Hoàn thiện quy định của bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp - Pdf 36

Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường
hợp khẩn cấp
Bắt người là một biện pháp ngăn chặn quan trọng trong Luật Tố tụng hình sự Việt
Nam góp phần đảm bảo cho hoạt động tố tụng có thể diễn ra bình thường và đạt
được hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, bắt người cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, do đó mà khi tiến hành bắt người phải
tuân thủ chặt chẽ và nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm
đảm bảo những quyền và lợi ích chính đáng của công dân được tôn trọng và đảm
bảo. Nhằm có thêm những hiểu biết cho bản thân cũng như làm rõ những quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự về biện pháp bắt người, em xin chọn đề tài số 15 làm
đề tài nghiên cứu cho bài tập học kì: “Bắt người trong trường hợp khẩn cấp”.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Bắt người trong khoa học Luật Tố tụng hình sự: 1. Khái niệm.
“Bắt” theo giải thích của từ điển tiếng Việt thì được hiểu là: “nắm lấy, giữ lại,
không cho hoạt động tự do, khiến phải làm gì hoặc không cho phép làm điều gì” và
đồng nghĩa với các từ: “Buộc, ép”[footnoteRef:1]. Như vậy hiểu theo nghĩa của từ
“bắt” thì bắt người là việc giữ một người lại, không cho người đó hoạt động tự do.
Ép, buộc, cưỡng chế họ phải làm những việc nhất định theo ý của người khác. [1:
http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/B%E1%BA%AFt]
Bộ luật TTHS không đưa ra định nghĩa về biện pháp ngăn chặn bắt người. Tuy
nhiên, trong khoa học luật TTHS, biện pháp ngăn chặn bắt người được hiểu như
sau:
Bắt người trong TTHS là biện pháp ngăn chặn do những người có thẩm quyền
quyết định áp dụng và thực hiện đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị
khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội


trốn tránh pháp luật, tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi gây khó khăn, cản trở hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.[footnoteRef:2] [2: Bắt người trong tố
tụng hình sự Việt Nam – Vũ Gia Lâm - Luận văn thạc sĩ luật học – năm 2000]
2. Mục đích của biện pháp ngăn chặn bắt người.

bảo cho hoạt động thi hành án đạt hiệu quả không chỉ cần thiết khi kết thúc hoạt
động xét xử tại phiên toà mà còn phải được thực hiện ngay từ thời điểm vụ án chưa
xét xử và có thể được thực hiện bằng biện pháp ngăn chặn bắt người.
3. Ý nghĩa của biện pháp ngăn chặn bắt người.
Quy định và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong TTHS có ý nghĩa lớn
trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm:
- Là điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho các hoạt động của cơ quan tiến hành tố
tụng, cơ quan có thẩm quyền khác đạt hiệu quả, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng
giải quyết được những nhiệm vụ đặt ra trong các giai đoạn tố tụng một cách chính
xác, nhanh chóng.
- Bảo đảm cho việc thực hiện dân chủ trong pháp luật, thể hiện sự tôn trọng và bảo
đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy
định. Điều này thể hiện ở chỗ việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp bắt người
không phải xuất phát từ ý chí chủ quan của cơ quan Nhà nước mà xuất phát từ pháp
luật và sự đòi hỏi của thực tiễn.[footnoteRef:5] [5: Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam - Trường Đại học Luật Hà Nội – NXB. Tư pháp – năm 2006]
- Những quy định cụ thể về thẩm quyền, căn cứ, thủ tục bắt có ý nghĩa là cơ sở pháp
lý để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật khi áp dụng biện pháp.
II. Quy định của BLLTHS 2003 về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp
khần cấp:


Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định các trường hợp bắt người sau: Bắt bị can, bị
cáo để tạm giam (Điều 80); Bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81); Bắt
người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82). Với yêu cầu của cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm, việc bắt người cần phải được tiến hành kiên quyết,
kịp thời. Tuy nhiên, không thể vì bất cứ một lý do gì mà áp dụng các biện pháp
ngăn chặn tràn lan, sai tính chất, sai đối tượng, không đảm bảo các yêu cầu của
pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân. Do đó, những quy định
về bắt người thường được ghi nhận rất rõ, đầy đủ về căn cứ, các trường hợp áp

sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực
hiện tội phạm.
+ Tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện phải là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc
đặc biệt nghiêm trọng, tức là tội phạm gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 15 năm tù, tù chung
thân hoặc tử hình. Do vậy chỉ khi nào có căn cứ khẳng định hành vi chuẩn bị thực
hiện một tội phạm là rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì mới bắt khẩn
cấp. Áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp này là để ngăn ngừa
không cho tội phạm rất nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng đang được chuẩn bị, có
khả năng gây nguy hại cho mối quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Thứ hai, khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông
thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thầy cần ngăn chặn
ngay việc người đó trốn.
Trong trường hợp này, việc bắt người cũng cần đáp ứng hai điều kiện:
+ Phải có người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông
thấy và xác nhận đúng người đã thực hiện tội phạm. Như vậy, theo quy định của


luật hiện hành, trường hợp một người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhưng lại
không tận mắt chứng kiến hành vi phạm tội hoặc không có mặt tại nơi xảy ra tội
phạm nhưng được người khác trực tiếp chứng kiến mô tả lại, kể lại cũng không
được coi là căn cứ bắt khẩn cấp. Hoặc trường hợp người đó không tận mắt chứng
kiến, mà chỉ nhận biết tội phạm bằng giọng nói, ví dụ như do trời tối, không quan
sát được… cũng không đủ điều kiện để bắt khẩn cấp trong trường hợp này.
+ Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn, tức là người đã thực hiện hành vi
phạm tội đang có hành động trốn hoặc chuẩn bị trốn hoặc xét thấy có những khả
năng để cho rằng người đó có thể trốn, khó có thể triệu tập khi cần thiết như: không
có nơi cư trú rõ ràng, đối tượng lưu manh, côn đồ, chưa xác định được nhân thân…
Việc xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn tùy thuộc vào sự đánh giá của
cơ quan, người có thẩm quyền vào từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, thông qua hành vi

- Người chỉ huy đơn vị bộ đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ
huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng;
4. Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp.
Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp
cũng được tiến hành như trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Nghĩa là việc
bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh bắt. Người thi hành lệnh bắt phải
đọc, giải thích lệnh và phải lập biên bản về việc bắt. Khi tiến hành bắt người, phải


có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi
người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng chứng kiến.
Với tính chất và đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp là rất cấp
bách nên BLTTHS đã quy định việc bắt người trong trường hợp này không cần có
sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo cho tính chính xác
và tránh lạm dụng bắt khẩn cấp, BLTTHS quy định, trong mọi trường hợp việc bắt
khẩn cấp phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản và kèm theo tài
liệu liên quan để xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Theo quy định tại Điểm 3.3
Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005 về quan
hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rõ: Hồ sơ đề nghị Viện kiểm
sát xét phê chuẩn lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp gồm tài liệu sau: Công
văn đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; lệnh bắt khẩn cấp (trong đó
phải ghi rõ bắt khẩn cấp trong trường hợp nào theo quy định tại Khoản 1Điều 81);
biên bản bắt người trong trường hợp khẩn cấp; tin báo, tố giác về tội phạm; kiến
nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; các tài liệu liên quan làm căn cứ cho việc quyết
định bắt khẩn cấp đối với từng trường hợp; tài liệu về nhân thân người bị bắt; lời
khai của người bị bắt (nếu có); bản kê tên các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài
liệu được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra.

của Bộ luật TTHS 2003 về bắt người đã bộc lộ những hạn chế bất cập nhất định,
cũng như thực tế áp dụng cũng phát sinh một số vấn đề cần phải sớm khắc phục,
hoàn thiện. Cụ thể bao gồm một số vấn đề sau:
- Vẫn còn xảy ra tình trạng bắt người trái pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thẩm
quyền, thủ tục mà Bộ luật TTHS đã quy định: Việc bắt người, tạm giam, tạm giữ
oan sai chưa phải là hiện tượng phổ biến tuy nhiên nhưng đã xảy ra tại nhiều địa
phương, gây nên sự bất bình trong nhân dân, có trường hợp cơ quan cấp dưới giữ
người nhưng không báo cáo cơ quan có thẩm quyền, xử lý vụ việc tùy tiện, xâm hại
nghiêm trọng đến quyền tự do, quyền được bảo hộ về danh dự, nhân phẩm của con
người. Ví dụ, một vụ việc vừa qua vào ngày 21/8/2011 công an Quận Hoàn Kiếm


đã tiến hành bắt giữ gần 50 người biểu tình chống Trung Quốc ngày 21/8/2011, đặc
biệt đối với 6 người bị bắt giữ trong 5 ngày, công an Quận Hoàn Kiếm đã vi phạm
hàng loạt điều khoản của Luật Tố tụng hình sự như: điều 79, 83, 84, 85, 86, cụ thể,
các trình tự, thủ tục khi tạm giữ như: không có cơ sở để bắt giữ, không có lệnh bắt,
không có biên bản giữa người bị tạm giữ với cơ quan tạm giữ, không thông báo cho
người thân của người bị tạm giữ, việc bắt giữ không có người chứng kiến, không
giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ.... Sau đó 25/8/2011 Viện trưởng
VKSND quận Hoàn Kiếm ký quyết định hủy bỏ việc tạm giữ đối với gần 50 người
trên. Số lượng những trường hợp bị bắt oan sai ngày càng có xu hướng tăng lên:
“Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong năm 2008 toàn
quốc có 17.791 người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp; viện kiểm sát không phê
chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là 93 trường hợp. Trong năm 2009 toàn quốc có 16.347
người; viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là 44 trường hợp. Đặc biệt
trong năm 2009 vẫn còn 405 trường hợp bắt khẩn cấp phải trả tự do. Những trường
hợp viện kiểm sát không phê chuẩn đều đã được trả tự do[footnoteRef:7]. [7: Phó
giáo sư, tiến sĩ Hoàng Thị Minh Sơn, Bảo đảm quyền của người bị bắt, bị tạm giữ,
tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tạp chí luật học số 03/2011.]
- Một số quy định của Luật TTHS về bắt người trong trường hợp khẩn cấp còn chưa

khởi tố, người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây
ra được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận thì họ mới trở thành chủ thể của quan
hệ pháp luật tố tụng hình sự.
Thứ ba, quy định về trường hợp bắt khẩn cấp ở điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS
và khoản 2 Điều 303 BLTTHS là không thống nhất nhau đồng thời không thể hiện
được chính sách nhân đạo của Nhà nước. Cụ thể, căn cứ áp dụng bắt khẩn cấp ở
điểm a khoản 1 Điều 81 chỉ đặt ra đối với người đã thành niên khi họ chuẩn bị
phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng còn trong khoản 2 Điều 303
không chỉ áp dụng cho người chưa thành niên (từ 16 đến 18 tuổi) chuẩn bị phạm tội
rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mà ngay cả người đó chuẩn bị phạm
tội nghiêm trọng do cố ý cũng đã bị bắt khẩn cấp. Trong khi đó Điều 17 BLHS quy


định chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi người chuẩn bị phạm tội rất nghiêm
trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Thứ tư, khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định về thẩm quyền ra lệnh bắt người trong
trường hợp khẩn cấp, trong đó có người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu
biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định về nội
dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80
BLTTHS, nhưng ở trên tàu bay, tàu biển thì không thể có đủ thành phần chứng kiến
như khoản 2 Điều 80 BLTTHS quy định. Khoản 4 Điều 81 BLTTHS quy định thẩm
quyền xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp là VKS cùng cấp, nhưng đối với lệnh bắt
khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển thì VKS cùng cấp là VKS nào cũng
không được quy định rõ trong luật.
2. Phương hướng và các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện
pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên thực tiễn.
- Cần sớm hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS quy định về bắt người. Từ
những tồn tại đã phân tích trong phần thực trạng áp dụng, em xin đề xuất một số ý
kiến sau:
Thứ nhất, đối với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 81, pháp luật cần có hướng dẫn

bắt người. Do vậy trong trường hợp nay về thủ tục bắt người là sai quy định của
pháp luật. Đồng thời việc phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của Viện kiểm sát sau khi
bắt trong trường hợp này sẽ là Viện kiểm sát nơi nào? Do đó Bộ luật TTHS cần quy
định rõ hơn về trường hợp người chỉ huy tàu bay, tàu biển ra lệnh bắt khẩn cấp như
sau: Khoản 3 Điều 81 cần sửa thành: “Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt
người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của
Bộ luật này. Trường hợp thi hành lệnh bắt của người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi
tàu bay, tàu biển đã rời sân bay bến cảng thì cần 2 hành khách đi cùng hoặc nhân
viên trên chuyến tàu bay, tàu biển đó chứng kiến việc bắt. Khoản 4 Điều 81 Bộ luật
TTHS cần bổ sung thêm: Lệnh bắt khẩn cấp của người chỉ huy tàu bay, tàu biển do
Viện kiểm sát nơi tàu bay, tàu biển đó hạ cánh, cập bến phê chuẩn.


- Cần chú trọng công tác đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ không chỉ với những
người tiến hành tố tụng mà một số cán bộ công chức cấp xã cũng cần phải được đào
tạo và nâng cao nghiệp vụ, đặc biệt là lực lượng công an xã. Việc đào tạo về chuyên
môn ở đây không chỉ chú trọng đến những quy định của Bộ luật TTHS mà còn phải
chú trọng đến những quy định của Bộ luật Hình sự. Việc đào tạo chuyên môn cho
cán bộ công chức cấp xã có ý nghĩa rất quan trọng trong việc áp dụng các quy định
của Bộ luật TTHS nói chung và chế định bắt người nói riêng. Một người không
được đào tạo về chuyên môn thì khó có thể xác định được đâu là hành vi chuẩn bị
thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng, hay đặc biệt nghiêm trọng để có thể xác
định căn cứ bắt khẩn cấp.
- Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với những người tiến hành tố tụng
cố ý làm trái các quy định của Bộ luật TTHS về bắt người. Việc bắt người là biện
pháp ngăn chặn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
bắt. Việc bắt người không đúng quy định của pháp luật sẽ gây tác hại nhiều mặt như
xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân, làm giảm uy tín của nhà nước và của
các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây hoang mang trong dư luận, làm cơ sở cho các thế
lực thù địch chống phá nhà nước, nói xấu chế độ. Ví dụ như vụ bắt người biểu tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status