ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
========
PHẠM NHƯ NGHỆ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 14
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội – 2016
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC – ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Ngô Quang Sơn
2. PGS.TS. Trần Trung
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
học tập, học thường xuyên, học suốt đời”. Để đáp ứng cho “xã hội học tập” và “ con người học tập
suốt đời” thì phải có một nền “giáo dục suốt đời”.
ĐTLT là phương thức đào tạo đáp ứng cao nhất các yêu cầu nói trên do có sự chuyển tiếp
kết quả học tập của người, rút ngắn thời gian học tập để có được trình độ mong muốn.
Thực tế đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đang gặp nhiều vướng mắc, công tác quản lý
nhà nước về ĐTLT còn nhiều bất cập, không hiệu quả. Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu,
luận án về liên thông và ĐTLT, quản lý hệ thống giáo dục ..., song cho đến nay chưa có công trình
nghiên cứu khoa học, luận án nào đi sâu nghiên cứu quản lý nhà nước về đào tạo liên thông
GDNN-GDĐH ở Việt Nam. Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về đào
tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về ĐTLT, trên cơ sở đó đề xuất
các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu
xây dựng xã hội học tập.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:Công tác quản lý nhà nước hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam.
3.2. Đối tượng nghiên cứu:Quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo GDNN-GDĐH đáp ứng yêu
cầu xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam.
4. Giả thuyết khoa học
Đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở nước ta có ý nghĩa to lớn và cấp thiết, nhằm đáp ứng
nhu cầu đào tạo nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và đáp ứng nhu cầu học suốt
1
đời của người dân. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam công tác quản lý nhà nước về đào tạo liên thông
GDNN-GDĐH đang gặp nhiều vướng mắc, bất cập, không hiệu quả. Vì vậy, nếu nghiên cứu tìm
ra được những giải pháp quản lý nhà nước dựa trên tiếp cận quản lý chức năng-mục tiêu và phù
hợp với thực tiễn giáo dục về chính sách và thể chế, về kiểm định và đảm bảo chất lượng đào tạo,
đổi mới công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra…. thì sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý
nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam, góp phần đổi mới căn bản và toàn
nhân lực đa dạng, chất lượng theo yêu cầu phát triển KT-XH và xây dựng xã hội học tập; (2) Thực
trạng đào tạo và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam còn nhiều khó
khăn, bất cập, hạn chế, không hiệu quả. Muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo liên thông
GDNN-GDĐH trong HTGD quốc dân thì cần phải đổi mới và hoàn thiện các mặt quản lý nhà
nước về đào tạo liên thông theo tiếp cận quản lý dựa trên chức năng-mục tiêu quản lý; (3) Quản lý
2
nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH là tạo lập môi trường giáo dục liên tục và hành lang
pháp lý cùng các điều kiện đảo bảo chất lượng đào tạo, tạo điều kiện tốt nhất để người học thực hiện
được nguyện vọng phù hợp với nhu cầu xã hội, hội nhập với GDNN và GDĐH các nước trong khu
vực và trên thế giới; (4) Các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH có
cơ sở khoa học&thực tiễn và có tính cần thiết, khả thi cao. Kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm
một số giải pháp đã bước đầu kiểm chứng được tính đúng đắn của giả thuyết khoa học.
10. Cấu trúc của luận án
Gồm phần mở đầu; nội dung; kết luận và kiến nghị; tài liệu tham khảo; phụ lục. Nội dung
luận án gồm 3 chương: Chương 1 - Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục
nghề nghiệp và giáo dục đại học; Chương 2 - Thực trạng đào tạo liên thông và quản lý nhà nước
về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở Việt Nam - Kinh nghiệm quốc
tế; Chương 3 - Các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu
cầu xây dựng xã hội học tập.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề đào tạo và quản lý đào tạo liên thông
1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước
Trên thế giới, ĐTLT được thực hiện ở nhiều quốc gia, các chuyên gia về giáo dục quốc tế
đã có các nghiên cứu về ĐTLT. Ở Mỹ, trong lịch sử ĐTLT thường gắn với tên tuổi Giáo sư
William R. Harper (1856-1906), Viện trưởng Viện đại học Chicago đã chia chương trình đào tạo
4 năm của đại học Chicago thành hai cấp, 2 năm đầu (Lower Division) và 2 năm cuối (Upper
1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước
(1) Công trình nghiên cứu của Đỗ Công Vịnh, năm 1997, “Sự khác biệt và liên thông giữa hai
cấp đại học và cao đẳng trong giáo dục đại học”. Đề tài cấp Bộ đã phân tích một số điểm khác
biệt, bất hợp lý về chương trình đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo giữa hai cấp học và đưa ra
chương trình ĐTLT từ CĐ lên ĐH đối với ngành Sư phạm. Tuy nhiên, chưa khái quát hệ thống về
ĐTLT, chưa chỉ ra vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng và trách
nhiệm của các bên liên quan trong mối liên kết ĐTLT; (2) Năm 2001, Bộ GD&ĐT tổ chức hội
thảo khoa học về ĐTLT, đã xây dựng kế hoạch tổng thể về liên thông dọc từ THCN- CĐ- ĐH ở
một số ngành; (3) Năm 2006 luận án Tiến sĩ “Xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy
nghề từ công nhân kỹ thuật”, do NCS. Nguyễn Xuân Mai thực hiện tại ĐH Quốc gia Hà Nội; (4)
Năm 2009 luận án Tiến sĩ “ Tổ chức quản lý đào tạo liên thông của trường cao đẳng cộng đồng
trong điều kiện Việt Nam” do NCS Ngô Tấn Lực thực hiện tại ĐH Quốc gia Hà Nội, đã phân tích
lịch sử đào tạo liên thông, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý quá trình ĐTLT ở
trường cao đẳng cộng đồng, đề xuất các giải pháp tổ chức quản lý ĐTLT tại trường cao đẳng cộng
đồng trong điều kiện Việt Nam; (5) Tác giả Trần Khánh Đức trong các công trình nghiên cứu của
mình (giai đoạn 2000-2010) cũng đã thể hiện các quan điểm, xu hướng, đặc trưng, các loại hình,
liên thông giữa GDPT và GDNN, giữa GDNN với GDĐH; (6) Năm 2013 một đề tài khoa học cấp
bộ về “Giải pháp phân luồng và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam”, do TS.
Đỗ Thị Bích Loan làm chủ nhiệm đề tài. Công trình nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận liên
quan đến liên thông trong giáo dục; (7) Trong giai đoạn 2012-2014 đã triển khai đề tài cấp Bộ về
“Liên thông và liên kết trong đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học Sư phạm” do
TS. Nguyễn Thị Lam Hồng làm chủ nhiệm. Đề tài đã tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận&thực
tiễn và các giải pháp tăng cường liên thông và liên kết trong đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các
trường Đại học Sư phạm.
Các công trình nghiên cứu về ĐTLT ở trong nước nghiên cứu công phu nhưng chủ yếu quan
tâm đến các mô hình, loại hình ĐTLT mà chưa đề cập sâu đến công tác quản lý nhà nước về
ĐTLT ở cấp quản lý vĩ mô. Đặc biệt, chưa chỉ ra được trách nhiệm, nội dung quản lý nhà nước
của các cơ quan chức năng và các bên liên quan trong quản lý nhà nước về ĐTLT ở cấp hệ thống.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Đào tạo: là quá trình chuyển giao có hệ thống tri thức, kỹ năng và thái độ thông qua mục tiêu,
đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là “học để biết, học để làm, học
để làm người và học để cùng chung sống với nhau”, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học
tập”. Mô hình tổng quát của xã hội học tập bao gồm: (1) Hệ thống giáo dục ban đầu với các ngành
học từ nhà trẻ, mẫu giáo đến GDPT, GDNN và GDĐH, gọi là hệ thống giáo dục chính quy trong
nhà trường. Các mối quan hệ liên thông giữa các bậc học, cấp học, loại hình đào tạo, loại hình
trường được bảo đảm; (2) Hệ thống giáo dục tiếp tục, giáo dục ngoài xã hội gồm những trường
lớp, những tổ chức học tập theo phương thức giáo dục không chính quy hoặc phi chính quy.
1.3.2. Đào tạo liên thông và xây dựng xã hội học tập
Cách mạng khoa học và công nghệ làm cho nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất
đi, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp đã được đào tạo bị lạc hậu nhanh chóng, người lao động phải
học tập và học tập suốt đời, hệ thống giáo dục phải tổ chức một xã hội học tập, tạo điều kiện cho
mọi người có cơ hội học tập suốt đời.
Ngày nay, giáo dục đại học từ “tinh hoa” chuyển sang “đại chúng”, từ hướng “học một lần
cho suốt cả cuộc đời” sang hướng “học thường xuyên suốt đời”. Vì vậy, giáo dục đào tạo phải tổ
chức một xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội học tập suốt đời. Hệ thống giáo
dục phải tạo điều kiện liên thông dễ dàng giữa các trình độ đào tạo, giữa các chương trình học sao
cho mỗi người có thể dễ dàng tham gia chương trình phù hợp nhất với khả năng của mình.
5
1.3.3. Các loại hình đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại học trong hệ thống
giáo dục quốc dân
Đào tạo liên thông GDNN-GDĐH có các loại hình chủ yếu: (1) Đào tạo liên thông dọc: liên
thông giữa các chương trình đào tạo ở các bậc trình độ, đào tạo tiếp tục để cấp cho người học văn
bằng có trình độ cao hơn cùng ngành nghề; (2) Đào taọ liên thông ngang: liên thông giữa các
chương trình đào tạo, các ngành, chuyên ngành ở cùng một bậc trình độ, là đào tạo tiếp tục để cấp
cho người học văn bằng thứ hai; (3) Đào tạo liên thông chéo: liên thông giữa các chương trình đào
tạo khác bậc trình độ, khác ngành đào tạo, là đào tạo tiếp tục để cấp cho người học văn bằng có
trình độ cao hơn hoặc thấp hơn khác ngành với văn bằng đã có; (4) Đào tạo liên thông ngược: liên
thông để nhận bằng cấp thấp hơn khác ngành nhằm đáp ứng nhu cầu kịp thời của người học.
6
nghề; Thị trường lao động; Đặc điểm cá nhân, đó là cơ sở tiến hành các quá trình: Giáo dục-tuyền
truyền hướng nghiệp; Tư vấn nghề; Tuyển chọn vào đào tạo/vào làm nghề. Tâm lý học nghề
nghiệp là cơ sở quan trọng cho hướng nghiệp, tuyển chọn phù hợp nghề vào đào tạo có hiệu quả,
là cơ sở giúp di chuyển nghề/chuyên môn trong quá trình đào tạo cho phù hợp hơn với năng lực và
đáp ứng yêu cầu/ nhu cầu thị trường lao động, tức là cơ sở cho liên thông trong đào tạo.
1.5.2. Cơ sở Tâm lý học xã hội
Tâm lý học xã hội nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của các nhóm người trong xã hội và sự
tác động tâm lý ảnh hưởng lẫn nhau trong các nhóm; các trào lưu tâm lý của xã hội ở trong nước
và thế giới cũng như những tác động qua lại của những trào lưu đó. Liên thông trong đào tạo cần
chú ý những quy luật của tâm lý học xã hội: Sự lây lan, bắt chước, đua theo nhóm, chạy theo
“mốt” của học sinh trong chọn ngành nghề; Định kiến và dư luận xã hội có tác động lớn đế tâm lý
học sinh trong quá trình lựa chọn hướng học và hành nghề tức là ảnh hưởng mạnh đến liên thông
trong đào tạo; Hội nhập quốc tế trong môi trường “thế giới phẳng” nên các xu hướng, kinh nghiệm
của các nước trên thế giới về liên thông đào tạo là những bài học kinh nghiệm quý cho chúng ta.
1.5.3. Cơ sở Giáo dục học
ĐTLT là một quá trình giáo dục, chịu sự chi phối của các nguyên tắc, quy luật giáo dục học.
Các loại hình ĐTLT phổ biến trong hệ thống giáo dục là: Liên thông dọc; Liên thông ngang; Liên
thông chéo; Liên thông ngược. Để tạo điều kiện cho người lao động có thể học suốt đời, phải có
một hệ thống đào tạo mềm dẻo, linh hoạt. Chương trình ĐTLT cần được thể hiện ở đa mục tiêu,
nhiều đầu vào, nhiều đầu ra, nhiều trình độ kế tiếp nhau, mỗi trình độ là một đầu ra để vào đời lao
động, đồng thời cũng là đầu vào của trình độ cao hơn. ĐTLT mở ra nhiều con đường và tạo ra
nhiều cơ hội cho người học có thể học suốt đời để nâng cao trình và chuyển đổi nghề.
1.5.4.Cơ sở kinh tế học giáo dục
ĐTLT trở nên cấp thiết ngoài việc đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, nó còn là một
cách để sử dụng các nguồn lực xã hội hiệu quả hơn phục vụ cho giáo dục và đào tạo, chi phí của
người học giảm, hiệu quả đào tạo tăng lên. Nhờ sự liên thông giữa các bậc học mà các trường có
điều kiện phát triển mạnh hơn. Các trường bậc học dưới sẽ có nhiều cơ hội tuyển sinh mở rộng
của ĐTLT và những đặc điểm, nội dung của quản lý giáo dục, quản lý nhà nước về ĐTLT làm cơ
sở cho việc khảo sát-đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên
thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập ở các chương tiếp theo.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
- KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
2.1. Đặc điểm cơ cấu giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc
dân Việt Nam
2.1.1. Cơ cấu hệ thống giáo dục nghề nghiệp
Giáo dục nghề nghiệp bao gồm Trung cấp chuyên nghiệp và Dạy nghề. Dạy nghề gồm có
Sơ cấp nghề; Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề. Giáo dục nghề nghiệp có các hình thức: Chính
quy; Vừa làm vừa học và Tự học có hướng dẫn. Hệ thống trường có trường thuộc Bộ, ngành và
trường thuộc tỉnh. Loại hình trường có trường công lập và trường tư thục. Hiện tại đang có hai cơ
quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp là Bộ GD&ĐT và Bộ LĐ-TB&XH; Năm học
2014-2015 cả nước có 295 trường TCCN (175 trường công lập và 120 trường tư thục) với qui mô
đào tạo là 349.651 học sinh; Có 301 trường TCN với qui mô đào tạo là 132.651 học sinh và có
171 trường CĐN với qui mô đào tạo là 87.988 sinh viên.
2.1.2. Cơ cấu hệ thống giáo dục đại học
Giáo dục đại học bao gồm đào tạo các trình độ đào tạo: Cao đẳng, Đại học, Thạc sỹ và
Tiến sỹ. Giáo dục đại học có các hình thức: Giáo dục chính quy; Vừa làm vừa học; Học từ xa. Hệ
thống trường có trường thuộc Bộ, ngành và trường thuộc tỉnh. Loại hình trường có trường công
lập và trường tư thục. Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm quản lý nhà nước giáo dục đại học; Năm học
2014-2015 cả nước có 219 trường đại học (158 trường công lập và 60 trường tư thục), qui mô đào
tạo là 1.824.328 sinh viên; Có 217 trường cao đẳng (189 trường công lập và 28 trương tư thục),
qui mô đào tạo 539.614 sinh viên. Có 159 cơ sở đào tạo sau đại học, trong đó có 121 cơ sở đào tạo
tiến sĩ và 100 cơ sở đào tạo trinh độ thạc sĩ.
8
Năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quy chế và triển khai thí điểm ĐTLT. Đến
năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế và triển khai đào tạo liên thông GDNNGDĐH đại trà trên cả nước. Năm học 2013-2014 đã có 42 trường đại học và trên 100 trường cao
đẳng tổ chức tuyển sinh đào tạo liên thông.
2.3.2. Kết quả khảo sát thực trạng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH ở Việt Nam
Để có số liệu về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH, luận án đã sử dụng 4 mẫu phiếu hỏi
cho các đối tương là cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên, học sinh các cơ sở ĐTLT về các nội
dung: Nhu cầu học liên thông; Sự lựa chọn loại hình học liên thông; Đánh giá về vai trò, ý nghĩa
của ĐTLT; Những khó khăn khi học liên thông; Những khó khăn của nhà trường khi triển khai
ĐTLT; Mức độ đáp ứng nguyện vọng của các loại hình ĐTLT. Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu
học liên thông của người học rất lớn nhưng ĐTLT đang gặp nhiều khó khăn do các quy định về
9
ĐTLT có nhiều nội dung chưa phù hợp, chương trình đào tạo và chương trình ĐTLT được thiết kế
rất khác nhau, sự phối hợp của các cơ sở ĐTLT còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất và đội ngũ giảng
viên chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
2.4. Thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại
học ở Việt Nam
2.4.1. Về hoạch định chính sách, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về đào
tạo liên thông GDNN-GDĐH
Năm 2001, Bộ GD&ĐT đã triển khai việc xây dựng chính sách đào tạo liên thông GDNNGDĐH, đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng chương trình đào tạo liên thông. Năm 2002, Bộ
GD&ĐT đã ban hành quyết định số 49/2002/QĐ-BGD&ĐT, "Quy định tạm thời về đào tạo liên
thông Dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học” và thí điểm triển khai ĐTLT,
trong đó có quy hoạch mạng lưới, cơ cấu các ngành ĐTLT, trình độ ĐTLT và quy mô ĐTLT.
Năm 2008, Bộ GD&ĐT ban hành quyết định số 06/2008/QĐ-BGDĐT “Ban hành quy định
đào tạo liên thông trình độ Cao đẳng, Đại học”, triển khai đại trà đào tạo liên thông GDNNGDĐH. Năm 2010, Bộ GD&ĐT phối hợp với Bộ LĐTB&XH ban hành thông tư liên tịch số
27/2010/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH, “Hướng dẫn đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề,
Cao đẳng nghề lên trình độ Cao đẳng và Đại học”. Năm 2012, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư
số 55/2012/TT-BGDĐT Quy định đào tạo liên thông trình độ cao đẳng, đại học. Năm 2015, Bộ
GD&ĐT ban hành Thông tư số 08/2015/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư
ĐTLT lại thiếu tính thống nhất và không được kiểm định cả về chương trình đào tạo và cơ sơ đào
tạo, các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, quản lý đào tạo và các điều kiện đảm bảo
chất lượng rất khác nhau, do đó việc quản lý đảm bảo chất lượng ĐTLT còn nhiều bất cập.
2.4.4. Về công tác tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo, cán bộ quản lý
đào tạo liên thông GDNN-GDĐH
Để triển khai ĐTLT, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều hội thảo về ĐTLT để tuyên truyền và
bồi dưỡng cho cán bộ quản lý và giảng viên về cơ sở khoa học của ĐTLT, khả năng triển khai
ĐTLT ở Việt Nam, nhu cầu ĐTLT ơ Việt Nam, những yêu cầu trong ĐTLT. Tuy nhiên, số lượng
cán bộ, giảng viên được tham gia bồi dưỡng rất khiêm tốn và chưa có kế hoạch tổng thể về công
tác đào tạo, bồi dưỡng theo mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể.
2.4.5. Về công tác huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực phát triển đào tạo liên thông
GDNN-GDĐH
Các nguồn lực phát triển ĐTLT, cơ sở vật chất của các trường cũng được tăng cường từ
nguồn ngân sách nhà nước, kinh phí của các nhà trường và kinh phí đóng góp từ phía người học,
trong đó chủ yếu đầu tư về phòng học, trang thiết bị phục vụ thực hành, thực tập, phục vụ đổi mới
quản lý và đổi mới phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên, việc huy động các nguồn lực để phát triển
ĐTLT còn rất hạn chế, chưa huy động được các doanh nghiệp tham gia quá trình ĐTLT.
2.4.6. Về công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong đào tạo liên thông GDNN-GDĐH
Trong những năm qua công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về giáo dục
đào tạo ngày càng được quan tâm hơn. Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng kế hoạch
và triển khai việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động giáo dục đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo
cũng đã phối hợp với các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh kiểm tra việc thực hiện các quy định hiện
hành về giáo dục đào tạo nói chung. Tuy nhiên, ĐTLT được triển khai đại trà, rộng khắp ở các cơ
sở đào tạo trên cả nước và quyền tự chủ của các trường ngày cang cao, trong khi ĐTLT có những
đặc thù riêng, các quy định hiện hành về ĐTLT lại chưa đầy đủ, nguồn lực con người và tài chính
cho công tác thanh tra còn hạn chế, chưa có kế hoạch thanh tra kiểm tra riêng với hình thức
ĐTLT…v.v, vì vậy hiệu quả công tác thanh tra, xử lý vi phạm còn nhiều hạn chế, hiệu quả thấp.
2.4.7. Kết quả khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề
nghiệp-giáo dục đại học ở Việt Nam
Để có số liệu về quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH tác giả đã sử dụng
hết được chấp nhận vào học tiếp năm thứ 2 hoặc thứ 3 của chương trình ĐH (với điều kiện là
trường ĐH đó công nhận bằng tốt nghiệp của trường Cao đẳng mà SV đã học và chấp nhận cho
chuyển tiếp). Tuy nhiên, còn tùy thuộc vào uy tín và chất lượng đào tạo của trường Cao đẳng để
trường này có sự thỏa thuận với các trường khác có "Chương trình đào tạo liên thông".
Kiểm định công nhận và cam kết chất lượng: hàng năm trường CĐCĐ Hoa Kỳ cũng phải
báo cáo chi tiết về Bộ GD tiểu bang và liên bang theo một mẫu thống nhất. Ngoài ra, như các ĐH
khác, đơn vị ĐT này cũng phải phúc trình cho Hiệp hội kiểm định (Accrediting Association) vùng.
Định kỳ cũng được Hiệp hội này kiểm định công nhận chất lượng. Kết quả kiểm định chất lượng
là một cơ sở để nhà trường phát triển, cũng như LT của trường CĐCĐ với các trường ĐH diễn ra
thuận lợi. Trường được kiểm định công nhận thì rất thuận lợi trong tuyển sinh, nhận được tài trợ
của tiểu bang, liên bang. Ngoài việc kiểm định trường học, còn có kiểm định chương trình đào tạo.
2.5.2. Canada
Ở Canada, sau khi tốt nghiệp THPT, học sinh có thể lựa chọn các chương trình đào tạo khác
nhau như: Đào tạo nghề (Career College); Cao đẳng (College) gồm có Cao đẳng cộng đồng
(Community College), Học viện kỹ thuật (Institute of Technology), Cao đẳng đại học (University
College) và Cé gep; Các chương trình chuyển tiếp đại học (University Transfer Program); Đại
học (University).
Các trường ĐH ở Canada hình thành từ mẫu ĐH Cambridge, Oxford của Anh và Sorbonne của
Pháp. Tuy vậy do là nước lân cận của Hoa Kỳ, các ĐH Canada ngày nay mang nhiều đặc điểm của
nước láng giềng, nhất là trường CĐCĐ. Các chương trình chuyển tiếp Đại Học (University
12
Transfer Program): học sinh muốn lấy bằng đại học có thể hoàn thành hai năm đầu tiên tại trường
cao đẳng cộng đồng, Học viện kỹ thuất, CEGEP hoặc trường cao đẳng đại học và nhận các tín chỉ
(credit). Hầu hết các tín chỉ này đều có thể chuyển tiếp lên các trường đại học như năm thứ nhất và
thứ hai của đại học. Nhờ ĐT theo học chế tín chỉ nên dễ dàng LT; chương trình chuyển tiếp đến
trường ĐH 4- năm liên kết cơ bản giống như trường CĐCĐ ở Hoa Kỳ. Riêng ở tỉnh Quebec, học
sinh có thể theo học một trường cao đẳng gọi là Cé gep. Đối với học sinh đã tốt nghiệp trung học
phổ thông, Cé gep có các chương trình chuyển tiếp hai năm lên đại học hoặc các chương trình
hầu hết các trường đại học đều có chính sách thỏa thuận công nhận tín chỉ ở bậc học dưới. Năng
lực nghề nghiệp hoặc trình độ yêu cầu giữa các bậc học trong hệ thống giáo dục chuyên nghiệp
được quy định khá rõ ràng. Mỗi một mức đều chỉ ra những yêu cầu cụ thể học sinh phải đạt được
chuẩn và hướng dẫn chương trình kèm theo ở mỗi bậc học. Trên cơ sở đó có thể thực hiện liên
thông giữa các bậc học.
13
2.5.4. Nhật Bản
Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ở Nhật Bản có các loại hình trường đào tạo sau:
(1) Trường đào tạo nghề, các trung tâm huấn luyện nghề, đào tạo các nghề cụ thể cho các đối
tượng khác nhau và không giới hạn tuổi tác; (2) Trường Trung học Kỹ thuật hay Trung học
Chuyên nghiệp (kết hợp giữa giáo dục phổ cập và dạy nghề), thời gian đào tạo trong 3 năm cho
đối tượng học sinh tốt nghiệp THCS; (3) Trường Cao đẳng chuyên nghiệp và Cao đẳng kỹ thuật
(College of technology), thời gian đào tạo trong 5 năm cho đối tượng học sinh tốt nghiệp THCS,
(được hình thành từ nam 1961, gồm 3 năm trung học phổ thông và 2 năm chuyên tu, cùng tồn tại
song song với trường dạy nghề đã có); (4) Trường cao đẳng (Junior College) hay còn gọi là các
trường đại học ngắn hạn, với thời gian đào tạo 2 năm cho đối tượng học sinh tốt nghiệp THPT; (5)
Trường đại học có thời gian đào tạo 4 năm, cho đối tượng học sinh tốt nghiệp THPT.
Sau khi tốt nghiệp THCS học sinh có thể đi vào học trường “cao đẳng kỹ thuật ” (5 năm),
trong khi học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có thể theo học trường “chuyên nghiệp ” (1-2
năm) hay liên thông, chuyển qua học 2 năm cuối cùng của “Cao đẳng kỹ thuật” hay đi vào “Cao
đẳng chuyên nghiệp” (2-3 năm) với khả năng tìm được việc làm dễ dàng hơn vì có kỹ năng hơn
người có trình độ 4 năm ở đại học hay đại học “ngắn hạn”. Sau khi tốt nghiệp các trường “Cao
đẳng kỹ thuật”, học sinh có nguyện vọng có thể nộp đơn vào học ở bậc học nghề cao hơn tại một
số trường đại học chuyên ngành.
Sau khi tốt nghiệp Trung học Kỹ thuật hay Trung học Chuyên nghiệp học sinh có thể ra đi
làm hoặc được chuyển tiếp lên học cao đẳng kỹ thuật với thời gian học 2 năm, học sinh tốt nghiệp
đại học ngắn hạn có thể ra đi làm ngay và cũng có thể được chuyển tiếp vào năm thứ 3 của đại học
dài hạn (nếu thỏa mãn các điều kiện theo quy định).
đại học để lấy bằng cử nhân hoặc tiếp tục học nghề thêm 2 năm để lấy bằng nghề trình độ cao.
- Đối với Malaysia, năm 2005 Quốc hội Malaysia đã thông qua khung trình độ quốc gia
gồm 8 bậc, năm 2007 toàn bộ nội dung về cách thức thực hiện và đảm khung trình độ cũng được
ban hành, đồng thời với việc thành lập cơ quan quản lý chất lượng Malaysia (gồm kiểm định quốc
gia và đảm bảo chất lượng) cùng với đào tạo theo hệ thống tín chỉ và lấy người học làm trung tâm
được triển khai đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác định sự tương đương giữa các trình độ và
công nhận trình độ, mở ra cơ hội học liên thông và cơ hội học tập suốt đời cho người học.
- Đối với Indonesia những năm gần đây cũng có nhiều thay đổi lớn trong hệ thống giáo dục,
hệ thống được phân làm hai luồng rõ rệt là đào tạo theo hướng hàn lâm và đào tạo theo hướng
công nghệ thực hành. Sau khi tốt nghiệp THCS học sinh có thể vào THPT hoặc trung học nghề.
Sau trung học nghề, học sinh được học để lấy bằng cao đẳng, khi có bằng cao đẳng nếu có nguyện
vọng và đủ điều kiện học sinh được học liên thông để lấy bằng cử nhân hoặc tiếp tục học và thi để
trở thành chuyên gia cấp 1 và chuyên gia cấp 2.
Qua các nội dung phân tích trên đây, về phương diện QLĐTLT có thể nhận thấy một số kinh
nghiệm quốc tế chung nhất sau: Luật GD quy định rõ việc tổ chức ĐTLT và các cơ sở ĐT phải
báo cáo hàng năm về quy mô và tiến độ ĐTLT; Khung trình độ quốc gia và kiểm định chất lượng
GD đóng vai trò quan trọng và là điều kiện ĐTLT; Sự thỏa thuận từ trước giữa các cơ sở đã tạo
thuận trong ĐTLT; Chương trình đào tạo và ĐTLT được thiết kế thống nhất trên cơ sở chuẩn các
trình độ đào tạo đã tạo thuận lợi cho ĐTLT. Không phân biệt CTGD chính quy và CTGD không
chính quy, coi không chính quy chỉ là phương thức ĐT CTGD chính quy.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Kết quả nghiên cứu ở chương 2 cho thấy đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đã được triển
khai và được xã hội rất quan tâm, tuy nhiên đào tạo liên thông GDNN-GDĐH còn nhiều bất cập,
chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo nhân lực có chất lượng cho phát triển kinh tế-xã hội cũng như
chưa đáp ứng được nhu cầu của người học, công tác quản lý nhà nước về ĐTLT còn nhiều bất cập,
không hiệu quả, cụ thể: Hệ thống các văn bản pháp quy điều chỉnh về ĐTLT còn thiếu và nhiều
nội dung quy định chưa phù hợp: Chưa có hệ thống chuẩn các trình độ đào tạo (các trình độ đào
tạo trong hệ thống không có sự phân định rõ ràng), để làm cơ sở quan trọng trong xác định mục
tiêu đào tạo xuất phát từ chuẩn đầu ra của các trình độ đào tạo; Việc xây dựng chương trình đào
tạo thiếu tính thống nhất; Sự phối hợp giữa các cơ sở ĐTLT còn nhiều hạn chế; Tổ chức kiểm định
quản lý nhà nước về ĐTLT trong hệ thống giáo dục đề xuất đều không có ý nghĩa trong thực tế.
Đảm bảo tính khả thi khi đề xuất các giải pháp đòi hỏi các giải pháp phải sát với thực tiễn giáo dục
và QLNN về giáo dục, có khả năng áp dụng vào thực tiễn quản lý nhà nước về ĐTLT.
3.2. Các giải pháp quản lý nhà nước về đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo dục đại
học đáp ứng yêu cầu xã hội học tập
3.2.1. Hoàn thiện khung chính sách quốc gia phát triển đào tạo liên thông GDNN-GDĐH
3.2.1.1. Mục đích giải pháp
Tạo lập môi trường chính sách quốc gia thuận lợi và các điều kiện đảm bảo phát triển đào
tạo liên thông GDNN-GDĐ, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập
3.2.1.2. Nội dung giải pháp
a) Xác lập các tiêu chí của chính sách.
b) Định hình khung chính sách đào tạo liên thông GDNN-GDĐH, bao gồm các chính sách:
(1) Tác động đến quản lý hệ thống; (2) Tác động đến các yếu tố đầu vào; (3) Tác động đến các yếu
của quá trình đào tạo; (4) Tác động đến các yếu tố đầu ra; (5) Tác động đến đảm bảo chất lượng
đào tạo.
16
3.2.1.3. Cách thực hiên giải pháp
Thực hiện theo chu trình hoạch định chính sách: (1) Xác định vấn đề và lý do; (2) Khảo sát,
điều tra, thu thập thông tin, đánh giá thực tế; (3) Dự thảo khung chính sách, nội dung chính sách;
(4) Lấy ý kiến đóng góp các cơ quan, đối tượng liên quan; (5) Sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh chính
sách; (6) Thử nghiệm chính sách, điều chỉnh nếu cần; (7) Trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; (8)
Ban hành chính sách.
3.2.2. Xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn các trình độ đào tạo liên thông giáo dục nghề
nghiệp và giáo dục đại học
3.2.2.1. Mục tiêu giải pháp
Xây dựng, ban hành hệ thống chuẩn các trình độ đào tạo của GDNN và GDĐH nhằm đảm
bảo việc phân loại, thống nhất, chuẩn hóa, rõ ràng các trình độ đào tạo gắn với các điều kiện đảm
17
theo nhóm ngành và chương trình khung đào tạo liên thông GDNN-GDĐH theo nhóm ngành, trên
cơ sở đó các trường xây dựng chương trình đào tạo và chương trình ĐTLT của từng trường.
d) Chỉ đạo và tổ chức xây dựng chương trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH:
- Nguyên tăc xây dựng chương trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH,
- Quan điểm xây dựng chương trình đào tạo liên thông GDNN-GDĐH,
- Quy trình xây dựng chương trình đào tạo liên thông GDNN và GDĐH: gồm các bước
liên tiếp kế tiếp nhau và khép kín như sau: (1) Phân tích nhu cầu, bối cảnh, đặc điểm đối tượng
đào tạo liên thông; (2) Xác định hệ mục tiêu các cấp trình độ đào tạo liên thông; (3) Phân tích, so
sánh chương trình đào tạo đầu vào với chương trình đào tạo đầu ra từ đó lựa chọn, xác định nội
dung chương trình ĐTLT; (4) Lựa chọn, tổ chức, sắp xếp nội dung, xác định thời lượng, lựa chọn
phương pháp; (5) Lập kế hoạch và chuẩn bị nguồn lực thực hiện chương trình ĐTLT; (6) Thử
nghiệm, hiệu chỉnh, hoàn thiện chương trình ĐTLT; (7) Thẩm định và phê duyệt chương trình
ĐTLT; (8) Đánh giá kết quả thực hiện chương trình ĐTLT.
3.2.3.3. Cách thực hiện giải pháp
Các cơ sở đào tạo của GDNN và GDĐH thành lập các Hội đồng xây dựng chương trình
đào tạo và chương trình đào tạo liên thông theo ngành đào tạo đảm bảo các thành phần tham gia
như đã phân tích ở trên và tổ chức thực hiện theo quy trình, đảm bảo các nguyên tắc chung, phù
hợp với chương trình khung do Hội đồng thành lập theo nhóm ngành đã xây dựng hoặc do Hội
đồng ĐTLT theo nhóm ngành (nếu có) đã xây dựng, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ĐTLT.
3.2.4. Chỉ đạo và tổ chức thành lập các Hội đồng đào tạo liên thông giáo dục nghề nghiệp-giáo
dục đại học theo nhóm ngành
3.2.4.1. Mục tiêu giải pháp
Thống nhất nguyên tắc, nội dung, quy trình thỏa thuận, cam kết và giám sát giữa các cơ sở
ĐTLT; Thống nhất chương trình khung các trình độ đào tạo và chương trình khung ĐTLT; Thống
nhất nguyên tắc công nhận kết quả và miễn trừ khối lượng học tập trong ĐTLT.
3.2.4.2. Nội dung giải pháp
a) Thành phần của Hội đồng đào tạo liên thông theo nhóm ngành đào tạo: (1) Đại diện
khai; Xây dựng chương trình đào tạo, chương trình ĐTLT, tổ chức thực hiện chương trình và tổ
chức giám sát chéo để các thỏa thuận được thực hiện đầy đủ nhằm đảm bảo chất lượng ĐTLT.
3.2.5. Xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH
3.2.5.1. Mục tiêu giải pháp
Đảm bảo và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo liên thông nhằm góp phần đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhân lực cho CNH, HĐH đất nước, đáp ứng yêu
càu xây dựng xã hội học tập.
3.2.5.2. Nội dung giải pháp
Kiểm định cơ sở ĐTLT và kiểm định chương trình ĐTLT nhằm nâng cao chất lượng ĐTLT,
xác định mức độ đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; giải trình với cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền và xã hội về chất lượng chương trình và chất lượng ĐTLT của
trường làm cơ sở để triển khai ĐTLT, làm cơ sở cho người học lựa chọn trường, nhà dụng lao
động tuyển chọn nhân lực và là cơ sở để đầu tư phát triển nhà trường.
a) Hoàn thiện tiêu chuẩn, quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục đối với cơ sở
đào tạo liên thông và chương trình đào tạo liên thông,
b ) Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo,
c) Phát triển các trung tâm kiểm định chất lượng GD&ĐT độc lập; Đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ kiểmr định chất lượng giáo dục đào tạo.
d) Xây dựng kế hoạch và triển khai kiểm định cơ sở đào tạo và kiểm định chương trình đào
tạo liên thông GDNN-GDĐH.
3.2.5.3. Cách thực hiện giải pháp
(1) Rà soát, bổ sung hoàn thiện hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ
sở đào tạo và kiểm định chương trình đào tạo liên thông của hệ thồng GDNN và GDĐH; (2) Đào
tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm định; (3) Xác định lộ trình và các điều kiện
thực hiện, đồng thời thông báo công khai đến các cơ sở đào tạo; (4) Lựa chọn một số cơ sở đao tạo
19
triển khai kiểm định đánh giá chất lượng cơ sở đào tạo và kiểm định chương trình đào tạo liên
(1) Xây dựng nội dung, tiêu chí, quy trình thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra của cơ
quan quản lý nhà nước về giáo dục trong việc thực hiện những quy định pháp luật trong ĐTLT
theo từng cấp độ trung ương, địa phương; (2) Xây dựng cơ chế, quy trình tự giám sát, kiểm tra,
thanh tra trong ĐTLT.
3.2.7.3. Cách thực hiện giải pháp
(1) Bộ GD&ĐT phối hợp với Bộ LĐTB&XH hoàn thiện quy trình, nội dung, hình thức
thanh tra ĐTLT, tập huấn, bồi dưỡng cán bộ thanh tra ĐTLT các cấp, xây dựng kế hoạch thanh tra
và thông báo công khai; (2) Các cơ sở ĐTLT xây dựng kế hoạch, tổ chức thanh tra và giám sát,
thanh tra chéo, kịp thời phát hiện và điều chỉnh sai phạm trong ĐTLT; (3) Các cơ quan quản lý
20
nhà nước về giáo dục phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên môn xây dựng kế hoạch, triển khai
thanh tra ĐTLT, phát hiện, ngăn ngừa, xử lý sai phạm trong đào tạo liên thông GDNN-GDĐH.
3.3. Khảo nghiệm và thử nghiệm các giải pháp
3.3.1. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp
Khảo sát đối với cán bộ các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, cán bộ quản lý, giảng
viên và sinh viên các trường ĐTLT. Kết quả cho thấy các giải pháp đề xuất đều được đánh giá có
tính cấp thiết, khả thi cao. Từ đó việc thực hiện các giải pháp sẽ góp phần phát triển và nâng cao
chất lượng đào tạo liên thông GDNN-GDĐH đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội học tập.
3.3.2. Thử nghiệm giải pháp
3.3.2.1. Mục đích chung: đánh giá mức độ tác động, hiệu quả mà các giải pháp đề xuất mang lại
nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập.
3.3.2.2. Giới hạn và nội dung thử nghiệm: QLNN về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH là vấn đề
rộng lớn, cơ sở ĐTLT chịu tác động trực tiếp của các giải pháp, do điều kiện tác giả lựa chọn một
giải pháp đã đề xuất có tính cấp thiết, điển hình, tác động đến yếu tố chủ yếu của quá trình đào tạo
liên thông ở các cơ sở đào tạo.
3.3.2.3. Thử nghiệm giải pháp chuẩn hóa chương trình khung đào tạo liên thông của các trình độ,
ngành nghề đào tạo liên thông GDNN-GDĐH.
2014
Các mức về kết quả học tập của sinh viên ĐTLT trình độ CĐ,
ngành SP mầm non, lớp thử nghiệm 2014
Giỏi
Khá
TB khá
TB
Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
Lớp 14LTMN-08A1
0
15
16,7
4
Tổng
số
SV
%
2
4,5
46
90
Bảng 3.4: Kết quả học tập học kỳ 3 của sinh viên lớp thử nghiệm ĐTLT
từ TCCN lên CĐ, khóa 2014-2016, ngành sư phạm mầm non
Tên lớp ĐTLT thử nghiệm
Các mức kết quả học tập của sinh viên ĐTLT trình độ CĐ,
ngành SP mầm non, lớp thử nghiệm 2014
Giỏi
Khá
TB khá
TB
Yếu
52,2
0
0
0
Tổng các lớp ĐTLT 2014
1
1,1
41
45,6
48
53,3
0
0
0
Tổng
số SV
SL
%
SL
%
SL
%
Lớp 15LTMN-09A1
0
0
40
88,9
5
11,1
0
0
0
183
75,3
60
24,7
0
0
0
0
243
0
45
- Điều tra dư luận sinh viên học liên thông: có 84,5% sinh viên liên thông hài lòng với nội
dung chương trình ĐTLT, có 81% sinh viên liên thông hài lòng với việc công nhận kết quả học tập
và miễn trừ khối lượng học tập cho người học khi học liên thông.
3.3.2.4. Đánh giá chung về thử nghiệm: thử nghiệm đã được triển khai nghiêm túc, kết quả bước
đầu đã khảng định tính đúng đắn của các giải pháp. Các giải pháp đã có tác động và mang lại hiệu
Nam trong việc thực hiện đào tạo và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH. Qua
khảo sát đánh giá thực trạng đào tạo liên thông và quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNNGDĐH ở nước ta, phân tích những bất cập, nguyên nhân, luận án đưa ra hệ thống các giải pháp
quản lý nhà nước về đào tạo liên thông GDNN-GDĐH nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhân lực
của quốc gia và tạo cơ hội để ai cũng được học và học suốt đời, tiến tới xã hội học tập ở Việt Nam.
Kết quả khảo sát và thử nghiệm một số giải pháp cho thấy các giải pháp được đề xuất là phù
hợp và có tính khả thi cao đồng thời mang lại hiệu quả thiết thực. Các giải pháp quản lý nhà nước
về đào tạo liên thông GDNN-GD ĐH trong hệ thống giáo dục đã trình bày ở trên đều có vai trò, vị
trí và tầm quan trọng nhất định nhằm thực hiện tốt việc quản lý đào tạo liên thông GDNN-GDĐH
đáp ứng nhu cầu của mỗi cá nhân, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triên nhân lực quốc gia. Mỗi
giải pháp có vị trí, chức năng và thế mạnh riêng, khi thực hiện từng giải pháp sẽ có tác động đến
từng yếu tố trong đào tạo liên thông, các giải pháp đều có mối quan hệ trong một chỉnh thể thống
nhất, trong quá trình triển khai thực hiện cần thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp, tuy nhiên
23