ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ LANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ ÁNH SÁNG ĐẾN SINH
TRƯỞNG CỦA CÂY SA MỘC DẦU (Cunninghamia Konishi Hayata) GIAI
ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Lâm Nghiệp
Khoa
: Lâm Nghiệp
Khóa học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ LANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ ĐỘ ÁNH SÁNG ĐẾN SINH
TRƯỞNG CỦA CÂY SA MỘC DẦU (Cunninghamia Konishi Hayata) GIAI
ĐOẠN VƯỜN ƯƠM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên nghành 0: Lâm Nghiệp
Lớp
: K43 – LN N01
Khoa
: Lâm Nghiệp
Khóa học
Nông Lâm, cùng các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt hơn là sự hướng
dẫn chỉ đạo tận tình của cô giáo hướng dẫn ThS. Lương Thị Anh đã chỉ bảo tôi suốt
quá trình làm đề tài. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và tất cả các thầy cô giáo
cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Thực tập tốt nghiệp có vai trò rất quan trong đối với mỗi sinh viên sau quá
trình học tập tại trường. Đây là thời gian để mỗi sinh viên cọ sát với những thực tế,
đồng thời qua thực tập giúp sinh viên hệ thống lại những kiến thức đã học để áp
dụng vào thực tiễn nghiên cứu và có được những kinh nghiệm từ thực tiễn, từ đó
nâng cao năng lực của bản thân nhằm phục vụ tốt cho công việc.
iii
Vì năng lực của bản thân và thời gian có hạn, bước đầu làm quen với thực tế và
phương pháp nghiên cứu nên bản khóa luận tốt nghiệp của tôi không thể tránh khỏi
những sai xót. Chính vì vậy tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn để bản khóa luận tốt nghiệp của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Lanh
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả phân tích mẫu đất ..................................................................... 10
Bảng 2.2. Một số yếu tố khí hậu tại thành phố Thái Nguyên .................................. 11
giai đoạn vườn ươm .............................................................................. 29
Bảng 4.10: Sắp xếp các chỉ số quan sát D oo trong phân tích phương sai một nhân tố..... 30
Bảng 4.11: Bảng phân tích phương sai một nhân tố đối với đường kính cổ rễ của
cây Sa mộc dầu ..................................................................................... 31
Bảng 4.12: Bảng sai dị từng cặp
xi - xj
đối với đường kính cổ rễ cây Sa mộc
dầu giai đoạn vườn ươm ....................................................................... 32
Bảng 4.13: Kết quả tỉ lệ cây tốt, trung bình, xấu và cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn của
cây Sa mộc dầu ..................................................................................... 33
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Đồ thị biểu diễn sinh trưởng H vn của cây Sa mộc dầu ở các công
thức thí nghiệm ...........................................................................20
Hình 4.2: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng H vn của cây Sa mộc dầu ở các công thức thí
nghiệm.................................................................................................. 25
Hình 4.3: Đồ thị biểu diễn sinh trưởng về đường kính cổ rễ trung bình của cây Sa
mộc dầu ở các công thức thí nghiệm ..................................................... 29
Hình 4.4: Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ cây tốt, trung bình, xấu của cây Sa mộc dầu ở các
công thức thí nghiệm ............................................................................ 34
Hình 4.5: Biểu đồ biểu diễn cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn của cây Sa mộc dầu ở các
công thức thí nghiệm. ........................................................................... 34
Hình 4.6. Ảnh hưởng của sự che sáng đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu giai
đoạn vườn ươm..................................................................................... 36
PTPSMNT
: Phân tích phương sai một nhân tố
∑
: Tổng
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ
ánh sáng đến sinh trưởng của cây Sa Mộc Dầu (cunninghamia Konishi Hayata)
giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” là công trình
nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn
của Th.S Lương Thị Anh. Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận
đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo. Các số liệu và kết quả nghiên cứu
trình bày trong khóa luận là quá trình theo dõi hoàn toàn trung thực, nếu có sai sót
gì tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật của khoa và nhà
trường đề ra.
Thái Nguyên, tháng….. năm 2015
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả trước
hội đồng khoa học
Th.s Lương Thị Anh
thuật phù hợp nhằm đảm bảo cho cây phát triển đạt chất lượng, chính vì vậy tôi đã
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ ánh sáng đến sinh
trưởng của cây Sa mộc dầu (Cunninghamia Konishi Hayata) giai đoạn vườn
ươm tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu góp phần tạo giống tốt, phục vụ cho công tác trồng rừng
nhằm bảo tồn và phát triển loài cây Sa mộc dầu. Chọn ra công thức thí nghiệm có tỷ
lệ cây sống cao nhất trong sinh trưởng của cây Sa mộc dầu ở giai đoạn vườn ươm.
Áp dụng công thức đó cho các lần ươm cây giống sau này.
2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được mức độ ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng đến cây Sa mộc
dầu trong giai đoạn vườn ươm.
- Lựa chọn công thức che sáng phù hợp cho sinh trưởng tốt nhất ở giai đoạn
vườn ươm.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Đây là một giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây Sa mộc dầu.
+ Áp dụng được lý thuyết đã học vào thực tiễn, tạo cho sinh viên tác phong
làm việc tự lập khi ra thực tế.
+ Nghiên cứu thực tiễn đề tài giúp làm quen với công tác nghiên cứu khoa
học, củng cố kiến thức cơ sở và chuyên ngành. Đồng thời đánh giá được ảnh hưởng
của các công thức giàn che với các tỷ lệ khác nhau tới sinh trưởng của cây Sa mộc
dầu giai đoạn vườn ươm.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Áp dụng kết quả nghiên cứu để phục vụ cho công tác sản xuất cây con
Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm cho tỷ lệ sống cao, cây sinh trưởng nhanh,
Về hình thái: màu sắc nhạt và thiếu diệp lục, cây phát triển không cân đối,
cây cao gầy yếu, dễ đổ ngã, rễ phát triển không đầy đủ. Ngoài cường độ ánh sáng
thì chất lượng ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng.
Ánh sáng có bước sóng dài như ánh sáng đỏ hay tia hồng ngoại kích thích
giai đoạn giãn của tế bào làm tăng chiều cao, chiều dài của cây. Ngược lại những tia
4
sáng có bước sóng ngắn như tia xanh tím, tia tử ngoại thì kích thích sự phân chia tế
bào và ức chế giai đoạn giãn của chúng, làm cho cây thấp lùn. Ðây là một trong
những lý do mà cây ở trên núi cao thường thấp hơn cây ở dưới thung lũng vì ở trên
cao giàu tia sáng có bước sóng ngắn (Hoàng Công Đãng, 2000) [7].
Nhu cầu về ánh sáng của thực vật
Trong suốt chu kỳ sống của cây thì cây rất cần nhiều ánh sáng. Tùy theo nhu
cầu ánh sáng đối với sự sinh trưởng của cây mà người ta chia thực vật thành hai nhóm
là cây ưa sáng và cây ưa bóng. Cây ưa sáng sinh trưởng mạnh trong điều kiện ánh sáng
đầy đủ, còn cây ưa bóng sinh trưởng tốt trong điều kiện bóng râm thích hợp.
Vai trò của ánh sáng với cây con giai đoạn vườn ươm
Ánh sáng là nguồn năng lượng cần cho quang hợp của thực vật. Ánh sáng có
ảnh hưởng căn bản đến sự phân phối lượng tăng trưởng mới giữa các bộ phận của
cây con . Khi được che bóng, tăng trưởng chiều cao của cây con diễn ra nhanh,
nhưng đường kính nhỏ, sức sống yếu và thường bị đổ ngã khi gặp gió lớn. Trái lại,
khi gặp điều kiện chiếu sáng mạnh, tăng trưởng chiều cao của cây con diễn ra chậm,
nhưng đường kính lớn, thân cây cứng và nhiều cành. Nói chung, việc che bóng giúp
cây con tránh được những tác động cực đoan của môi trường, làm giảm khả năng
thoát hơi nước, đồng thời làm giảm nhiệt độ của cây và của hỗn hợp ruột bầu. Sự
sống sót ban đầu của cây con ở điều kiện đất trồng rừng cũng phụ thuộc vào việc
điều chỉnh ánh sáng trong giai đoạn vườn ươm. Những cây con sinh trưởng với
cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá chịu bóng. Nếu bất ngờ đưa chúng ra
được coi là chỉ có phân bố ở Đài Loan, Tây Nam Vân Nam.
Ngoài ra có tài liệu nêu chi Sa mộc dầu (danh pháp khoa học:
Cunninghamia) là một chi có 1 loài cây thân gỗ, thường xanh, thuộc họ Hoàng đàn
(Cupressaceae). Chúng có nguồn gốc ở khu vực Trung Quốc, Đài Loan và Việt
Nam, các cây lớn có thể cao tới 50-55m. Tên gọi khoa học của chi này được đặt
theo tên của Dr. James Cunningham, một bác sĩ người Anh đã đưa các loài này vào
gieo trồng năm 1702 (Lê Xuân Toàn, 2012) [16].
Các loài trong chi Cunninghamia có các lá kim với ngạnh mềm, dai như da,
cứng, màu xanh lục tới xanh lục-lam, mọc vòng xung quanh thân theo hình cung đi
lên; các lá này dài 2-7cm và rộng 3-5mm (tại phần gốc lá), và mang hai dải khí
6
khổng màu trắng hay trắng ánh lục ở phía dưới và đôi khi là ở phía trên mặt lá. Tán
lá có thể trở thành màu nâu đồng khi thời tiết quá lạnh.
Các nón nhỏ và không dễ thấy khi thụ phấn vào cuối mùa đông, các nón đực
mọc thành cụm khoảng 10-30 nón, còn các nón cái mọc đơn lẻ hoặc 2-3 nón cùng
nhau (Lê Xuân Toàn, 2012) [16]. Các nón hạt chín sau 7-8 tháng, dài khoảng 2,54,5cm, hình trứng hoặc hình cầu, với các vảy mọc xoắn, mỗi vảy chứa 3-5 hạt.
Chúng thường phát triển nhanh (với chồi sinh dưỡng mọc trên đỉnh của nón) trên
các cây do người trồng; nhưng lại hiếm ở cây mọc hoang, và có thể là giống cây
trồng được chọn lọc để dễ dàng nhân giống bằng phương pháp sinh dưỡng trong
trồng rừng.
Khi cây càng lớn thì thân của nó có xu hướng tạo ra các chồi rễ mút xung
quanh gốc, cụ thể là sau khi bị các vết thương ở thân hay rễ, và các chồi rễ mút
này sau đó có thể phát triển để tạo thành cây nhiều thân. Vỏ của các thân cây lớn
có màu nâu dễ dàng bị lột ra để lộ phần vỏ bên trong màu nâu đỏ (Lê Xuân Toàn,
2012) [16].
Gỗ Sa mộc dầu là loại gỗ được đánh giá cao tại Trung Quốc, do nó là loại gỗ
mềm có hương thơm và khá bền, tương tự như của Hồng sam Bắc Mỹ (Sequoia
nguồn gen lâm nghiệp” do Viện Khoa học lâm nghiệp thực hiện từ năm 2001-2005
với khoảng trên 100 loài quan trọng trên diện tích khoảng 150ha tại Cầu Hai (Phú
Thọ), Trảng Bom (Đồng Nai), Lang Hanh (Lâm Đồng), Cúc Phương (Ninh Bình).
Ngoài ra việc bảo tồn ngoại vi các lâm phân giống cây rừng cũng được thực hiện
với 9 loài cây gỗ quan trọng như Lim xanh, Vối thuốc, Pơ mu, Trò chỉ, Sao với gần
10.000 cây cá thể từ hạt hoặc hom. Trong dự án “Đa dạng loài và bảo tồn ngoại vi
các loài tre ở Việt Nam” do Biodiversity International tài trợ từ năm 2003-2005 đã
xác định được danh sách 216 loài tre và hạt trần bị đe dọa, trong đó có Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata) được xếp vào nhóm bị đe dọa (VU A1cd) (Nguyễn
Hoàng Nghĩa, 2008). Vì thế Sa mộc dầu rất được quan tâm bảo tồn nguồn gen vừa
góp phần khai thác nhằm phát triển kinh tế xã hội. Ví dụ như: Các chương trình
trồng rừng trước đây, đặc biệt là Chương trình 327 và chương trình 5 triệu ha đã có
một số đề xuất danh mục các loài cây trồng rừng áp dụng cho 9 vùng lâm nghiệp
gồm: Tây Bắc, Đông Bắc, Trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Trung Trung Bộ, Nam
8
Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, và Tây Nam Bộ gồm 104 loài. Trong danh
sách các loài cây trồng rừng có nhiều loài thuộc nhóm đối tượng cần bảo tồn nguồn
gen là các loài bản địa, đặc biệt là các loài có nguy cơ tuyệt chủng, được ghi vào
sách đỏ Việt Nam. Đó là những loài quý hiếm có giá trị khoa học, kinh tế cao như:
Hoàng đàn (Cupresus torulosa), Thông đỏ bắc (Taxus chinensis), Thông pà cò
(Pinus kwangtungensis) hay Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) (Nguyễn
Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, Philip Ian Thomas, Aljos Farjon,
Leonid Averyanov và Jacinto Regalado Jr) [8].
Sa mộc dầu được xếp vào Nhóm IIA trong Danh mục các loài động vật và
thực vật quí hiếm và việc sử dụng bị hạn chế. Ở Nghệ An nghiên cứu đã được tiến
hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài trong tỉnh và nghiên cứu các đặc
điểm sinh học và sinh thái của loài (Chính phủ - nghị định 32/2006/NĐ-CP) [6].
con, nhân tố được quan tâm nhiều là ánh sáng. Khi bố trí thí nghiệm về ảnh hưởng
của chế độ che sáng, đã phân chia ra 5 mức che sáng: không che sáng, che sáng
25%, che sáng 50%, che sáng 75%, che sáng 100% (Hoàng Công Đãng, 2000) [7].
Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ che sáng đến sinh trưởng của cây Cẩm lai
(Dalbergia bariaensisPierre) trong giai đoạn vườn ươm, kết quả nghiên cứu đã
chứng tỏ rằng: ở giai đoạn từ 1-4 tháng tuổi, mức độ che sáng 50-100% (tốt nhất
75%) đảm bảo cho Cẩm lai, sinh khối, sinh trưởng chiều cao đều lớn hơn so với đối
chứng (không che sáng), nhưng đến tháng thứ 6, các chỉ tiêu trên lại đạt cao nhất ở
tỷ lệ che sáng 50% (Nguyễn Thị Mừng , 1997) [11]. Khi nghiên cứu về gieo ươm
Dầu song nàng (Dipterocarpus dyeriPierre), Nguyễn Tuấn Bình (2002) [2] nhận
thấy chế độ che sáng 25% – 50% là thích hợp cho sinh trưởng của Dầu song nàng
12 tháng tuổi. Khi nghiên cứu về cây Huỷnh liên (Tecoma stans (L.) H.B.K) trong
giai đoạn 6 tháng tuổi, Nguyễn Thị Cẩm Nhung (2006) [12] nhận thấy độ che sáng
thích hợp là 60%. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh
trưởng của gỗ đỏ (Afzelia xylocarpa Craib) nhận thấy rằng độ tàn che thay đổi có
ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính, chiều cao và sinh khối của cây con gỗ
đỏ. Sau 6 tháng, đường kính của gõ đỏ dưới các chế độ che sáng khác nhau có sự
phân hóa thành 4 nhóm, trong đó thấp nhất ở độ tàn che 100%, cao nhất ở chế độ
che sáng 25%. Chiều cao thân cây gõ đỏ 6 tháng tuổi phân hóa thành 3 nhóm; trong
đó thấp nhất ở thí nghiệm thức đối chứng, kế đến ở chế độ che sáng 25% – 75%,
10
cao nhất ở chế độ che sáng 100%, Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng tỏ rằng, giá trị
lớn nhất về sinh khối của gõ đỏ 6 tháng tuổi chỉ đạt được dưới chế độ che sáng
25%, thấp nhất ở chế độ che sáng 100% (Nguyễn Văn Thêm, 2006) [15].
2.4. Điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
Vị trí địa lí
Đề tài được thực hiện tại vườn ươm Trung tâm nghiên cứu và phát triển Lâm
P2O5
K2O
PH
1 – 10
1.766
0.024
0.241
0.035
3.64
4.56
0.90
3.5
10 -30
0.670
0.058
(Nguồn: Theo số liệu phân tích đất của trường ĐHNL Thái Nguyên)
- Độ PH của đất thấp chứng tỏ đất ở đây là đất chua.
- Đất nghèo mùn, hàm lượng N, P2O5 ở mức thấp chứng tỏ đất nghèo dinh dưỡng.
ii
LỜI CẢM ƠN
Tài nguyên thực vật rừng nước ta rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên Việt
Nam đang phải đối mặt với thực trạng đáng lo ngại, đó là con người lạm dụng quá
mức việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên này và kết quả là nhiều loài thực
vật bị suy giảm, thậm chí đã tuyệt chủng hoặc đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Vì vậy việc bảo tồn nguồn gen cây rường được coi là nhiệm vụ cấp bách hiện nay. Đặc
biệt là sinh viên đã được học tập và rèn luyện, đã được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ
năng cơ bản để chuẩn bị hành trang bước vào cuộc sống, góp một phần sức lực nhỏ bé
của mình vào công cuộc lưu giữ các nguồn gen cây rừng quý hiếm hiện có, phục vụ
cho công tác cung cấp giống cây trồng rừng trước mắt và lâu dài.
Để đạt được những mục tiêu trên, được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ
nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tôi đã tiến hành
thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ ánh sáng đến
sinh trưởng của cây Sa Mộc Dầu (Cunninghamia Konishi Hayata) Giai đoạn vườn
ươm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Hoàn thành được khóa luận
này tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ công nhân viên vườn ươm
Trung tâm nghiên cứu và phát triển Lâm Nghiệp vùng núi phía Bắc, trường Đại học
Nông Lâm, cùng các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, đặc biệt hơn là sự hướng
dẫn chỉ đạo tận tình của cô giáo hướng dẫn ThS. Lương Thị Anh đã chỉ bảo tôi suốt
quá trình làm đề tài. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và tất cả các thầy cô giáo
cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Thực tập tốt nghiệp có vai trò rất quan trong đối với mỗi sinh viên sau quá
- Sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu:
Từ số liệu thu thập qua điều tra các chỉ tiêu về chiều cao, đường kính cổ rễ của
cây Sa mộc dầu ở các công thức thí nghiệm, tôi tiến hành tổng hợp và phân tích kết quả
thí nghiệm bằng phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp.
3.4.1. Ngoại nghiệp
Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu.
Cây con Sa mộc dầu.
13
Thước đo cao, thước dây, thước kép.
Bảng biểu, giấy, bút.
Bình phun nước.
Cây, cọc dào phục vụ cho làm dàn che.
Dàn che ở các tỷ lệ khác nhau: 25%, 50%, 75%, 100%.
Bước 2: Bố trí thí nghiệm
Để theo dõi được ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con SMD tôi
bố trí thí nghiệm là một khối ngẫu nhiên đầy đủ. Thí nghiệm được bố trí thành 5
công thức và 3 lần nhắc lại, tất cả là 15 ô thí nghiệm, các công thức thí nghiệm được
bố trí cách nhau 10cm. Mỗi công thức thí nghiệm có 90 cây, dung lượng mẫu quan
sát là 30 cây trong một ô, tổng toàn bộ thí nghiệm để theo dõi các chỉ tiêu về sinh
trưởng là 450 cây. CT1 - không che; CT2 - che 25%;CT3 - che 50%; CT4 - che
75%; CT5 - che 100%. Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ sau:
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm chế độ ánh sáng
Lặp 1
CT1
CT3
Luống cây và giàn che được làm theo hướng Đông – Tây để tránh ánh nắng
chéo vào buổi chiều. Định kỳ 2 tháng 1 lần đo chỉ tiêu về chiều cao (Hvn) và 6
tháng đo chỉ tiêu đường kính cổ rễ (Doo):
Tỷ lệ sống: đếm số cây chết tại các công thức thí nghiệm;
Sinh trưởng (Hvn, Doo): bằng thước đo cao và thước kẹp Panme;
Bước 3: Chăm sóc thí nghiệm
+ Tước nước
Tưới đủ ẩm cho cây con vào sáng sớm và chiều mát. Số lần tưới tùy thuộc vào
điều kiện thời tiết và độ ẩm của đất trong bầu. Thí nghiệm luôn giữ đủ độ ẩm cho cây,
tạo điều kiện cho cây sinh trưởng. Bình quân nước tưới cho mỗi lần là 3-5 lít/m².
+ Nhổ cỏ phá váng
Trước khi nhổ cỏ phá váng cho cây thí nghiệm, trước khi thực hiện, tôi tưới
nước (trước khoảng 1 - 2 tiếng) cho bầu cây ngấm đủ độ ẩm.
14
Nhổ hết cỏ trong bầu và quanh luống, kết hợp xới nhẹ, phá váng bằng một
que nhỏ, xới xa gốc, tránh làm cây bị tổn thương, trung bình 10 - 15 ngày/1lần.
+ Sâu bệnh hại
Trong quá trình chăm sóc thí nghiệm định kì phun thuốc phòng bệnh cho cây.
Bước 4: Theo dõi thí nghiệm và thu thập số liệu.
Thời gian đo đếm các chỉ tiêu về sinh trưởng được tiến hành vào cuối
đợt thí nghiệm. Trong mỗi ô tiêu chuẩn theo dõi điều tra 30 cây được đánh số
từ cây 1 đến cây 30.
Cách đo: Mỗi ô thí nghiệm chọn 3 cây tiêu chuẩn trung bình về chiều cao,
mỗi cây tiêu chuẩn đo 1 mẫu, chế độ đo được lặp lại 3 lần cho 1 mẫu.
Đo cao: Sử dụng thước đo chiều cao và độ chính xác là ± 0,1cm. Đặt thước
sát miệng bầu đến hết ngọn cây.
∑D
i =1
i
15
Trong đó H vn là chiều cao vút ngọn trung bình.
D oo là đường kính gốc trung bình
Di
là giá trị đường kính gốc của một cây
Hi
là giá trị chiều cao vút ngọn của một cây.
n
là dung lượng mẫu điều tra.
i
là thứ tự cây thứ i.
Phân tích và xử lí số liệu trên excel:
+ Các chỉ số thống kê như chỉ số trung bình H vn, D oo được thược hiện
X2
3
X31 X32…………………………X3b3
S3A
X3
…
………………………
….
….
Xi1 Xi2…………………………Xibi
SiA
…
……………..
….
A
Nguyễn Thị Lanh