ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN VĂN MÃO
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN HOẠT ĐỘNG GIẢI BÀI TẬP
CHƯƠNG “DAO ĐỘNG CƠ HỌC” – NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI CHUYÊN
VẬT LÝ LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM VẬT LÝ HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS.
Nguyễn Quang Báu. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy. Xin trân
trọng cảm ơn thầy đã nhiệt tình hướng dẫn em trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn Phòng đào tạo trường Đại học Giáo dục –
Đại Học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình
học tập và làm luận văn tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn các giảng viên trường Đại học Giáo dục và
thầy cô trong khoa Vật lý Đại học KHTN Hà Nội cùng các thầy cô trong khoa
Vật lý Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và đóng góp
nhiều ý kiến quý báu về mặt chuyên môn và phương pháp cho em trong quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu cùng các đồng nghiệp trường
THPT C Hải Hậu – Nam Định đã giúp đỡ và trao đổi chuyên môn trong quá
trình tôi học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Vật lý trường
THPT Chuyên Nguyễn Trãi – Hải Dương cùng các em học sinh yêu quý đã
tạo điều kiện giúp đỡ và cộng tác với tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm
và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 21 tháng 11 năm 2014
Học viên
Nguyễn Văn Mão ii iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục các sơ đồ hình vẽ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY GIẢI BÀI
TẬP VẬT LÝ PHỔ THÔNG NHẰM BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI 5
1.1. Vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi và phát huy năng khiếu Vật lý 5
1.1.1. Tầm quan trọng của giáo dục để phát triển của đât nước và vai trò
của người giáo viên trong việc bồi dưỡng nhân tài. 5
1.1.2. Tầm quan trọng của công tác phát hiện, đào tạo bồi dưỡng học sinh
giỏi nói chung 7
1.1.3. Học sinh giỏi Vật lý và chuyên Vật lý 8
1.1.3.1 Học sinh giỏi và học sinh giỏi vật lý 8
1.1.3.2 Học sinh chuyên vật lý 9
1.1.4. Rèn luyện trí thông minh và giáo dục học sinh giỏi. 10
1.1.5. Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi Vật lý 10
1.1.6. Một số biện pháp phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi và phát huy
năng khiếu Vật lý 12
1.1.6. 1. Tổ chức phát hiện và tuyển chọn đội học sinh giỏi 13
1.1.6. 2. Tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi 13
1.1.6.3. Biện pháp phát huy hành vi hứng thú học tập môn Vật lý cho học
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN
HOẠT ĐỘNG GIẢI BÀI TẬP CHƯƠNG DAO ĐỘNG ĐIỀU HÒA –
VẬT LÝ 12 33
2.1. Nội dung kiến thức chương Dao đông điều hòa 33
2.1.1. Cấu trúc nội dung chương Dao động điều hòa 33
2.1.2. Phân tích sơ lược nội dung chương Dao Động Điều Hòa. 34
2.1.2.1. Con lắc lò xo. 34
2.1.2.2. Con lắc đơn. 35
2.2. Mục tiêu chương Dao động điều hòa: 35
2.2.1. Kiến thức: 35
2.2.2. Kỹ năng: 36
2.3. Phương pháp xây dựng và hướng dẫn giải hệ thống bài tập chương Dao
động điều hòa. 37
v
2.3.1. Phương pháp xây dựng hệ thống bài tập chương Dao động điều hòa.
37
2.3.2. Phương pháp hướng dẫn giải bài tập chương Dao động điều hòa. 37
2.4. Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý và hướng dẫn hoạt động giải chương
Dao động điều hòa. 39
2.4.1. Bài tập có hướng dẫn giải: 39
2.4.2. Bài tập tự giải có lời giải: 65
2.4.3. Bài tập tự giải: 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 77
CHƯƠNG III:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 79
3.1. Mục đích, đối tượng và phương pháp thực nghiệm sư phạm. 79
3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm. 79
3.1.2. Đối tượng và phương pháp của thực nghiệm sư phạm. 79
Hình ảnh về lớp TNSP 98
dụng, đào sâu và mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú
mà còn thông qua đó để ôn tập, rèn luyện một số kỹ năng cần thiết về Vật lý,
rèn luyện tính tích cực, tự lực, trí thông minh sáng tạo cho học sinh, giúp học
sinh hứng thú trong học tập. Cũng thông qua bài tập Vật lý giáo viên kiểm tra,
đánh giá việc nắm vững kiến thức và kỹ năng Vật lý của học sinh.
Ngoài ra giáo viên phải luôn tìm tòi ,học hỏi để luôn luôn có sự thay đổi
và hoàn thiện hệ thống kiến thức và bài tập nâng cao góp phần cho việc đào
tao nhân tài và phát triển tư duy cho học sinh.
Trong các lớp chuyên Vật lý THPT của nước ta hiện nay, học sinh được
luyện nhiều bài tập khó dẫn đến quen, còn nặng về tính toán đôi khi chưa phát
2
huy được óc quan sát, khả năng phát hiện vấn đề. Việc thực hiện mục tiêu
phát hiện, bồi dưỡng và phát triển học sinh năng khiếu chưa được đầy đủ.
Vì các lí do trên nên tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu "Xây dựng hệ
thống bài tập và hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương “Dao động cơ
học” – nhằm bồi dưỡng học sinh giỏi chuyên vật lý" như là một hướng đi
thích hợp, hữu ích cho giáo viên trong việc giảng dạy ở các lớp chuyên Vật lý
THPT hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu
Có nhiều công trình nghiên cứu khác đề cập đến hệ thống bài tập
chương Dao động cơ học, nhưng các công trình đó với mục đích chủ yếu là
trình bày các dạng toán để luyện thi tốt nghiệp và luyện thi đại học, chưa quan
tâm đến học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia và phát huy năng khiếu ở khối
chuyên.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Vận dụng lý luận hiện đại, xây dựng hệ thống bài tập và hướng dẫn hoạt
động giải bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý 12 nhằm bồi dưỡng học
sinh giỏi THPT và phát huy các năng lực cần thiết cho học sinh khối chuyên.
Nghiên cứu cho học sinh học môn Vật lý ở khối chuyên Vật lý 12
THPT.
8. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lý luận về vai trò, tác dụng, phương pháp giải bài tập Vật lý.
- Tìm hiểu đặc điểm, năng lực của học sinh giỏi, học sinh chuyên Vật lý
THPT.
- Tìm hiểu các dạng bài tập và phân loại bài tập có kiến thức khó về mặt
Vật lý hay khó về mặt toán học.
- Các bài tập đưa ra không những bồi dưỡng kiến thức cho học sinh giỏi
mà còn phải phát huy năng lực sáng tạo cho học sinh khối chuyên.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương Dao động cơ học – Vật lý 12
THPT.
- Lựa chọn, xây dựng hệ thống bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý
12 THPT.
4
- Định hướng, xây dựng phương pháp giải bài tập và hướng dẫn hoạt
động giải bài tập chương Dao động cơ học – Vật lý 12 THPT.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá ưu điểm, nhược điểm, tính hiệu quả
và việc phát huy năng lực cho học sinh của hệ thống bài tập và phương pháp
hướng dẫn hoạt động giải bài tập chương Dao động cơ học .
9. Các bước nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tham khảo sách báo, tạp chí
chuyên ngành, các đề chọn học sinh giỏi cấp quốc gia hằng năm sưu tầm tài
liệu về bài tập Vật lý – vai trò của bài tập Vật lý trong dạy học.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp thực nghiệm, phương
pháp điều tra
- Phương pháp thống kê toán học.
10. Cấu trúc luận văn
động lực. Nếu biết kết hợp đúng đắn lao động và đất đai thì của cải sẽ sinh
sôi, nảy nở. Chính vì vậy mà nhà kinh tế học Adam Smit đã nhận định: “Đất
là mẹ, lao động là cha”. Đến thời kỳ cách mạng công nghiệp, lao động, vốn,
kĩ thuật và phương pháp quản lí được xem là những yếu tố chủ chốt của tăng
trưởng kinh tế. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiện đại với sự tiến đến nền văn minh trí tuệ, đến các “xã hội thông tin”, trong
đó “thông tin” trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của mọi quốc gia, việc
“tin học hoá” tạo nên những chuyển biến nhanh chóng về lượng cũng như về
chất của nền kinh tế thế giới, thì con người được vũ trang bằng những tri thức
hiện đại sẽ là động lực cơ bản của sự phát triển.
Ngày nay, khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực
và sức mạnh của một quốc gia, thì các nước trên thế giới đều ý thức được
rằng giáo dục không chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy quan trọng
6
để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Các nước chậm tiến muốn phát triển
nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho giáo dục chính là đầu
tư cho phát triển. Chỉ có một chiến lược phát triển con người đúng đắn mới
giúp các nước thuộc thế giới thứ ba thoát khỏi sự nô lệ mới về kinh tế và công
nghệ. Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đã nói nhân dịp khai giảng năm học 1995 -
1996: “Con người là nguồn lực quý báu nhất, đồng thời là mục tiêu cao cả
nhất. Tất cả do con người và vì hạnh phúc của con người, trong đó trí tuệ là
nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia. Vì vậy, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
và trọng dụng nhân tài là vấn đề có tầm chiến lược, là yếu tố quyết định tương
lai của đất nước”. Do vậy, giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt tử đối với mỗi
quốc gia.
Trong giáo dục, vấn đề nổi lên hàng đầu là giáo viên. Giáo viên là nhân
tố quyết định chất lượng của giáo dục. Ở đây vấn đề giáo viên được đặt ra
dưới góc độ năng lực, phẩm chất, điều kiện sống, điều kiện làm việc, quan
Thực tiễn trong nhiều năm qua cho thấy, ngành Giáo dục và Đào tạo
nước ta đã có những chủ trương nâng cao dân chí bồi dưỡng nhân tài là quan
trọng hang đầu, biện pháp quan trọng nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài và
đến nay đã thu được những kết quả nhất định. Hàng năm, số học sinh năm
cuối của các trường THPT khối năng khiếu thi đỗ đại học với tỷ lệ đạt khoảng
trên 80%
[2, tr.9].
Khối trường, lớp chuyên đã có những đóng góp to lớn trong
việc phát hiện bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất
nước, đồng thời góp phần tích cực nâng cao chất lượng và thành tích các kỳ
thi học sinh giỏi Quốc gia, các kỳ thi Olympic Quốc tế. Số học sinh đạt giải
trong các kỳ thi học sinh giỏi Quốc Gia, Quốc tế ngày càng tăng.
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một công tác mũi nhọn trong việc
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhà trường nói riêng,
cho địa phương và cho nước nhà nói chung. Bồi dưỡng HSG là một công
việc khó khăn và lâu dài, đòi hỏi nhiều công sức của thầy và trò.
Tại đại hội Đảng toàn quốc lần VIII và IX Đảng ta đều xác định và nhấn
mạnh: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu là một trong những động lực quan
trọng tạo sự chuyển biến toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo”
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về giáo dục - đào tạo, thực hiện
chiến lược phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục đang
8
tích cực từng bước đổi mới nội dung chương trình đổi mới phương pháp dạy
học, đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới công tác quản lý giáo dục nâng
cao chất lượng quản lý dạy bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo, nhằm hoàn thành mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Cũng trong nghị quyết TW II khoá VIII đã
nêu những giải pháp phát triển giáo dục cùng với việc cải tiến các vấn đề về
+ Có năng lực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo, phát hiện được mối liên hệ
khăng khít giữa những sự kiện đã có trong thực nghiệm, trong bài tập hoặc
trong thực tế sản xuất, đời sống để tìm ra phương pháp đúng, hợp lí, độc đáo
để giải quyết vấn đề đặt ra.
+ Do đó một học sinh học giỏi vật lý sẽ nắm được kiến thức cơ bản về
vật lý một cách chính xác, hành động tự giác: hiểu, nhớ, vận dụng tốt những
kiến thức đó trong học tập và đời sống.
1.1.3.2 Học sinh chuyên vật lý
Học sinh được tuyển chọn vào các trương THPT chuyên hầu hết là các
học sinh có trí thông minh, ham học hỏi, tích cực và chủ động trong quá trình
học tập nghiên cứu và kém theo năng khiếu. Học sinh năng khiếu có ưu thế
về khả năng trực giác. Vì vậy nếu một học sinh năng khiếu được học tập một
cách hệ thống chu đáo, thì anh ta sẽ trở thành học sinh xuất sắc trong lĩnh vực
đó và làm bước đầu của tài năng.
Mục tiêu của cá trương THPT chuyên là phải phát hiện những học sinh
có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập và phát triển năng
khiếu của các em về một số môn học trên cơ sở đảm bảo giáo dục phổ thông
toàn diện; giáo dục các em thành người có lòng yêu nước, tinh thần vượt khó,
tự hào, tự tôn dân tộc; có khả năng tự học, nghiên cứu khoa học và sáng tạo;
có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước. Nghiên cứu vận dụng phù hợp, hiệu quả các phương pháp quản lý, dạy
học, kiểm tra đánh giá tiên tiến; tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục giá
trị sống, kỹ năng sống và kỹ năng hoạt động xã hội của học sinh; tạo điều kiện
cho học sinh nghiên cứu khoa học, sáng tạo kỹ thuật, vận dụng kiến thức vào
10
giải quyết những vấn đề thực tiễn và sử dụng ngoại ngữ trong học tập, giao
tiếp.
1.1.4. Rèn luyện trí thông minh và giáo dục học sinh giỏi.
dạng sơ khai.
- Năng lực suy luận logic:
Biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng.
Biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật hiện tượng.
Biết cách tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết.
Biết xét đủ các điều kiện cần thiết để đạt được kết luận mong muốn.
Biết xây dựng các ví dụ để loại bỏ một số miền tìm kiếm vô ích.
Biết quay lại điểm vừa xuất phát để tìm đường đi mới.
- Năng lực đặc biệt:
Biết diễn đạt chính xác điều mình muốn.
Sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu, các qui ước để diễn tả vấn đề.
Biết phân biệt thành thạo các kĩ năng đọc, viết và nói.
Biết thu gọn các vấn đề và trật tự hóa các vấn đề để dùng khái niệm
trước mô tả cho các khái niệm sau.
- Năng lực lao động sáng tạo:
Biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy các hoạt động
nhằm đạt kết quả mong muốn.
- Năng lực kiểm chứng:
Biết suy xét sự đúng sai từ một loạt sự kiện.
Biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một
đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra.
Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi
thực hiện một số lần kiểm nghiệm.
- Năng lực thực hành:
Vật lý là bộ môn khoa học thực nghiệm nên học sinh có năng khiếu vật
lý không chỉ có các năng lực trên mà cần có khả năng về thực nghiệm, năng
lực tiến hành các thực nghiệm vật lý:
Biết thực hiện dứt khoát một số động tác trong khi làm thí nghiệm.
12
13
giỏi của nhà trường. Đồng thời, phải được toàn thể cán bộ, giáo viên và học
sinh nắm vững.
1.1.6. 1. Tổ chức phát hiện và tuyển chọn đội học sinh giỏi
Việc phát hiện và tuyển chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi là một
trong những khâu rất quan trọng, quyết định phần lớn chất lượng của đội học
sinh giỏi. Tuy nhiên, khâu này đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, đòi hỏi năng lực
và tâm huyết của các thầy cô giáo.
Có thể thực hiện khâu này theo 3 bước:
Bước 1: Tập hợp các học sinh giỏi, kể cả một số em làm đơn xin dự thi
vào đội tuyển . Tổ chức kì thi chọn đội tuyển học sinh giỏi để khảo sát kiến
thức học sinh.Xem xét kết quả học tập ở những năm trước hoặc kết quả thi
tuyển đầu vào, lấy ý kiến của các giáo viên bộ môn.
Bước 2: Tiến hành kiểm tra những tố chất của học sinh năng khiếu:
Thông tuệ, sáng tạo, phẩm chất ưu việt thông qua thi trắc nghiệm.
Bước 3: Đo một số chỉ số sinh lý có liên quan đến học sinh năng khiếu
và xem xét phả hệ gia đình (nếu có điều kiện).
1.1.6.2. Tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi
Vai trò của người giáo viên trong công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh
giỏi là hết sức quan trọng. Giáo viên bồi dưỡng phải là một người thầy vừa
hồng vừa chuyên, hay nói cách khác phải đủ tâm, đủ tầm; phải có ý thức tích
cực trau dồi, tích lũy chuyên môn, đọc nhiều, hiểu sâu vấn đề mà mình dạy
học sinh theo phương châm biết mười dạy một.
“Có thể nói giáo viên bồi dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng
quyết định kết quả bồi dưỡng”
Việc tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi là một
trong những công việc quan trọng của nhà quản lý giáo dục.
Công việc này cần dựa trên các tiêu chí: Giáo viên có trình độ kiến thức
chuyên môn cao, được công nhận là giáo viên giỏi từ cấp trường trở lên; có
làm cho các em hiểu tầm quan trọng của môn học. Chúng ta phải giúp các em
hiểu rằng các thành tựu khoa học ngày nay có những đóng góp không nhỏ
của Vật lý. Nền văn minh mà nhân loại có được không thể thiếu những công
15
trình, những nghiên cứu khoa học của các nhà Vật lý vĩ đại như: Aristotle,
Ixac Newton, Kepler, Anbe Anhxtanh… Giáo viên nên giới thiệu và kể nhiều
về các câu chuyện liên quan đến môn vật lý, bởi khi đó sẽ kích thích tính tò
mò muốn tìm hiểu của các em, khuyến khích các em tìm đọc nhiều hơn tài
liệu môn vật lý. Từ đó cho các em hiểu rằng môn Vật Lý không phải môn
học khô khan và khó hiểu như các em nghĩ, mà nó là một môn học rất lý thú,
là một môn khoa học để khám phá thế giới và tầm ảnh hưởng của nó đến đời
sống là rất lớn.
Phải có sự động viên, giám sát, kiểm tra từ gia đình và thầy cô đối với
việc học và chuẩn bị bài của các em,điều đó giúp các em có thái độ học tâp
nghiêm túc hơn.
Ở lứa tuổi này các em có tâm lý rụt rè, không thích tạo sự chú ý nên các
em thường thụ động trong giờ học, ngại phát biểu vì cho rằng các bạn cùng
lớp sẽ nghĩ mình “chơi trội”, mình “thích thể hiện” , vì thế đa số các em chọn
phương án ngồi nghe giáo viên giảng một cách thụ động, không hề phát biểu
hay có một phản hồi nào khác dù hiểu hay chưa hiểu, từ đó tạo nên thói quen
không chịu suy nghĩ và làm cho giờ học không sôi nổi và hiệu quả, vì vậy
giáo viên cần thay đổi cách học đó của học sinh, tạo điều kiện cho các em
hoạt động nhiều hơn, suy nghĩ nhiều hơn, khuyến khích các em đặt câu hỏi
xây dựng bài học…
Nhà trường cần trang bị các thiết bị học tập giảng dạy hiện đại, các bộ thí
nghiệm như trong sách giáo khoa nêu ra để tự các em kiểm nghiệm lại những
gì mình được học từ lý thuyết, từ đó để các em hiểu rằng kiến thức vật lý là
được rút ra từ thực nghiệm. Các buổi thí nghiệm hay các giờ ngoại khóa chính
khái niệm thử nghiệm. Khái niệm kinh nghiệm thường nói về biết - như - thế -
nào hoặc kiến thức về cách thức, chứ không phải là kiến thức xác định. Kinh
nghiệm do được đào tạo tại nơi làm việc hơn là học tập theo sách vở. Người
có nhiềukinh nghiệm trong một lĩnh vực nhất định có thể được mang danh là
một chuyên gia.Sự phát triển các năng lực, hay như Mác nói “các lực lượng
bản chất” của con người, không phải là sự bộc lộ của các phẩm chất tâm lí nội
tại vốn có ở trong con người, mà là quá trình chủ thể (có thể dưới sự hướng
dẫn của người khác) tự tạo ra các cấu tạo mới. Muốn có các cấu tạo ấy chủ thể