BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------------
MAI NGỌC KHA
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG
XU THẾ HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỔC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------------------
MAI NGỌC KHA
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TRUNG GIAN TÀI CHÍNH TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG
XU THẾ HỘI NHẬP THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH QUỔC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ Kinh tế quốc tế
Mã số: 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.2.2.3. Các trung gian đầu tư
1.2.3. Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán...
1.2.3.1. Hoạt động phát hành chứng khoán
1.2.3.2. Hoạt động kinh doanh chứng khoán
1.2.3.3. Đại lý, bảo lãnh phát hành chứng khoán
1.2.3.4. Môi giới chứng khoán
1.2.3.5. Tư vấn đầu tư chứng khoán
1.2.3.6. Quản lý danh mục đầu tư
1.2.3.7. Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
1.2.3.8. Thanh toán và lưu ký chứng khoán
1.2.3.9. Các hoạt động khác
Chương 2. Thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam …………………………………………………………..
2.1. Sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam………………
2.2. Các trung gian tài chính Việt Nam…………………………………………..
2.2.1. Sơ lược về hệ thống tài chính Việt Nam……………………………...
2.2.2. Các ngân hàng thương mại……………………………………………
2.2.3. Các tổ chức bảo hiểm…………………………………………………
2.2.4. Các công ty chứng khoán……………………………………………..
2.2.5. Các công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư…………………………...
2.2.6. Các công ty tài chính………………………………………………….
2.2.7. Các công ty cho thuê tài chính………………………………………..
2.3. Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán Việt
Nam……………………………………………………………………………….
2.3.1. Các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của các trung gian tài
chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam…………………………
2.3.1.1. Luật các tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi luật các tổ chức tín
dụng
3.4. Giải pháp thúc đẩy hoạt động của các Trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế……..
3.4.1. Các giải pháp vĩ mô…………………………………………………...
3.4.1.1. Các giải pháp tạo đà cho sự phát triển kinh tế……………….
3.4.1.2. Giải pháp hoàn thiện chức năng và tăng cường sự phối hợp
giữa các cơ quan quản lý Nhà nước…………………………………..
3.4.1.3. Các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán…………….
3.4.2. Các giải pháp vi mô…………………………………………………..
3.4.2.1. Tăng cường tiềm lực tài chính của các Trung gian tài chính..
3.4.2.2. Phát triển các nghiệp vụ mới trên thị trường chứng khoán ….
3.4.2.3. Nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hoạt động của các
Trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán…………………….
3.4.2.4. Đa dạng hóa các tổ chức tài chính nhằm tạo ra sự cạnh tranh
lành mạnh trên thị trường tài chính quốc gia…………………….
3.4.2.5. Hình thành và phát triển các công ty đầu tư chứng khoán…...
Kết luận…………………………………………………………………………….
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Ký hiệu
Tiếng Việt
CBTT
Công bố thông tin
Doanh nghiệp
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
IPO
Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng
KBNN
Kho bạc Nhà nước
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
NSNN
Ngân sách Nhà nước
SCIC
Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước
Tổ chức thương mại Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Nội dung
Bảng 2.1
Quy mô niêm yết tại SGDCK Tp.HCM
Bảng 2.2
Quy mô niêm yết tại TTGDCK Hà Nội
Bảng 2.3
Một vài chỉ tiêu của SGDCK Tp.HCM qua các năm
Bảng 2.4
Một vài chỉ tiêu của TTGDCK Hà Nội qua các năm
Bảng 2.5
Doanh thu ngành bảo hiểm qua các năm
Bảng 2.6
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang
diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung khi chúng
ta đã chính thức là thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) vào cuối
năm 2006. Hội nhập kinh tế quốc tế trong đó hội nhập thị trường tài chính - một cấu
thành quan trọng của nền kinh tế đang đứng trước rất nhiều những cơ hội và thách
thức trong bối cảnh mới.
Thị trường chứng khoán, bộ phận quan trọng của thị trường tài chính trong
thời gian qua đã có được những bước phát triển nhất định. Lý thuyết và thực tiễn
cho thấy thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng huy động nguồn vốn trung và
dài hạn cho nền kinh tế. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn
đầu tư trong và ngoài nước được thu hút vào nền kinh tế là rất lớn. Huy động và sử
dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng của thị
trường chứng khoán và của cả hệ thống tài chính quốc gia.
Các trung gian tài chính là những chủ thể quan trọng bậc nhất trên thị trường
tài chính, hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là tất
yếu và có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển của thị trường. Phát triển hoạt
động của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán là hướng đi chiến
lược trong sự phát triển lâu dài của các trung gian tài chính trong xu thế hội nhập.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động được hơn bảy năm,
đã gặt hái được những thành tựu bước đầu tuy nhiên bên cạnh đó cũng còn nhiều
bất cập. Thực tế cho thấy trong những năm qua, hoạt động của các trung gian tài
chính trên thị trường chứng khoán đã thúc đẩy sự phát triển bứt phá của thị trường,
góp phần huy động một nguồn vốn khổng lồ cho phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, sự
tham gia của các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán cũng còn nhiều
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình hoạt động của các trung gian tài
chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi hình thành tháng 07/2000 đến
nay.
3
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, với việc sử dụng các phương pháp cụ
thể như phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích (phân tích định tính và phân
tích thống kê). Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh để làm sáng tỏ
hơn các kết luận rút ra trong từng hoàn cảnh cụ thể.
7. Kết cấu luận văn
Tên Luận văn: “Hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế.”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán và các trung
gian tài chính trên thị trường chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng hoạt động của các trung gian tài chính trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động của các trung gian tài chính Việt
Nam trong xu thế hội nhập thị trường tài chính quốc tế.
4
CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC
5
thời gian hoạt động đã cho thấy, thị trường không có khả năng đáp ứng được yêu
cầu của ba loại giao dịch khác nhau. Vì thế, thị trường hàng hoá được tách ra
thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và phát triển thành thị
trường hối đoái. Thị trường chính thức trở thành thị trường chứng khoán. Như
vậy, thị trường chứng khoán được hình thành cùng với thị trường hàng hoá và thị
trường hối đoái.
1.1.2. Khái niệm thị trƣờng chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các giao dịch, mua bán, trao đổi các
loại chứng khoán. Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ hay bút toán ghi sổ,
nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát
hành. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo
tính chất sở hữu của chúng.
Với chứng khoán nợ, chẳng hạn như trái phiếu, chủ sở hữu có quyền được
nhận lãi định kỳ và nhận toàn bộ giá trị cam kết, sau một thời hạn nhất định, từ giá
trị tài sản của tổ chức phát hành.
Khác với chứng khoán nợ, cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối
với một phần tài sản khi công ty được bán đi, kèm theo với một phần lợi nhuận do
tài sản đó làm ra. Ngoài ra, cổ đông còn có quyền tham gia quản lý công ty thông
qua quyền tham gia và bỏ phiếu tại Đại hội cổ đông, quyền mua trước đối với cổ
phiếu phát hành mới.
Với các đặc tính đó, chứng khoán được xem là các tài sản tài chính mà giá
trị của nó phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền của chủ sở hữu đối
với tổ chức phát hành.
Các giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán có thể diễn ra ở thị trường sơ
cấp (Primary Market) hay thị trường thứ cấp (Secondary Market), tại thị trường
chứng khoán tập trung - Sở giao dịch (Stock Exchange) hay thị trường giao dịch
phi tập trung – thị trường giao dịch qua quầy (Over - the Counter Market), ở thị
trường giao ngay (Spot Market) hay thị trường có kỳ hạn (Future Market). Các
Vốn
- Các tổ chức kinh tế
- Các tổ chức kinh tế
- Chính phủ
- Chính phủ
- Các hộ gia đình
- Nước ngoài
Vốn
Các thị trường
Vốn
- Nước ngoài
tài chính
Trực tiếp
Sơ đồ 1.1.Các dòng vốn qua hệ thống tài chính
Sơ đồ trên cho thấy, sự chuyển dịch vốn trong hệ thống tài chính được thực
hiện thông qua hai con đường, trực tiếp và gián tiếp. Những người cần vốn có thể
huy động trực tiếp từ những người có vốn bằng cách bán các chứng khoán cho họ.
Các chứng khoán này được mua bán rộng rãi trên thị trường sơ cấp và thị trường
thứ cấp.
đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của
mình. Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của
công ty cũng như đối với tài sản của công ty, khi tài sản này được đem bán. Cổ
phiếu không có thời hạn xác định.
Thị trường các công cụ dẫn suất (Derivative Markets) là nơi các chứng
khoán phái sinh được mua và bán. Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng kỳ
hạn (Future Contracts), hợp đồng quyền chọn (Options). Thị trường này ngày càng
trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài chính. Nó cung cấp các công cụ
phòng vệ hữu hiệu, đồng thời cũng là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà đầu tư.
8
1.1.3.2. Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
Theo cách thức này, thị trường được phân thành thị trường sơ cấp và thị
trường thứ cấp.
Thị trường sơ cấp hay thị trường cấp 1 (Primary Market) là thị trường phát
hành các chứng khoán. Tại thị trường này, giá cả của chứng khoán là giá phát
hành. Việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát
hành. Thông qua việc phát hành chứng khoán, Chính phủ có thêm nguồn thu để tài
trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng của Chính phủ, các doanh nghiệp huy
động vốn trên thị trường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư.
Thị trường thứ cấp hay thị trường cấp 2 (Secondary Market) là thị trường
giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục
đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội. Quan hệ giữa thị
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp thể hiện trên các giác độ sau:
Thứ nhất, thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đã
phát hành. Việc này làm tăng sự ưa chuộng của chứng khoán và làm giảm rủi ro
cho các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn,
thay đổi kết cấu danh mục đầu tư, trên cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà phát
Khối lượng giao dịch của thị trường này thường lớn hơn rất nhiều so với thị
trường Sở giao dịch.
1.1.4. Vai trò của thị trƣờng chứng khoán
Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ có tính thanh
khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời hạn của vốn phù
hợp với yêu cầu phát triển kinh tế.
Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán có thể làm tăng vốn tự có
của các công ty và giúp họ tránh các khoản vay có chi phí cao cũng như sự kiểm
soát chặt chẽ của các ngân hàng thương mại. Thị trường chứng khoán khuyến
khích tính cạnh tranh của các công ty trên thị trường. Sự tồn tại của thị trường
chứng khoán cũng là yếu tố quyết định để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Đây
chính là các yếu tố đảm bảo cho sự phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong một
quốc gia cũng như trong phạm vi quốc tế.
Thứ hai, thị trường chứng khoán góp phần thực hiện tái phân phối công
bằng hơn, thông qua việc buộc các tập đoàn gia đình trị phát hành chứng khoán ra
10
công chúng, giải toả sự tập trung quyền lực kinh tế của các tập đoàn, song vẫn tập
trung vốn cho phát triển kinh tế. Việc tăng cường sự giám sát của xã hội đối với
quá trình phân phối đã giúp nhiều nước tiến xa hơn tới một xã hội công bằng và
dân chủ.
Thứ ba, thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tách biệt giữa sở
hữu và quản lý doanh nghiệp. Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, môi trường
kinh doanh trở nên phức tạp hơn, nhu cầu về quản lý chuyên trách cũng tăng theo.
Thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc tiết kiệm vốn và chất xám, tạo điều
kiện thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Cơ chế thông tin
hoàn hảo tạo khả năng giám sát cao của thị trường chứng khoán đã làm giảm tác
động của các tiêu cực trong quản lý, tạo điều kiện kết hợp hài hoà giữa lợi ích của
doanh chứng khoán. Để tài trợ cho các dự án đầu tư hoặc chi tiêu dùng, Chính phủ
có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Trái phiếu Chính phủ, Tín phiếu
Kho bạc là những loại hàng hoá quan trọng của thị trường chứng khoán. Ngân
hàng Nhà nước có thể tham gia thị trường khi sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để
thực thi chính sách tiền tệ. Chính phủ cũng có thể tham gia thị trường cổ phiếu khi
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước hoặc muốn tham gia quản lý, nắm quyền
kiểm soát các doanh nghiệp.
1.1.5.2. Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp là chủ thể quan trọng trên thị trường chứng khoán. Các
doanh nghiệp cung cấp các loại hàng hoá chính cho thị trường chứng khoán.
Pháp luật từng nước quy định cụ thể loại hình doanh nghiệp nào được phép
phát hành chứng khoán. Về cơ bản, các công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu
hoặc trái phiếu để thu hút vốn trên thị trường. Công ty có thể tự mình phát hành
chứng khoán hoặc phát hành thông qua đại lý hoặc bảo lãnh phát hành.
Đẩy mạnh hoạt động phát hành chứng khoán của các doanh nghiệp sẽ đa
dạng hoá các công cụ đầu tư, đồng thời tạo điều kiện phát triển các dịch vụ cho
các trung gian tài chính như nghiệp vụ đại lý, bảo lãnh phát hành, nghiệp vụ ngân
hàng tín thác, nghiệp vụ tư vấn phát hành.
1.1.5.3. Các nhà đầu tƣ cá thể
Các nhà đầu tư cá thể là các cá nhân và các hộ gia đình. Họ mua bán chứng
khoán nhằm mục đích kiếm lời và qua đó, một lượng tiết kiệm khổng lồ được huy
động cho phát triển kinh tế. Các nhà đầu tư có thể tham gia một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua các nhà đầu tư có tổ chức, các trung gian tài chính. Hoạt
12
động kinh doanh chứng khoán của các nhà đầu tư cá thể tạo ra tính sôi động của
thị trường, đồng thời tạo điều kiện để các trung gian tài chính phát triển các dịch
vụ hỗ trợ thị trường.