang thách thức những tuần phong mĩ tục của văn hóa dân tộc. Những
món hàng ăn liền rẻ tiền tấn công những giá trị sâu sắc, thâm nghiêm. Những tính
chất văn chương ngoại lai đó đôi khi có sức mạnh chiếm lĩnh hẳn được bộ phận làm
nhiệm vụ sáng tạo, biểu diễn và bộ phận công chúng đông đảo. Nhiều khi nó lại
đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu khá rầm rộ.
tập quán, tôn giáo, ẩm thực…Tương tự đối với hoạt động chính trị, không nên gò bó
bằng những hình thức bên ngoài, hội họp, xuống đường hô hào mà phải nghĩ đến
những mục đích tối hậu của các hành động trên. Vậy để được khách quan ,cần
nghiên cứu nhiều chi tiết và lĩnh vực khác nhau trong đường hướng phục vụ đời
sống tinh thần lẫn vật chất của con người để những người làm chính trị có lối nhìn
bao quát hơn. Ngoài ra, cũng nên tìm hiểu những hành động chính trị một cách rộng
rãi trong các chương trình tranh đấu, xây dựng, bảo vệ lý tưởng, sự toàn vẹn quê
hương và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam để những suy ngĩ của người làm văn
hóa khỏi bị lệch lạc.
Chúng ta không thể khách quan xem việc bảo tồn văn hóa Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hoá mộtcách đơn giản, vì nền văn hóa của tổ tiên để lại đã bị tổn hại. Việc
bảo tồn văn hóa của chúng ta không thuận buồm xuôi gió mà phải đương đầu trực
diện trước một cuộc chiến khốc liệt, không ranh giới, không quy ước…Không thể
thuần túy và đơn giản kêu gọi giới trẻ theo học Tiếng Việt, nghe một buổi thuyết
trình hay đọc vài cuốn sách là xong viêc bảo tồn và phát triển văn hóa như chương
trình của một vài tổ chức đã đề ra. Nếu chỉ có thế thì không khác gì chúng ta mời
giới trẻ đến xem một cuộc triển lãm, nghe một chương trình ca nhạc rồi ai lại về nhà
nấy. Như vậy, làm văn hóa trong tình hình chính trị hiện nay thì chẳng đi đến đâu
mà còn mang lại một kết quả ngược chiều. Điều quan trọng là phải biết tạo cho mọi
người, nhất là thành phần trẻ có một tinh thần yêu nước, biết đâu là nguồn gốc dân
tộc, đâu là lịch sử oai hùng, đâu là di sản của tổ tiên. Phải làm thế nào cho giới trẻ
hiểu được nỗi khổ tâm kẻ ra đi, cũng như cảm thông thân phận của người ở lại, phải
biết đâu là chinh nghĩa , đâu là con đường phải tiến tới để mai kia quay về phục vụ
quê hương.
Trước các chương trình đầu độc ru ngủ qua văn hóa của các tổ chức phản động,
chúng ta phải mượn con đường chính trị để phát huy tính nhân bản, chống lại văn
hóa phản động, dùng tôn giáo đối đầu văn hóa vô thần, lấy tình người cải tạo văn
hóa loài thú.
coi như hàng hóa. Bởi vì giá trị của con người, giá trị của văn hóa không thể đo
bằng giá trị sức lao động làm ra nó. Trong kinh tế, “ tiền nào của ấy”. Trong văn hóa
không hẳn như vậy. Gía trị đích thực của một sản phẩm văn hóa phụ thuộc chủ yếu
vào tâm hồn và tài năng của người sáng tạo ra nó. Sản phẩm văn hóa không phải
bao giờ cũng hao mòn vô hình và hữu hình như kinh tế. Có những kiệt tác văn hóa
nghệ thuật mà thời gian tồn tại càng dài thì giá trị của chúng càng được nhân lên
cùng với sự phát triển trình đọ cảm thụ thẩm mĩ của con người.
Vì thế không thể đồng nhất giản đơn “cái kinh tế” và “cái văn hóa” , mặc dù chúng
có mối quan hệ với nhau. Từ đó, không thể máy móc đòi hỏi trong văn hóa cũng
phải hạch toán toàn bộ như trong nền kinh tế. Nếu kinh tế hóa, thương mại hóa nền
văn hóa thì tất yếu sẽ dẫn đến xu thế chạy theo những thị hiếu tầm thường, có thể
nhất thời thu được một số lợi ích kinh tế nào đó, nhưng về lâu dài thì sẽ thua lỗ lớn
về mặt đạo đức xã hội, có khi của cả một thế hệ.
Tóm lại, bên cạnh luật pháp, văn hóa phải đóng vai trò điều tiết tinh thần cho sự
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng chủ nghĩa xã hội.
Nó phải định hướngcho việc khai thác những nhân tố tích cực và hạn chế những
nhân tố tiêu cực trong nền kinh tế. Theo chuẩn mực của cái đúng , cái tốt, cái đẹp,
văn hóa phải dùng sức mạnh đạo lí để hạn chế khả năng đồng tiền xuất hiện với tính
cách là lực lượng có tác dụng xuyên tạc ấy đối với cá nhân, cũng như đối với những
liên hệ xã hội và những liên hệ khác. Làm được như thế thì đồng tiền không thể
mua được tất cả. Trái lại, tình yêu chỉ có thể đáp ứng bằng tình yêu, người hiền tài
mới có thể sử dụng được người hiền tài. Sự cao quý trong xã hội phải dựa trên
phẩm giá và tài năng. Cái đẹp chỉ có thể được sáng tạo và cmr thu bằng bộ óc và
trái tim của người được giáo dục về thẩm mĩ….
TRONG LĨNH VỰC KHOA HỌC
Theo nhiều dự báo, với những phát minh, sáng chế kì diệu của cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại về điện tử, vi điện tử, tin học, năng lượng hạt nhân, công
nghệ sinh học,công nghệ vật liệu mới…loài người sẽ bước vào ngưỡng cửa của một
Thái độ ứng xử có văn hóa ấy phải được quán triệt trong việc quy hoạch đô thị và
nông thôn, khôi phục lại cân bằng sinh thái ở các vùng dân cư , thiết kế và thi công
nhà ở, trường học, xí ngiệp, cơ quan…nhằm tạo nên sự hài hòa giữa môi trường xã
hội và môi trường thiên nhiên, qua đó bồi dưỡng thêm lòng yêu quê hương đất
nước, tăng thêm giá trị nhân bản của tâm hồn và lối sống Việt Nam.
KẾT LUẬN
Nền văn hóa Việt Nam trong bốn nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển đã thể hiện
sức sống mãnh liệt. Âm mưu đồng hóa của những nền văn hóa lớn hết đợt sóng này
đến đợt sóng khác cũng không xóa được bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Có thể nói, nền
văn hóa Việt Nam đã được tôi luyện và có sức đề kháng cao. Điều này cho chúng ta
tin tưởng vào chặng đường phát triển sắp tới của văn hóa dân tộc, ho chúng ta bình
tĩnh và tự tin trong vườn hoa cỏ dại và nấm độc. Tuy cỏ dại và nấm độc tường nảy
nở và sinh sôi rất nhanh nhưng nếu có người làm vườn tinh mắt và chăm chỉ sẽ phát
hiện và nhổ được tận gốc, để vườn hoa văn hóa Việt Nam chỉ còn hoa thơm đua sắc