LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Phòng Đào tạo – Trường đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
Bộ môn quản lý môi trường
Hội đồng chấm đồ án tốt nghiệp
Tên em là: Vũ Thị Hằng - Sinh viên chuyên nghành quản lý môi trường trường
đại học Tài nguyên và môi trường Hà Nội
Em xin cam đoan đã thực hiện quá trình làm đồ án một cách khoa học và
chính xác, trung thực.
Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn đều có thật, thu được trong quá trình ng
hiên cứu và chưa từng được công bố trong bất kỳ một tài liệu khoa học nào.
Bắc Ninh , ngày 31 tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Vũ Thị Hằng
1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường Đại học Tài nguyên và
Môi trường Hà Nội, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và
bạn bè xung quanh.
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý thầy cô ở khoa Môi trường –
trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã cùng với tri thức và tâm huyết
của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tại
đây. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá
trình nghiên cứu đồ án tốt nghiệp mà còn là hành trang quý báu giúp ích cho công việc
của em sau này để em thành công hơn trong cuộc sống
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô
TS.Nguyễn Thị Hồng Hạnh người đã tận tâm hướng dẫn em trong suốt quá trình viết
và hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
: Chỉ thị
: Thông tư
: Chính phủ
: Nghị quyết
: Nghị định
: Trung ương
: Ban chấp hành
: Thông tư liên tịch
: Ủy ban nhân dân
: Bảo vệ thực vật
: Bảo vệ môi trường
3
MỤC LỤC
4
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
quan trọng của mô hình này là tập trung vào sự tham gia của cộng đồng và lồng ghép
các hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức cộng đồng trong tất cả các giai đoạn
của dự án Hương ước, quy ước gồm những quy định cụ thể về vệ sinh nơi ở và những
khu vực chung, quản lý rác thải, sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón và chất kích thích
cây trồng, đồng thời quy định về việc bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học.
Vì vậy trong báo cáo đồ án tốt nghiệp em đã chọn đề tài “Xây dựng mô hình
hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham gia của cộng đồng tại Thị
Trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được mô hình hương ước, quy ước bảo vệ môi trường với sự tham
gia của cộng đồng nhằm thực hiện công tác xã hội hóa từ cấp trung ương đến địa
phương tại Thị trấn Thứa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh.
3. Nội dung nghiên cứu
- Hiện trạng môi trường tại thị trấn Thứa, Lương Tài, Bắc Ninh.
- Hiện trạng về công tác quản lý môi trường tại thị trấn Thứa.
- Bản hương ước, quy ước BVMT với sự tham gia của cộng đồng tại thị trấn
Thứa.
7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Thị Trấn Thứa
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
Thị trấn Thứa Theo NĐ SỐ 42/1998/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 1998 thành
lập thị trấn Thứa, thị trấn huyện lỵ huyện Gia Lương trên cơ sở toàn bộ diện tích và
dân số của xã Phá Lãng cùng huyện. Ngày 11 tháng 8 năm 1999, Chính phủ ban hành
nhiệt độ hạ thấp xuống dưới 10 oC. Có những năm hết hạn hán kéo dài lại đến bão
lụt xảy ra đã ảnh hưởng xấu đến trồng trọt và chăn nuôi.
Nhìn chung Thị trấn Thứa có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp đa dạng và phong phú. Mùa đông lạnh khô làm cho vụ đông trở thành vụ chính
có thể trồng nhiều loại rau màu ngắn ngày có giá trị kinh tế cao. Hạn chế lớn nhất đối
với sử dụng đất là mưa lớn tập trung, gây ra ngập úng các khu vực trũng và thấp, uy
hiếp hệ thống đê điều thuỷ lợi gây khó khăn cho việc canh tác thâm canh tăng vụ mở
rộng diện tích.
-
Thuỷ văn
Thị trấn có sông chính là sông Thứa, sông Bùi, sông Đồng Khởi ngoài ra còn có
hệ thống kênh mương nội đồng. Đây là nguồn nước tốt để cung cấp cho sản xuất nông
nghiệp. Diện tích được tưới tiêu chủ động là 90% diện tích đất canh tác. Nhưng điều
này cũng gây trở ngại lớn cho việc canh tác vào mùa mưa.
9
Các nguồn tài nguyên
• Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn Thị trấn là 714,57 ha trong đó đất nông nghiệp là
484,17 ha, đất sản xuất nông nghiệp là 404,14 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản là 80,03 ha.
Đất đai Thị trấn Thứa có nguồn gốc là loại đất Phù sa cổ glây của hệ thống sông Thái
Bình không được bồi đắp hàng năm, thành phần cơ giới từ thịt nặng đến thịt trung
bình. Độ dày tầng canh tác từ 30 - 50cm.
Các yếu tố dinh dưỡng:
+ Mùn: hàm lượng từ trung bình đến giàu nhưng đất thành phần cơ giới nặng
gây khó khăn cho việc hấp thụ của cây trồng.
+ Kali: Hàm lượng Kali trao đổi và dễ tiêu nằm ở mức nghèo và rất nghèo.
cation kiềm trao đổi thấp, tổng lượng canxi và magiee khoảng 9 meq/ 100g đất ở tầng
mặt.
Đất thích hợp với việc trồng 2 vụ lúa/năm. Để đảm bảo vừa nâng cao năng suất
cây trồng, đồng thời nâng cao độ phì cho đất cần tăng cường bón vôi để cải tạo độ
chua của đất.
• Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Thị trấn Thứa sử dụng nguồn nước mặt từ sông Lai, thông
qua hệ thống kênh mương để phục vụ sản xuất và sinh hoạt, lượng nước khá dồi dào.
Qua thực tế sử dụng cho thấy chất lượng nước mặt ở đây khá tốt, ít bị ô nhiễm.
- Nguồn nước ngầm: Thị trấn Thứa nằm trong vùng trầm tích Châu thổ sông
Hồng nên về mặt địa chất thủy văn mang rõ nét tính chất của vùng Châu thổ sông
Hồng. Nguồn nước ngầm hiện là nguồn chủ yếu được khai thác phục vụ cho sinh hoạt
và sản xuất. Hiện chưa có những nghiên cứu chi tiết về trữ lượng nước ngầm trong
vùng, nhưng qua thăm dò một số giếng nước trong khu dân cư cho thấy mực nước
ngầm nằm khá sâu (8 - 10m), chất lượng nước tốt phục vụ cho nhu cầu sản xuất và
sinh hoạt của nhân dân.
• Tài nguyên nhân văn
Nằm trong vùng văn hóa Kinh Bắc nói chung và huyện Lương Tài nói riêng,
đây là miền quê có lịch sử lâu đời người dân Thị trấn Thứa vẫn giữ gìn phát huy giá trị
văn hóa vốn có của mình. Hệ thống đình chùa thường ngày vẫn hoạt động và nhất là
những dịp lễ hội của Làng được tổ chức hàng năm nhằm nâng cao và phát huy hơn
nữa nét đẹp sinh hoạt văn hóa của nhân dân. Các dòng họ trong Làng thường xuyên
11
động viên, khuyến khích con em mình học tập tốt để phát huy truyền thống hiếu học
và khoa bảng của các bậc cha ông.
Thực trạng môi trường
Nói chung môi trường của thị trấn Thứa đang còn khá tốt do mật độ dân số còn
+ Diện tích
+ Năng suất
+ Sảnlượng
2. Lúa xuân
+ Diện tích
+ Năng suất
+ Sảnlượng
3. Lúa mùa
+ Diện tích
+ Năng suất
+ Sảnlượng
ĐVT
Năm 2005 Năm 2008 Năm 2010 Năm 2012 Năm 2015
Ha
Tấn/Ha
Tấn
790
55,5
4.385
763
56,5
4.312
744
57,0
388
67,2
2.608
Ha
Tấn/Ha
Tấn
405
52,3
2.120
380
52,7
2.002
380
55,2
2.096
390
54,1
2.111
369
57,5
2.123
b). Ngành chăn nuôi
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi đang có xu hướng giảm, do dịch bệnh
251
64
Năm 2010
Năm 2012
10
252
61
11
170
61
Năm
2015
8
133
65
(Nguồn số liệu: Niên giám thống kê huyện Lương Tài)
c). Thủy sản
Thủy sản được đầu tư phát triển, đã có nhiều mô hình VAC kết hợp theo hướng
trang trại, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Diện tích nuôi trồng được mở rộng, riêng
diện tích nuôi thả cá đã tăng từ 60 ha năm 2005 lên 65 ha năm 2015.
1.1.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp
Công nghiệp và xây dựng của thị trấn có bước phát triển nhưng còn chậm, quy
mô sản xuất nhỏ. Năm 2015 trên địa bàn thị trấn có 9 doanh nghiệp lớn, thu hút gần
500 lao động, hang chục cơ sở sản xuất nhỏ.
Xây Dựng Công Trình
Dân Dụng
Xây Dựng Công Trình
Lao động bình quân
(người)
Tổng số Tr.đó: Nữ
42
9
48
16
Dân Dụng
SX Thức Ăn Chăn Nuôi
Bán Lẻ Hoá Mỹ Phẩm
Bán Buôn Vật Liệu Xây
29
11
183
16
36
7
1
C.ty Minh Tâm
C.ty Hùng Cường
C.ty Huyền Nhung
14
1.1.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
Theo số liệu niên giám thống kê, năm 2015, thị trấn Thứa có 8.955 người, mật
độ bình quân dân số là 1.253 người/km. Trong giai đoạn 2005-2010, thị trấn có tốc độ
phát triển dân số thấp, năm 2010 - 2011 là 0,81%, cao nhất là năm 2013 là 1,23%, năm
2012 là 1,05% đến năm 2015 là 1,12%. Cấu trúc dân số thuộc loại trẻ, nên tiềm năng
lao động và khả năng sinh đẻ còn rất lớn.
Năm
Năm
Năm
Năm
Năm
Người
2005
8.511
2.608
2.644
2.689 2.752 2.798
1.230
1.221
1.233
1.239
1.248 1.221 1.253
4.441
4.439
4.497
4.526
4.601 5.059 5.123
Chỉ tiêu
ĐVT
với tổng diện tích là 714,57 ha, dân số 8.955 người. Trong những năm gần đây cùng
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, cơ sở hạ tầng, các công trình văn hóa, y tế,
giáo dục, phúc lợi được đầu tư. Chất lượng sống ở thị trấn ngày càng được nâng cao.
Đồng thời các hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn ngày
càng phát triển góp phần quan trọng và việc thúc đẩy kinh tế thương mại – dịch vụ của
huyện.
Tuy nhiên thị trấn vẫn chưa đạt chỉ tiêu đô thị loại IV. Quy mô đô thị còn nhỏ,
dân số chưa đông, khu vực trung tâm của thị trấn chủ yếu hình thành dọc theo các
tuyến tỉnh lộ. Dân cư không tập trung, cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, chưa theo quy
hoạch và không có thiết kế kiến trúc đồng bộ.
Ngoài ra các vấn đề xử lý rác thải đô thị, cấp thoát nước sinh hoạt cũng khá
bức xúc cần được đầu tư xây dựng.
Bên cạnh đó, dân cư đô thị của thị trấn ngoài khu vực dân cư mới, phần lớn dân
cư vẫn chủ yếu sống dựa vào sản xuất nông nghiệp với tập quán sinh hoạt mang nét
đặc trưng của dân cư nông thôn. Trong tương lai việc phát triển các khu đô thị, thương
mại dịch vụ, công trình công cộng vẫn tập trung chính ở khu vực này. Việc bố trí đất
đai ở đô thị cần phải được xem xét thật hợp lý nhằm tạo điều kiện phát triển cho đô thị
mà vẫn đảm bảo tiết kiệm đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái cảnh quan thiên nhiên.
1.1.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
1.1.5.1. Giao thông
* Giao thông đối ngoại: trên địa bàn có hai tuyến giao thông đối ngoại chính:
- Đường TL 280 đi Cẩm Giàng (7.5 km) là đường giao thông chính của Thị trấn
có chiều dài 1.5 km.
- Đường TL 281 đi Kênh Vàng đoạn qua Thị trấn dài 3 km.
- Đường tỉnh lộ 284 đoạn qua Thị trấn dài 0.5 km
* Giao thông đối nội:
- Các con đường liên xã liên thôn, đường ngõ xóm. Phần lớn đã được dải bê
tông và cấp khối.
16
Có thể nói cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giáo dục trên địa bàn Thị trấn đã
và đang được xây dựng khang trang để đáp ứng tốt cho sự nghiệp trồng người.
17
1.1.5.4. Y tế
Trên địa bàn đô thị có 1 bệnh viện đa khoa với diện tích là 1,2 ha vừa xây dựng
với cơ sở vật chất khang trang, hiện đại và 1 trung tâm y tế dự phòng và 1 trạm y tế
khu vực.
UBND Thị trấn thực hiện triệt để biện pháp bảo đảm giữ gìn vệ sinh phòng
chống dịch bệnh, thực hiện tốt và có hiệu quả các chương trình y tế cơ sở.
1.1.5.5. Văn hóa – thể thao
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho công tác văn hoá còn hạn chế nhưng vẫn
đảm bảo phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương và đáp ứng nhu cầu đời sống
tinh thần ngày càng cao của nhân dân. Văn nghệ quần chúng ngày càng đa dạng và
phong phú. Đặc biệt hoạt động văn nghệ quần chúng cấp huyện được duy trì và phát
triển. Thiết chế văn hoá cơ sở được tăng cường.
Phong trào thể dục thể thao quần chúng được duy trì và có bước phát triển mới
cả về chất và lượng. Số lượng người thường xuyên tập TDTT ngày càng tăng, đặc biệt
là hoạt động thể thao quần chúng (môn cầu lông) phát triển mạnh mẽ. Các cuộc thi đấu
gắn liền với các lễ hội truyền thống (môn vật truyền thống) tạo nên không khí sôi nổi
thi đua tập luyện, giao lưu đoàn kết.
Tuy nhiên cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ sự nghiệp văn hoá thể thao còn hạn
chế, đặc biệt là sân chơi thể thao ở các thôn cơ bản là chưa có hoặc có thì cũng xuống
cấp. Tương lai cần chú trọng nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật mở rộng quỹ đất đai đáp
ứng nhu cầu cho các hoạt động vui chơi giải trí của nhân dân ngày một cao.
1.1.5.6. Năng lượng
Nguồn năng lượng sử dụng hiện nay của thị trấn chủ yếu là điện năng. Hiện nay
100% số hộ trên địa bàn thị trấn có điện lưới quốc gia. Tuy nhiên chất lượng điện vẫn
trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống
chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có
hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các
cấp, các ngành và nhân dân đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và
sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ
đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt. Những kết quả đó đã tạo tiền đề tốt
cho công tác bảo vệ môi trường trong thời gian tới.
- Tuy nhiên, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có nơi, có lúc
đã đến mức báo động: đất đai bị xói mòn, thoái hoá; chất lượng các nguồn nước suy
giảm mạnh; không khí ở nhiều đô thị, khu dân cư bị ô nhiễm nặng; khối lượng phát
sinh và mức độ độc hại của chất thải ngày càng tăng; tài nguyên thiên nhiên trong
19
nhiều trường hợp bị khai thác quá mức, không có quy hoạch; đa dạng sinh học bị đe
doạ nghiêm trọng; điều kiện vệ sinh môi trường, cung cấp nước sạch ở nhiều nơi
không bảo đảm. Việc đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, quá trình đô thị hoá,
sự gia tăng dân số trong khi mật độ dân số đã quá cao, tình trạng đói nghèo chưa được
khắc phục tại một số vùng nông thôn, miền núi, các thảm hoạ do thiên tai và những
diễn biến xấu về khí hậu toàn cầu đang tăng, gây áp lực lớn lên tài nguyên và môi
trường, đặt công tác bảo vệ môi trường trước những thách thức gay gắt.
Những yếu kém, khuyết điểm trong công tác bảo vệ môi trường do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng chủ yếu là do chưa có nhận thức đúng
đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận thức, trách
nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc bảo vệ
môi trường; chưa bảo đảm sự hài hoà giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường,
thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường;
nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường của nhà nước, của các doanh nghiệp và cộng
đồng dân cư rất hạn chế; công tác quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều yếu kém,
phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm.
khuyến khích cá nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường.Xây dựng và
phát triển lực lượng tình nguyện viên bảo vệ môi trường. Tăng cường sự giám sát của
cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với bảo vệ môi
trường của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Phát triển các dịch vụ thu gom, vận
chuyển, tái chế, xử lý chất thải và các dịch vụ khác bảo vệ môi trường với sự tham gia
của mọi thành phần kinh tế. Hình thành các loại hình tổ chức đánh giá, tư vấn, giám
định, chứng nhận về bảo vệ môi trường; thành lập doanh nghiệp dịch vụ môi trường đủ
mạnh để giải quyết các vấn đề môi trường lớn, phức tạp của đất nước.
3) Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN
ngày 31/3/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hoá Thông tin và Ban Thường trực Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp hướng dẫn việc xây dựng và thực
hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư
1.2.2 Nội dung và hình thức thể hiện của hương ước
Để khắc phục những hạn chế và tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện
hương ước ở cơ sở,theo Thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT/BTP-BVHTTBTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư Pháp, Bộ Văn hoá Thông tin và Ban
Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp hướng dẫn việc
xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cưnhư
sau:
21
1.2.2.1 Nội dung của hương ước
Hương ước là văn bản quy phạm xã hội trong đó quy định các quy tắc xử sự
chung do cộng đồng dân cư cùng thoả thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội
mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán
tốt đẹp và truyền thống văn hoá trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, góp phần
hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật.
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân
trí, phát huy phong tục, tập quán tốt đẹp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống của
cộng đồng dân cư, nội dung của hương ước tập trung vào một số vấn đề cụ thể sau
công trình phúc lợi công cộng: điện, đường, trường học, trạm xá, nghĩa trang, các công
trình văn hoá thể thao trên địa bàn. Lập, thu chi các loại quỹ trong khuôn khổ pháp
luật và phù hợp khả năng đóng góp của nhân dân;
- Đề ra các biện pháp cụ thể bảo vệ trật tự, trị an trên địa bàn, góp phần phòng
chống tệ nạn xã hội như ma tuý, cờ bạc, rượu chè bê tha, trộm cắp, mại dâm và các
hành vị khác vi phạm pháp luật nhằm xây dựng địa bàn trong sạch. Phát động trong
nhân dân ý thức phòng gian, bảo mật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật về tạm trú,
tạm vắng; tham gia quản lý, giáo dục, giúp đỡ những người lầm lỗi tại cộng đồng dân
cư. Đề ra các biện pháp cần thiết hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý vi
phạm pháp luật trên địa bàn; bảo đảm triển khai thực hiện các quy định của pháp luật
về tổ chức tự quản ở cơ sở như tổ chức, hoạt động của Tổ hoà giải, Ban an ninh, Tổ
bảo vệ sản xuất, Ban kiến thiết và các tổ chức tự quản khác;
- Đề ra các biện pháp thưởng, phạt phù hợp để bảo đảm thực hiện hương ước:
Hương ước quy định các hình thức và biện pháp khen thưởng đối với cá nhân,
hộ gia đình có thành tích trong việc xây dựng và thực hiện hương ước như: lập sổ vàng
truyền thống nêu người tốt, việc tốt, ghi nhận công lao, thành tích của tập thể, cá nhân;
bình xét, công nhận gia đình văn hoá, và các hình thức khen thưởng khác do cộng
đồng tự thoả thuận hoặc đề nghị các cấp chính quyền khen thưởng theo quy định
chung của Nhà nước.
Đối với những người có hành vi vi phạm các quy định của hương ước thì chủ
yếu áp dụng các hình thức giáo dục, phê bình của gia đình, tập thể cộng đồng, thông
báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ở cơ sở. Trường hợp vi phạm nghiêm
trọng các quy định của hương ước thì trên cơ sở thảo luận thống nhất tập thể cộng
đồng, có thể buộc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm trong phạm vi cộng đồng hoặc áp
dụng các biện pháp phạt nhưng không được đặt ra các biện pháp xử phạt nặng nề xâm
23
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền, lợi ích hợp
24
Những người soạn thảo hương ước tại địa phương là người hiểu hơn ai hết vấn
đề của chính quê hương mình, điều kiện xã hội cụ thể của làng xã cũng như khả năng
thực hiện, một bản hương ước được xây dựng nên có tính hiện thực rất cao, rất sát với
địa phương, phù hợp với các đặc thù về cơ sở vật chất, nếp sống văn hoá, phong tục
tập quán của địa phương mình.
Trước khi trở thành một văn bản chính thức, bản dự thảo sẽ được gửi đến từng
gia đình góp ý rồi cũng nhau tổng hợp lại, bàn bạc, chỉnh sửa và thông qua. Bản hương
ước đã được đồng thuận có sự cam kết bằng chữ ký của các thành viên của cộng đồng
(đơn vị thường là gia đình) và các tổ chức xã hội (chi bộ, đoàn thanh niên, hội phụ nữ,
hội phụ lão, hội cựu chiến binh, các trường học ở địa phương) có giá trị như các “lệ
làng” thời hiện đại.
Để có sự ràng buộc về mặt pháp lý, các bản hương ước có sự xác nhận của
Chính quyền địa phương (UBND xã, huyện…). Hương ước chỉ bổ sung hoặc thay đổi
trong trường hợp pháp luật Việt Nam có thay đổi, bổ sung hoặc chính địa phương cần
có những thay đổi bổ sung cho phù hợp với cách sống, phong tục của mình.
1.2.3.1. Thủ tục soạn thảo, thông qua, phê duyệt, tổ chức thực hiện và sửa đổi, bổ
sung hương ước
a. Hương ước phải được xây dựng một cách thực sự dân chủ, công khai, phù
hợp với các quy định của pháp luật, được chia theo các bước cơ bản như sau:
Bước 1. Thành lập Nhóm soạn thảo và tổ chức soạn thảo hương ước
Trưởng thôn, làng, ấp, bản, cụm dân cư (sau đây gọi chung là Trưởng thôn) chủ
trì cùng Bí thư chi bộ, Trưởng Ban công tác Mặt trận thống nhất các nội dung cơ bản
cần soạn thảo, đồng thời chỉ định các thành viên Nhóm soạn thảo. Thành viên Nhóm
soạn thảo là những người có uy tín và kinh nghiệm sống, có trình độ văn hoá, hiểu biết
về pháp luật và phong tục tập quán ở địa phương, có phẩm chất đạo đức tốt. Nhóm
soạn thảo cần có sự tham gia của đại diện một số cơ quan, tổ chức và đại diện của các
thành phần trong cộng đồng dân cư như: cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, các chức sắc