Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương từ trường nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi chuyện vật lí (1) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI ĐỨC SƠN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG
GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG "TỪ TRƯỜNG" NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI CHUYÊN VẬT LÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI ĐỨC SƠN

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG
GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG " TỪ TRƯỜNG" NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI CHUYÊN VẬT LÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÍ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN VẬT LÍ
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ DIỆU NGA

HÀ NỘI - 2014


Nhằm mục đích phục vụ cho việc giảng dạy của GV và nghiên cứu của học
sinh trong các kì thi chọn HSG, tôi viết luận văn "Xây dựng hệ thống bài tập và
1


hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương "Từ trường" nhằm bồi dưỡng học sinh
giỏi chuyên Vật lí" nhằm góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi,
nâng cao chất lượng giảng dạy Vật lí ở các lớp chuyên Vật lí THPT hiện nay.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Cho đến nay, đã có một số học viên cao học nghiên cứu về đề tài xây dựng
hệ thống bài tập cho khối chuyên như: Phạm Thành Công với đề tài Xây dựng hệ
thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động và sóng điện từ
Vật lí 11 nhằm bồi dưỡng HSG của học sinh THPT chuyên. Phạm Thị Lan Anh với đề
tài Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Cảm ứng
điện từ Vật lí 11 nhằm bồi dưỡng HSG của học sinh THPT chuyên. Nguyễn Đăng
Tình với đề tài Soạn thảo hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài chương
"Dòng điện xoay chiều" - Vật lí 12". Nguyễn Khả Thụ với đề tài "Soạn thảo hệ thống
bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động và sóng điện từ- vật lí
12 theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập và bồi dưỡng năng lực sáng tạo của
học sinh"...Các tác giả viết sách giáo khoa và sách bài tập vật lí phổ thông cũng đã
soạn thảo hệ thống bài tập bám sát các chủ đề vật lí phổ thông. Có nhiều công trình
nghiên cứu khác đề cập đến hệ thống bài tập chương Từ trường, nhưng các công trình
đó chưa đi sâu vào đối tượng học sinh Chuyên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Từ
trường - Vật lí 11 nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi THPT chuyên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu đặc điểm, năng lực của Học sinh giỏi, học sinh giỏi Vật lí THPT
- Tìm hiểu lý luận về phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh giỏi Vật lí

giỏi, học sinh chuyên Lí Trung học phổ thông. Từ đó biên soạn hệ thống bài tập
chương "Từ trường" và áp dụng các phương pháp hướng dẫn giải bài tập phù hợp
giúp bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí.
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc
giảng dạy chương Từ trường ở các trường THPT chuyên khác trong cả nước. Đồng
thời nó còn có giá trị tham khảo cho các thầy cô ở các trường THPT khi luyện tập
cho học sinh giỏi để tham gia các kỳ thi học sinh giỏi các cấp.

3


9. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu tài liệu về Tâm lí học,
Cách bồi dưỡng nhân tài; Phương pháp dạy giải bài tập vật lí; Các sách khoa học về
Từ trường; Sách giáo khoa vật lí 9, vật lí 11 ; Sách bài tập vật lí 9, vật lí 11...
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp thực nghiệm, phương pháp
điều tra
- Phương pháp thống kê toán học.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của
luận văn được trình bày trong 03 chương.
Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí và
hướng dẫn hoạt động giải bài tập Vật lí ở Trung học phổ thông Chuyên.
Chương 2. Xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập
chương Từ trường nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi ở THPT Chuyên.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm.

4



hợp lý.
- Có khả năng huy động kịp thời các tri thức và tổ chức kiến thức cho thích ứng
với bài toán.
- Có khả năng nhận biết các yếu tố, các dấu hiệu quen thuộc, từ đó có thể gợi cho
người học hồi tưởng được những điều có ích cho việc giải bài toán, huy động được
những kiến thức có quan hệ với vấn đề đang xét.
- Có khả năng bổ sung thêm các yếu tố phụ nhằm làm cho bài toán thêm phong
phú, hiện tượng trở nên rõ rệt hơn.
- Có khả năng cách ly, phân chỉnh thể một sự kiện thành các hợp phàn , rồi liên
kết các hợp phần thành một chỉnh thể khác trước, từ đó quan niệm của người học về sự
kiện sẽ được chuyển biến sang tình huống có triển vọng hơn.
- Có khả năng đưa ra các quyết định trung gian thuộc loại quan trọng nhất là mở
rộng khu vực tìm tòi, phá bỏ những giới hạn trói buộc.
- Có khả năng tập trung chú ý vào mục đích
- Có năng lực thực nghiệm; có khả năng xác định nhanh mối liên hệ giữa lý
thuyết và thực hành.
6


- Có khả năng thiết kế và cải tiến các dụng cụ thí nghiệm để sử dụng vào nhiều
mục đích khác nhau.Thích chế tạo, lắp ráp các dụng cụ và khéo léo chân tay.
Ngoài ra, một trong những tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá học sinh giỏi vật
lí là trực giác vật lí (một khả năng do rèn luyện mà có) thông qua những kĩ năng thực
nghiệm và phương pháp thực nghiệm. (Bởi vì nếu dựa vào việc học qua sách vở thì
chổ chỉ khi đã đạt được trình độ uyên bác nhất định mới có được trực giác vật lý tốt.
HS phổ thông chưa có những điều kiện như vậy nên tốt nhất là phải rèn luyện thông
qua thực nghiệm, vì trong thực nghiệm bản chất của hiện tượng được
bộc lộ với đủ khía cạnh của nó)
1.1.1.3. Học sinh THPT Chuyên
H ọ c s i n h đ ư ợ c t u y ể n c h ọ n v à o c á c t r ư ờ ng T H P T c h uy ê n h ầ u hế t l à c á c e m

mô tả cho khái niệm sau
- Năng lực lao động sáng tạo:Biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một
dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả mong muốn
- Năng lực kiểm chứng:
+ Biết suy xét đúng sai từ một loạt sự kiện
+ Biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một đặc
trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra
+ Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm khi thực
hiện một số lần kiểm nghiệm
- Năng lực thực nghiệm:
+ Có kỹ năng thực hiện các thao tác trong khi làm thí nghiệm
+ Biết kiên trì, kiên nhẫn trong quá trình làm sáng tỏ một số vấn đề lý thuyết
thông qua thực nghiệm hoặc đi đến một vấn đề lý thuyết mới.
1.1.2.2. Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi Vật lí
Dựa trên nguyên tắc chung về phẩm chất của một học sinh giỏi và đặc điểm
của môn Vật lí có thể khái quát các năng lực và phẩm chất của một học sinh giỏi
Vật lí THPT như sau:
- Có năng lực tư duy, sáng tạo, biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa. Có kiến thức Vật lí vững vàng, sâu sắc, hệ thống, chính là nắm vững bản chất
của các hiện tượng Vật lí. Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức cơ bản trong
các tình huống mới.
- Có kỹ năng thí nghiệm tốt, có năng lực về phương pháp nghiên cứu khoa học Vật
lí. Biết nêu ra những lý luận cho những hiện tượng xảy ra trong thực tế, biết cách
dùng thí nghiệm để kiểm chứng lại lý luận và biết cách dùng lý thuyết để giải thích
những hiện tượng đã được kiểm chứng.
Như vậy đối với giáo viên, khi đào tạo những học sinh giỏi Vật lí, cần hướng
học sinh học tập để học sinh được trang bị những kiến thức, kỹ năng, giúp các em tự
học hỏi, sáng tạo nhằm phát huy tối đa năng lực của mình.
1.1.3. Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lí
1.1.3.1. Tổ chức giảng dạy
Đào tạo các học sinh giỏi là cả một quá trình đào tạo nghiêm túc khoa học và

Học có hệ thống còn là học theo lịch sử phát triển của vấn đề. Bất cứ vấn đề
nào cũng có nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển trong đó nó liên quan đến nhiều
vấn đề khác và bản thân nó cũng qua một quá trình đấu tranh phức tạp của mâu thuẫn
nội tại, để đi đến hình thái ta thấy ngày nay.
Học có hệ thống còn là xem xét mỗi sự vật, mỗi hiện tượng trong mối tương
quan với xung quanh nó, xem xét các khía cạnh của sự vật cũng như các mặt của hiện
tượng.
Học có hệ thống còn là khi học một ngành khoa học phải biết cả các ngành có
liên quan. Không thể học nguyên Vật lí mà thiếu khái niệm cơ bản về toán học.
Không thể giỏi về Vật lí, nếu không có kiến thức về toán học, hóa học, sinh học.
Học có hệ thống là học phải đi đôi với hành, lý thuyết phải gắn liền với thực tập.
Trong mọi quá trình đào tạo, phải đảm bảo cho sự cân đối nêu trên.
Rèn luyện cho học sinh cách lập kế hoạch và học có kế hoạch:
Học có kế hoạch trước hết là chia giáo trình thành phần, quy định thời gian
dành cho mỗi phần và tìm mọi cách để hoàn thành từng phần theo thời gian đã định.
9


Sau phần đầu phải rút kinh nghiệm để điều chỉnh thời gian dành cho các phần sau
thích hợp hơn.
Học có kế hoạch còn là nhằm từng vấn đề trong thời kỳ nhất định rồi đặt kế
hoạch đọc sách vở, tài liệu liên quan tới vấn đề đó. Khi chọn vấn đề cũng phải theo
đúng quy trình logic của nhận thức, nhằm những vấn đề dễ trước và vấn đề khó sau.
Khi đọc tài liệu cũng phải đọc từ nông tới sâu, từ khái quát tới chi tiết.
Biết cách học còn là biết lưu ý tới thứ tự ưu tiên của kiến thức: Điểm trung
tâm của vòng kiến thức phải là phương pháp luận (phương pháp tư duy, phương
pháp làm việc, phương pháp nghiên cứu…) lúc này hơn bao giờ hết, phương pháp
có vai trò quyết định trong kết quả học tập của từng người."
1.1.3.3. Rèn luyện năng lực tư duy và khả năng suy luận logic cho học sinh
- Tư duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và

cao. [8, tr. 171]
1.2. Cơ sở lý luận về dạy giải bài tập Vật lí
1.2.1. Khái niệm về bài tập Vật lí
Trong thực tế dạy học, người ta hay gọi một vấn đề, hay một câu hỏi cần
được giải đáp nhờ lập luận lôgic, suy luận toán học hay thực nghiệm vật lí trên cơ sở
sử dụng các định luật và các phương pháp của Vật lí học là bài tập vật lí.
Bài toán vật lí, hay đơn giản gọi là các bài tập vật lí, là một phần không thể
thiếu của quá trình dạy học vật lí vì nó cho phép hình thành và làm phong phú các
khái niệm vật lí, phát triển tư duy vật lí và thói quen vận dụng kiến thức vật lí vào
thực tiễn.
1.2.2. Vai trò, tác dụng của bài tập Vật lí
Mục tiêu của dạy học vật lí ở trường phổ thông là phải đảm bảo trang bị đầy
đủ cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, làm cho học sinh có thể
vận dụng những kiến thức đó để giải quyết nhiệm vụ học tập. Bài tập vật lí là một
trong những phương pháp được vận dụng có hiệu quả trong dạy học vật lí. Nó có tầm
quan trọng đặc biệt, góp phần hoàn thành nhiệm vụ dạy học vật lí ở phổ thông.
Có thể nói, việc giải các bài tập vật lí được xem như mục đích, là phương pháp
dạy học. Tùy thuộc vào những tình huống cụ thể, bài tập vật lí được sử dụng theo các
mục đích khác nhau.
- Bài tập vật lí có thể được sử dụng như là phương tiện nghiện cứu tài liệu mới khi
trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến
thức một cách sâu sắc và vững chắc
- Bài tập vật lí là một phương tiện để học sinh rèn luyện khả năng vận dụng kiến
thức, liên hệ lí thuyết với thực tế, học tập với đời sống.
- Bài tập vật lí là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc rèn luyện
tư duy, bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh.
- Bài tập vật lí là một phương tiện ôn tập, củng cố kiến thức đã học một cách sinh
động và có hiệu quả.
- Thông qua việc giải bài tập có thể rèn luyện cho học sinh những đức tính tốt
như tinh thần tự lập, tính cẩn thận, tính kiên trì, tinh thần vượt khó.

nông nghiệp về giao thông … là những bài tập có nội dung kĩ thuật tổng hợp.
Bài tập có nội dung lịch sử: đó là những bài tập chứa đựng những kiến thức có
đặc điểm lịch sử : những dữ liệu về các thí nghiệm vật lí , về những phát minh sáng chế
hoặc về những câu chuyện có tính chất lịch sử.
Ngoài ra, để phát triển và duy trì hứng thú học vật lí, người ta thường sử dụng
các bài tập vật lí vui làm cho bài học sinh động. Trong các bài tập như vậy các điều
kiện của bài tập thường chứa đựng các yếu tố nghịch lí hoặc gây trí tò mò ở học sinh.
1.2.3.2. Phân loại bài tập theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải
Theo đó, người ta sẽ phân ra thành các dạng: bài tập định tính, bài tập định
lượng, bài tập thí nghiệm, bài tập đồ thị, bài tập trắc nghiệm khách quan.
- Bài tập định tính: Có hai loại bài tập định tính là: Giải thích hiện tượng và dự
đoán hiện tượng.
12


+ Giải thích hiện tượng thực chất là cho biết một hiện tượng và lí giải xem vì
sao hiện tượng lại xảy ra như thế. Trong các bài tập này, bắt buộc phải thiết lập được
mối quan hệ giữa hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật hay với một số định
luật vật lí. Thực hiện phép suy luận logic luận ba đoạn trong đó tiền đề thứ nhất là một
đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí tổng quát, tiền đề thứ hai là những điều
kiện cụ thể, kết luận về hiện tượng được nêu ra.
- Bài tập định lượng (bài tập tính toán): Đó là các bài tập khi giải phải sử dụng
các phương pháp Toán học (dựa trên các định luật và quy tắc, thuyết Vật lí). Đây là
dạng bài tập sử dụng rộng rãi, thường được soạn thảo cho chương trình Vật lí phổ
thông. Dạng bài tập này có ưu điểm lớn là làm sâu sắc các kiến thức của học sinh, rèn
luyện cho học sinh vận dụng phương pháp nhận thức đặc thù của Vật lí đặc biệt
phương pháp suy luận Toán học. Tuỳ theo phương pháp toán học được vận dụng, bài
tập được quy về các bài tập số học, đại số và hình học.
- Phương pháp số học: Phương pháp giải chủ yếu là phương pháp số học, tác
động lên các con số hoặc các biểu diễn chữ, không cần thành lập phương trình để tìm

trung gian, học sinh chú ý hơn tới bản chất Vật lí và mối liên hệ giữa các đại lượng và
hiện tượng. Phương pháp tổng hợp giống như phương pháp " thử " và " sai " nên gần
với tư duy trực quan, cụ thể của học sinh. Trong khi phương pháp phân tích đòi hỏi cao
hơn về mức độ tư duy logic và chuẩn bị Toán học. Vì vậy căn cứ vào đối tượng học
sinh, mục đích dạy học, giáo viên nên sử dụng hợp lí các phương pháp này. Trong
những bài tập tính toán tổng hợp, khi xây dựng lập luận có thể phối hợp hai phương
pháp.
- Bài tập thí nghiệm: là loại bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm
chứng lời giải bằng lí thuyết hoặc tìm những số liệu cần thiết cho bài tập. Bài tập thí
nghiệm có nhiều tác dụng về mặt giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, đặc biệt làm
sáng tỏ mối quan hệ giữa lí luận và thực tiễn: trong các bài tập thí nghiệm thì thí
nghiệm chỉ cho các số liệu để giải bài tập, chứ không cho biết tại sao hiện tượng lại xảy
ra như thế, cho nên phần vận dụng các định luật vật lí để lí giải các hiện tượng mới là
nội dung chính của bài tập thí nghiệm.
- Bài tập đồ thị: là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải
phải tìm trong đồ thị đã cho trước hoặc từ các thông tin đã cho, vẽ đồ thị mô tả mối
tương quan giữa hai đại lượng vật lí nào đó.
- Bài tập trắc nghiệm khách quan: bài tập dạng trắc nghiệm khách quan
thường dùng để học sinh luyện tập, tự kiểm tra kiến thức của bản thân. Đồng thời, nó
là phương tiện kiểm tra kiến thức của người học trong phạm vi rộng, số lượng người
được kiểm tra nhiều, kết quả thu được khách quan không phụ thuộc người chấm. Bài
tập dạng này yêu cầu học sinh phải nhớ, hiểu và vận dụng đồng thời rất nhiều các kiến
thức liên quan.
1.2.3.3. Phân loại bài tập theo yêu cầu luyện tập kĩ năng, phát triển tư duy trong quá
trình dạy học.
- Bài tập luyện tập: là loại bài tập dùng để rèn luyện cho học sinh áp dụng
được những kiến thức xác định để giải từng bài tập theo mẫu xác định. Ở đó không
đòi hỏi học sinh phải tư duy sáng tạo mà chủ yếu để cho học sinh luyện tập, có kỹ
năng giải đối với một loại bài tập đã được chỉ dẫn.
- Bài tập sáng tạo: là loại bài tập để phát triển tư duy sáng tạo của học

- Để giải bài tập này, cần xác lập những mối liên hệ cơ bản nào?
- Sự xác lập những mối liên hệ cơ bản cụ thể này dựa trên sự vận dụng
những kiến thức gì? Vào điều kiện cụ thể gì của bài tập.
Trả lời được những câu hỏi đó còn giúp giáo viên có sự định hướng trong
phương pháp dạy học về bài tập một cách đúng đắn, hiệu quả.
1.2.6. Phương pháp giải bài tập Vật lí
Đối với học sinh phổ thông, vấn đề giải và sửa bài tập gặp không ít khó khăn vì
học sinh thường không có kiến thức lý thuyết chắc chắn và kĩ năng vận dụng kiến
thức Vật lí còn hạn chế. Vì vậy các em giải một cách mò mẫm, không có định hướng
rõ ràng, áp dụng công thức máy móc và nhiều khi không giải được. Có nhiều
nguyên nhân:
15


- Học sinh chưa có phương pháp khoa học để giải bài tập Vật lí.
- Chưa xác định được mục đích của việc giải bài tập là xem xét, phân tích
các hiện tượng Vật lí để đi đến bản chất Vật lí.
Việc rèn luyện cho học sinh biết cách giải bài tập một cách khoa học, đảm bảo
đi đến kết quả một cách chính xác là một việc rất cần thiết. Nó không những giúp học
sinh có kiến thức lý thuyết chắc chắn mà còn rèn luyện kĩ năng suy luận logic, làm
việc một cách khoa học, có kế hoạch.
Quá trình giải một bài tập Vật lí thực chất là quá trình tìm hiểu điều kiện của bài
tập, xem xét hiện tượng Vật lí, xác lập được những mối liên hệ cụ thể dựa trên sự vận
dụng kiến thức Vật lí vào điều kiện cụ thể của bài tập đã cho. Từ đó tính
toán những mối liên hệ đã xác lập được để dẫn đến lời giải và kết luận chính xác.
Bài tập Vật lí rất đa dạng, cho nên phương pháp giải cũng rất phong phú. Vì
vậy không thể chỉ ra được một phương pháp nào cụ thể mà có thể áp dụng để giải được
tất cả các loại bài tập. Song trong thực tế người ta cũng thừa nhận một quan
điểm chung về quá trình giải một bài tập Vật lí có thể trải qua các bước chính sau:
Bước 1. Tìm hiểu đề bài - Đọc

1.2.7. Hướng dẫn hoạt động giải bài tập Vật lí
1.2.7.1.Những công việc cần làm để hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí cụ thể
- Giải bài tập đó theo phương pháp giải bài tập vật lí một cách tỉ mỉ.Tìm các
cách giải bài tập đó (nếu có).
- Xác định mục đích sử dụng bài tập này.
- Xác định những kiến thức áp dụng để giải bài tập.
- Phát hiện được những khó khăn mà học sinh có thể gặp khi giải bài tập. Soạn câu hỏi hướng dẫn học sinh vượt qua khó khăn.
Để việc hướng dẫn giải bài tập cho học sinh có hiệu quả, ngoài việc giáo viên phải
giải được bài tập đó còn cần xuất phát từ mục đích sư phạm để xác định kiểu hướng
dẫn cho phù hợp. Theo đó, tùy theo mục đích sư phạm mà người ta vận dụng các kiểu
hướng dẫn khác nhau trong hướng dẫn giải bài tập vật lí.
1.2.7.2.Các kiểu hướng dẫn học sinh giải bài tập vật lí
* Hướng dẫn theo mẫu (hướng dẫn Angorit)
Sự hướng dẫn hành động theo mẫu sẵn có thường gọi là hướng dẫn angôrit.
Hướng dẫn angorit là sự hướng dẫn chỉ rõ cho học sinh những hành động cụ thể cần thực
hiện và trình tự thực hiện các hành động đó để đạt được các kết quả như mong muốn.
Những hành động sơ cấp phải được học sinh hiểu một cách đơn giá và học sinh đã
nắm vững. Kiểu hướng dẫn angorit không đòi hỏi học sinh phải tự mình tìm tòi xác
định các hành động cần thực hiện để giải quyết vấn đề đặt ra mà chỉ đòi hỏi học sinh
chấp hành các hành động đã được giáo viên chỉ ra, căn cứ theo đó học sinh sẽ đạt được
kết quả, sẽ giải được bài tập đã cho.
Kiểu hướng dẫn angorit đòi hỏi giáo viên phải phân tích một cách khoa học
việc giải bài tập để xác định được một trình tự chính xác chặt chẽ của các hành động
cần thực hiện để giải được bài tập và đảm bảo cho các hành động đó là những hành
động sơ cấp đối với học sinh. Nghĩa là, kiểu hướng dẫn này đòi hỏi phải xác định
angorit giải bài tập. Kiểu hướng dẫn angorit thường được áp dụng khi cần dạy cho học
sinh phương pháp giải một lớp các bài tập điển hình nào đó, nhằm luyện tập cho học
sinh các kĩ năng giải một bài tập vật lí xác định. Người ta xây dựng các

17

phương pháp này không thể áp dụng cho toàn bộ đối tượng học sinh do chất lượng
học sinh là khác nhau.
* Định hướng khái quát chương trình hóa
Định hướng khái quát chương trình hóa cũng là sự hướng dẫn cho học sinh
tự tìm tòi cách giải quyết, chứ không thông báo ngay cho học sinh cái có sẵn. Nét đặc
trưng của kiểu hướng dẫn này là, giáo viên định hướng hoạt động tư duy của học sinh
theo đường lối khái quát của việc giải quyết vấn đề. Sự định hướng ban đầu đòi hỏi
sự tự lực tìm tòi giải quyết của học sinh. Nếu học sinh không đáp ứng
18


được thì sự giúp đỡ tiếp theo của giáo viên là sự phát triển định hướng khái quát
hóa ban đầu, cụ thể hóa thêm một bước bằng cách gợi ý thêm cho học sinh, để thu hẹp
hơn phạm vi phải tìm tòi, giải quyết cho vừa sức với học sinh. Nếu học sinh vẫn
không đủ khả năng tự lực tìm tòi giải quyết thì sự hướng dẫn của giáo viên chuyển dần
thành hướng dẫn theo mẫu để đảm bảo cho học sinh hoàn thành được yêu cầu của
một bước, sau đó tiếp tục yêu cầu học sinh tự lực tìm tòi giải quyết các bước tiếp
theo. Nếu cần thì giáo viên lại giúp đỡ thêm. Cứ như vậy cho đến khi giải quyết xong
vấn đề đặt ra. Phương pháp hướng dẫn này được áp dụng khi có điều kiện hướng dẫn tiến
trình hoạt động giải bài tập của học sinh, nhằm giúp cho học sinh tự giải được bài tập đã
cho, đồng thời dạy cho học sinh cách suy nghĩ trong quá trình dạy giải bài tập.
Ưu điểm: Kết hợp được việc thực hiện các yêu cầu: rèn luyện tư duy của
học sinh trong quá trình giải bài tập và đảm bảo cho học sinh giải được bài tập đã
cho. Sự hướng dẫn như vậy đòi hỏi giáo viên theo sát tiến trình hoạt động giải bài tập
của học sinh, không thể chỉ dựa vào những lời hướng dẫn có thể soạn sẵn, mà phải kết
hợp được việc định hướng với việc kiểm tra kết quả hoạt động của học sinh để điều chỉnh
sự giúp đỡ, thích ứng với trình độ của học sinh.
Nhược điểm: Để làm tốt được sự hướng dẫn này phụ thuộc vào trình độ và khả
năng sư phạm của người giáo viên. Đôi khi người giáo viên dễ sa vào làm thay cho
học sinh trong từng bước định hướng. Do vậy, câu hỏi định hướng của giáo viên phải

- Biến đổi mức độ yêu cầu của bài tập với các đối tượng học sinh khác nhau như
mức độ trừu tượng của đề bài, loại vấn đề cần giải quyết, phạm vi, tính phức tạp của
các số liệu cần xử lí, số lượng các thao tác tư duy logic và các phép biến đổi Toán học
phải sử dụng, phạm vi và mức độ kiến thức, kĩ năng cần huy động; biến đổi mức độ
yêu cầu về số lượng bài tập cần giải, về mức độ tự lực của học sinh trong quá trình
giải bài tập.
- Chú ý thích đáng về số lượng và nội dung các bài tập nhằm giúp học sinh vượt
qua những khó khăn chủ yếu, khắc phục những sai lầm phổ biến.
1.2.8.2. Sử dụng hệ thống bài tập vật lí
Trong dạy học, người giáo viên phải cần dự tính kế hoạch về việc sử dụng bài tập
Vật lí trong dạy học, với từng đề tài, từng tiết học. Trước tiên cần xác định mục
đích sử dụng bài tập. Các mục đích có thể là
+ Dùng bài tập để củng cố, bổ sung, hoàn thiện những kiến thức lí thuyết đã học.
+ Dùng bài tập làm xuất hiện vấn đề trong các tiết nghiên cứu tài liệu mới. +
Dùng bài tập hình thành kiến thức mới.
+ Lựa chọn bài tập điển hình nhằm hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã
học để giải, từ đó hình thành phương pháp giải chung cho mỗi loại bài tập đó.
+ Dùng bài tập để kiểm tra, đánh giá chất lượng kiến thức của học sinh.
Sắp xếp các bài tập đã chọn thành một hệ thống, định rõ kế hoạch và mục đích sử dụng
trong tiến trình dạy học
1.2.9. Mối quan hệ giữa hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập với học sinh giỏi
và học sinh có năng khiếu Vật lí.
Hệ thống bài tập và hướng dẫn giải bài tập Vật lí giúp HS hiểu rõ và sâu sắc
kiến thức Vật lí. Hệ thống nâng cao tư duy của HSG và HS năng khiếu Vật lí. Hệ
thống tạo lập một hệ kiến thức có sự liên hệ chặt chẽ với nhau. Để hiểu rõ mối liên

20


hệ này ta xét ưu và nhược điểm của hệ thống bài tập và hệ thống hướng dẫn giải bài

công đoàn… đó là một thực tế do ban giám hiệu lúc nào cũng muốn giao công tác cho những
giáo viên tốt, giỏi, có uy tín. Chính vì lý do đó, việc đầu tư cho công tác bồi dưỡng
HSG cũng có phần bị hạn chế. Một số khó khăn khác đôi khi gặp phải là có giáo viên
giỏi nhưng không gắn bó với công tác bồi dưỡng HSG vì nhiều lý do khác nhau. Việc
giáo viên dạy bồi dưỡng phải trên cơ sở tình nguyện chứ không thể áp đặt hoặc dùng
biện pháp hành chính; đối tượng học sinh
21


tất nhiên phải "đạt yêu cầu" mới được chọn để bồi dưỡng. Cho nên việc chọn lựa
cần đúng đối tượng. Đó là công việc phát hiện rồi chọn lọc và phân loại.
1.3.2.1. Thuận lợi
Giáo viên khi giảng dạy bải tập Vật lí cho HSG đã giúp các em có tư duy và
trình độ học vấn được nâng cao. Bài tập Vật lí giúp HSG tăng cường sự sáng tạo
trong mỗi bài học Vật lí từ đó củng cố kiến thức và phát huy năng khiếu Vật lí, đồng
thời nâng cao kiến thức cho GV.
Các thầy cô đã có sử dụng hệ thống các bài tập hay và khó. Các thầy cô đã sử
dụng các biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi mới và có hiệu quả.
Học sinh khi tham gia giải bài tập Vật lí hăng say và có niềm yêu thích môn
học, niềm khao khát được khám phá các hiện tượng Vật lí mới. Ở đó khả năng tiếp thu
kiến thức tự nhiên được khơi dậy làm cho kiến thức trở thành dụng cụ không thể thiếu
trong cuộc sống cũng như trong học tập.
1.3.2.2. Khó khăn
Giáo viên khi giảng dạy những bài tập cho học sinh giỏi mà sao nhãng đi một
phần đó là nhân cách sống của học sinh. Mặt khác khi giáo viên tiếp xúc với các em
học sinh kém hơn sẽ dẫn đến khó khăn trong sự chuyển đổi phương pháp. Các
phương pháp áp dụng cho học sinh giỏi lại không thể áp dụng được cho các em học
sinh phổ thông.
Học sinh chỉ chú trọng vào những vấn đề khó mà sao nhãng đi việc rèn luyện
những bài dễ và nhân cách sống. Khi bước ra ngoài đời sống hàng ngày các em sẽ bị

bài tập thành hệ thống có logic phù hợp với khả năng tiếp nhận kiến thức của riêng
mình. Học sinh phải biết phát triển những kiến thức từ những kiến thức hiện có, điều
khiển kiến thức trong quá trình học một cách liên tục và khoa học. Biết xây dựng kiến
thức mới trên nền kiến thức cũ.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status