ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------
HOÀNG CAO PHÚC
SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(TRƢỜNG HỢP THÔN TÂN MỸ, XÃ THỤY HƢƠNG,
HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: NHÂN HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
HOÀNG CAO PHÚC
SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG
VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
(TRƢỜNG HỢP THÔN TÂN MỸ, XÃ THỤY HƢƠNG,
HUYỆN CHƢƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Nhân học
Mã số: 60310302
Học viên: Hoàng Cao Phúc
MỤC LỤC
MỤC LỤC ..................................................................................................................1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................4
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................5
2. Mục đích nghiên cứu .........................................................................................6
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................6
4. Phƣơng pháp nghiên cứu ..................................................................................7
5. Đóng góp của luận văn ......................................................................................8
6. Bố cục luận văn ..................................................................................................8
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN ...............................9
1.1 Tổng quan tài liệu ............................................................................................9
1.2. Một số khái niệm cơ bản ..............................................................................18
1.2.1. Khái niệm nông thôn và nông thôn mới ...................................................18
1.2.2. Khái niệm cộng đồng ...............................................................................20
1.3. Tiếp cận lý thuyết về sự tham gia ................................................................21
1.3.1. Về cách tiếp cận tham gia.........................................................................21
1.3.2. Khái niệm sự tham gia..............................................................................26
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................................28
Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THỤY HƢƠNG.30
2.1. Chƣơng trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam .................................30
2.1.1. Khái quát tiến trình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam ......................30
2.1.2. Những kết quả ban đầu .............................................................................32
2.2. Xã Thụy Hƣơng và quá trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới .33
2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Thụy Hƣơng .........................................33
2.2.2. Về quá trình xây dựng nông thôn mới ở Thụy Hƣơng .............................35
4.2. Một số phân tích mang tính gợi ý chính sách.............................................72
4.2.1. Công tác quy hoạch ..................................................................................72
4.2.2. Đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đào tạo nghề cho lao động
nông thôn đáp ứng nhu cầu xây dựng nông thôn mới ........................................73
4.2.3. Có cơ chế để ngƣời dân thực hiện vai trò chủ thể trong xây dựng nông
thôn mới ..............................................................................................................75
2
4.2.4. Phát triển sản xuất, cải thiện và nâng cao thu nhập cho ngƣời dân; phát
triển các hình thức tổ chức sản xuất ...................................................................76
4.2.5. Cải thiện chất lƣợng và đa dạng hóa nội dung các hoạt động ..................79
4.2.6. Tăng cƣờng vai trò của các hội, các tổ chức đoàn thể trong xây dựng
nông thôn mới.....................................................................................................79
Tiểu kết chƣơng 4 ................................................................................................80
KẾT LUẬN ..............................................................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................83
PHẦN PHỤ LỤC.....................................................................................................92
3
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ: Ban Chỉ đạo
BQL: Ban Quản lý
MHNTM: Mô hình nông thôn mới
NTM: Nông thôn mới
XDNTM: Xây dựng nông thôn mới
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Nhƣ̃ng ƣu tiên đă ̣c biê ̣t về chiń h sách và các nguồ n lƣ̣c của Nhà nƣớc cũng nhƣ
chính quyền các địa phƣơng dành cho quá trình này đã nói lên điều đó
. Xây dựng
nông thôn mới ở Việt Nam giờ đây không phải là sứ mệnh của riêng chính quyền
hay của ngƣời dân nông thôn mà là trách nhiệm chung của tất cả các thành phần
trong xã hội, trong đó đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở và ngƣời dân ở chính địa
bàn đó. Cho đế n thời điể m này quá trình xây dƣ̣ng nông thôn mới đã và đang đƣơ ̣c
triển khai thƣ̣c hiê ̣n ở hầ u khắ p các điạ bàn nông thôn trên cả nƣớc . Đến nay một số
địa phƣơng đƣợc đánh giá và có quyết định công nhận đã hoàn thành các tiêu chí về
xây dựng nông thôn mới trong khi còn nhiều địa phƣơng khác đang cố gắng đạt
đƣợc mục tiêu này trong thời gian sớm nhất có thể. Bằng nhiều cách khác nhau, các
địa phƣơng sẽ phấn đấu hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo những
5
tiêu chí đề ra. Song sự thành công của quá trình xây dựng nông thôn mới lại đƣợc
quyết định bởi hiệu quả và tính bền vững của nó trong đời sống xã hội nông thôn.
Để đánh giá đƣợc vấn đề này cần phải làm rõ vị thế và vai trò cũng nhƣ sự nhập
cuộc của các bên ra sao trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Xuất phát từ lý do
đó, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sƣ̣ tham gia của cô ̣ng đồ ng vào quá trin
̀ h xây
dƣ̣ng nông thôn mới (trƣờng hơ ̣p thôn Tân M ỹ, xã Thu ̣y Hƣơng , huyê ̣n Chƣơng
Mỹ, thành phố Hà Nội)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng nông thôn
mới nhằm hƣớng đến mục đích:
- Chỉ ra v ị thế và làm rõ vai trò của cộng đồng tham gia vào quá
phỏng vấn sâu những đối tƣợng là cán bộ xã và thôn, đã từng tham gia các dự án
XDNTM; những cá nhân đại diện cho các tầng lớp dân cƣ trong thôn nên có thể
lắng nghe đƣợc tiếng nói đa chiều từ nhiều chủ thể, từ đó có đƣợc sự nhìn nhận và
đánh giá khách quan về vai trò của các bên tham gia vào quá trình xây dựng nông
thôn mới. Để làm đƣợc việc này tôi đã tổ chức các hoạt động điền dã tại địa bàn
trong thời gian 01 tháng (từ 16/9/2015 đến 16/10/2015) và tiến hành phỏng vấn sâu
30 ngƣời (trong đó 05 ngƣời là cán bộ xã, thôn và 25 ngƣời thuộc các tầng lớp khác
nhau ở cộng đồng). Thông tin từ những cuộc phỏng vấn sâu sẽ là nguồn tƣ liệu
phong phú giúp cho việc phân tích, đánh giá các hoạt động tham gia của ngƣời dân
một cách xác đáng.
Bên cạnh đó tôi sử dụng phƣơng pháp quan sát tham dự bằng cách trực tiếp
tham dự vào những hoạt động ở các xóm trong thôn Tân Mỹ. Bƣớc đầu tiên của quá
trình này tôi sẽ tiến hành quan sát những công trình, dự án đã và đang đƣợc thực
hiện ở địa bàn, quan sát hoạt động của các nhóm cộng đồng cũng nhƣ thành viên
của mỗi nhóm. Tiếp đó sẽ tham gia vào những hoạt động cụ thể để có thể cảm nhận
đƣợc mình là một thành viên thuộc về một nhóm nào đó của cộng đồng, đồng thời
cũng để lắng nghe tiếng nói của các thành viên khác.
Ngoài ra, tôi sử dụng các phƣơng pháp thu thập và xử lý thông tin, dữ liệu
nhằm thu thập thông tin, dữ liệu từ các văn bản của các cấp chính quyền từ xã đến
thôn. Từ những thông tin, dữ liệu và số liệu này có thể làm căn cứ để so sánh, đối
chiếu với những thông tin thu thập đƣợc từ các cuộc phỏng vấn định tính và quá
trình quan sát tham dự tại thực địa để có đƣợc sự phân tích và đánh giá đúng đắn.
7
5. Đóng góp của luận văn
- Từ hoạt động thực địa, đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp nguồn tƣ liệu phong
phú trên cơ sở đó phân tích, đánh giá các hoạt động mà cộng đồng tham gia vào quá
trình xây dựng nông thôn mới.
không hoàn toàn giố ng nhau cầ n phải thiế t lâ ̣p các mô hin
̀ h phát triể n nông thôn
tƣơng ƣ́ng . Luận điểm này gần tƣơng đồng với Nguyễn Mạnh Dũng khi tác giả
nhấn mạnh đến việc phát huy yếu tố lợi thế và những đặc trƣng của mỗi làng trong
quá trình XDNTM (trong điều kiện của Nhật Bản) [18]. Quan điểm về vấn đề phát
triển nông thôn của các tác giả tuy chƣa hẳn xuất phát từ lý thuyết cấu trúc chức
năng song chính những yếu tố khác biệt về điều kiện tự nhiên và xã hội tạo nên lợi
thế ở mỗi vùng, miền (hay làng) lại gần nhƣ đảm nhận những chức năng thiết yếu
trong việc duy trì và thúc đẩy một tiến trình phát triển hài hòa ở một vùng hay giữa
các vùng với nhau. Mă ̣c dù chƣa đề câ ̣p đế n vai trò của cô ̣ng đồ ng vào quá trin
̀ h xây
dƣ̣ng mô hình phát triể n ở nông thôn , nghiên cƣ́u này đã chỉ ra rằng “cần phải tìm
kiế m nhƣ̃ng cơ chế quản lý phù hơ ̣p với sƣ̣ thay đổ i nhƣ̃ng vai trò của cả đơn vi ̣
làng lẫn đơn vị xã trong hệ thống hành chính ở cơ sở”[18, tr. 269].
Nhƣ̃ng phác h ọa của Nguyễn Ma ̣nh Dũng về sƣ̣ thàn h công của Phong trào
“Mỗi làng, Mô ̣t sản phẩ m” 1 ở Nhật Bản trên cơ sở phát huy lợi thế của từng vùng
1
Phong trào “Mỗi làng , Mô ̣t sản phẩ m” (“One village, One product” Movement - OVOP
Movement theo tiế ng Anh hay “Isson , Ippin” Undo theo tiế ng Nhâ ṭ Bản ) do ông Morihiko
9
(điề u kiê ̣n tƣ̣ nhiên) và đặc trƣng của mỗi làng (kinh tế , văn hóa, xã hội) đƣơ ̣c coi là
bài học kinh nghiệm quý giá đối
với quá trình xây dƣ̣ng nông thôn mới của Viê ̣t
Nam. Kinh nghiê ̣m đƣơ ̣c rút ra là để đảm bảo sƣ̣ thành công của Phong trào đòi hỏi
mình, lâ ̣p kế hoa ̣ch để phát triể n các sản phẩ m mang tính đă ̣c thù của quê
hƣơng
mình. Cũng chính họ là ngƣời đứng ra tổ chức , trang trải kinh phí , đồ ng thời chiụ
mọi rủi ro (nế u có ) cho các dƣ̣ án phát triể n nông thôn của min
̀ h
[18, tr.123-125].
Hiramatsu - Tỉnh trƣởng tỉnh Oita khởi xƣớng vào năm 1979 (xem Nguyễn Ma ̣nh Dũng
2006, tr.60-132).
10
Nhìn nhận và đánh giá về vai trò của cộng đồng từ Phong trào “Mỗi làng , Mô ̣t sản
phẩ m” của Nhâ ̣t Bản hay tƣ̀ Saemaul Undong
2
(phong trào Làng mới ) ở Hàn Quốc
hoă ̣c thâ ̣m chí ngay cả phong trào xây dƣ̣ng NTM đang đƣơ ̣c thƣ̣c hiê ̣n đồ ng loa ̣t ở
Viê ̣t Nam hiê ̣n nay , các nhà nghiên cứu đ ều khẳng định ngƣời đứng đầu chính
quyề n điạ phƣơng và sƣ̣ tham gia của cô ̣ng đồ ng dân cƣ là nhƣ̃ng nhân tố hàng
đầ u quyế t đinh
̣ đế n thành công của các phong trào xây dƣ̣ng và phát triể n nông
thôn [92, tr.173-174]. Đây là mô ̣t kinh nghiê ̣m đáng suy ngẫm đƣơ ̣c rút ra tƣ̀ sƣ̣
thành công của Nhật Bản
phát triển các ngành nghề cổ truyền, các làng nghề truyền thống; phát triển các dịch
vụ kinh tế kỹ thuật nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; công nghiệp hóahiện đại hóa sản xuất nông nghiệp [27, tr. 185-203].
Những nhận thức nêu trên phần nào phản ánh thời điểm Việt Nam bắt đầu
thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nƣớc, trong đó có công nghiệp hóa nông
thôn với những bƣớc đi đầu tiên trong nhận thức và hành động. Trong khi thực tế
quá trình Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn mặc dù đã
đạt đƣợc những thành tựu cơ bản song còn tồn tại nhiều vấn đề và nghịch lý phải
giải quyết. Hiện tại, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn đang đứng trƣớc
nhiều cơ hội và thách thức khi nó đƣợc đặt trong mối quan hệ tổng thể giữa Việt
Nam với các định chế kinh tế khu vực và thế giới mà nƣớc ta là thành viên, vốn
chịu nhiều sức ép từ các thỏa thuận mà Nhà nƣớc đã cam kết thực hiện. Theo Lê
Quốc Lý, vào thời điểm này công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn nên đƣợc xác
định là quá trình thay đổi căn bản phƣơng thức hoạt động, cơ cấu kinh tế của nông
thôn và thay đổi căn bản tầng lớp gắn liền với sản xuất nông nghiệp là nông dân. Đó
là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng tăng nhanh tỷ trọng
giá trị sản phẩm và lao động nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội [53, tr.
13]. Một trong những giải pháp thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn, đó là
“đổi mới trong khâu quy hoạch, quản lý và sử dụng đất. Sử dụng tối đa lợi
thế cạnh tranh trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Theo đó hạn chế tối đa
chuyển đổi đất nông nghiệp ở khu vực có lợi thế cạnh tranh cho mục đích
công nghiệp và đô thị hóa. Phân tích, đánh giá một cách khách quan khi
chuyển đổi mục đích sử dụng trên cơ sở hiệu quả kinh tế, xã hội của đất
nƣớc” [53, tr. 196].
Trong khi đó, nhận thức và quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn của Vũ Trọng Khải là một cách tiếp cận khá toàn diện. Tác giả
cho rằng công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
“không chỉ diễn ra trên địa bàn làng xã mà tất yếu phải diễn ra trên không
chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa”, tác
giả Nguyễn Duy Thắng cho rằng
“đô thị hóa một mặt thúc đẩy sự tăng trƣởng kinh tế của thành phố, mặt
khác lại gây ra những tác động bất lợi nhƣ mất đất, mất việc làm và phá vỡ
cấu trúc các cộng đồng ven đô” [77, tr. 43].
13
Trƣớc những áp lực đó buộc ngƣời nông dân phải tìm kiếm, lựa chọn một
chiến lƣợc sinh kế phù hợp và vốn xã hội đã đƣợc họ sử dụng nhƣ một trong những
phƣơng thức khá hiệu quả để thích ứng với bối cảnh mới. Theo đó,
“các mối quan hệ xã hội của ngƣời nông dân ven đô không còn bó hẹp trong
làng, xã của họ nữa mà đã vƣơn rộng ra các cộng đồng bên ngoài, cả nông
thôn lẫn đô thị. Các mối quan hệ đan xen, bắc cầu và đa dạng hơn chứ
không chỉ là quan hệ họ hàng, hàng xóm hay bạn bè” [77, tr. 41].
Dƣờng nhƣ vốn xã hội đã trở thành một kênh tƣơng đối quan trọng chi phối
chiến lƣợc sinh kế của ngƣời nông dân, cụ thể nó đƣợc sử dụng vào hai hoạt động
gắn bó mật thiết với đời sống của ngƣời nông dân là chiến lƣợc sử dụng đất và
chiến lƣợc về việc làm.
Những thách thức đối với sinh kế của ngƣời nông dân ở khu vực chịu tác
động trực tiếp của sự chuyển đổi đã trở thành vấn đề có tính phổ biến ở nhiều vùng
nông thôn nƣớc ta, gây “nhức nhối” trong xã hội và làm đau đầu các nhà quản lý.
Tiếp cận ở khía cạnh này, khi nghiên cứu một địa bàn cụ thể thuộc tỉnh Hải Dƣơng,
các tác giả Vũ Đình Tôn, Nguyễn Thị Huyền và Võ Trọng Thành cho thấy có nhiều
vấn đề đặt ra tại vùng chuyển đổi đất. Chẳng hạn, ngƣời lao động gặp nhiều khó
khăn về trình độ học vấn, độ tuổi và nhất là khả năng thích ứng với công việc mới.
Ngoài ra, hàng loạt vấn đề khác đƣợc đặt ra cũng không kém phần quan trọng nhƣ,
môi trƣờng văn hóa nông thôn thay đổi; nạn ô nhiễm môi trƣờng diễn biến phức tạp;
canh và phát triển một số giống ngô nếp tại Đắk Lắk và Đắk Nông [42].
Nếu du lịch đƣợc coi nhƣ một động lực phát triển nông thôn nói riêng và
kinh tế nói chung thì trọng tâm của vấn đề phát triển nông thôn là đa dạng sinh kế.
Trong bối cảnh hiện nay, du lịch nông thôn là cách đa dạng hóa sinh kế cho ngƣời
nông dân. Đó là nhận thức và cách tiếp cận về sinh kế của ngƣời nông dân đƣợc đề
cập trong tác phẩm “Du lịch nông thôn từ lý luận đến thực tiễn” của Đào Thị
Hoàng Mai. Tác giả khẳng định du lịch nông thôn là một hoạt động đa mục tiêu và
hoàn toàn có thể phát triển theo hƣớng bền vững, trong đó: du lịch nông thôn gắn
với phát triển nông nghiệp; du lịch nông thôn với phát triển kinh tế-xã hội nông
thôn; du lịch nông thôn với bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Tuy nhiên, do thu nhập cao
hơn nhiều so với những gì ngƣời nông dân có thể kiếm đƣợc từ sản xuất nông
nghiệp, du lịch đang đƣợc chấp nhận ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam bất chấp
các tác động tiêu cực mà nó gây ra về kinh tế, xã hội, môi trƣờng… Chẳng hạn, đã
từng diễn ra một tình trạng khá phổ biến ở vùng Nam Bộ đó là, các nhà đầu tƣ của
các khu nghỉ dƣỡng ở nông thôn lại là ngƣời thành phố. Cùng với các công ty lữ
15
hành, họ sẽ đem phần lợi nhuận từ hoạt động du lịch ra khỏi khu vực nông thôn.
Nhƣ vậy, dòng lợi ích của du lịch nông thôn có thể tuột khỏi cộng đồng và chảy vào
túi các doanh nghiệp ở khu vực đô thị [54]. Dƣới góc nhìn sinh kế bền vững, tình
trạng này đã khiến ngƣời nông dân không thể trở thành chủ nhân thực sự trên địa
hạt của mình và gần nhƣ bị thua thiệt rất lớn.
Phát triển nông thôn theo hƣớng bền vững đã trở thành một mục tiêu quan
trọng đối với quá trình phát triển nông thôn Việt Nam. Theo hƣớng này, tác giả
Trần Ngọc Ngoạn trong tác phẩm “Phát triển nông thôn bền vững : những vấ n đề lý
luận và kinh nghiê ̣m thế giới”
đã đề xuất một mô hình phát triển nông thôn bền
giảm trừ độc quyền Nhà nƣớc vĩ mô” và “Phát triển cộng đồng khuyến
khích sáng kiến từ dƣới lên, với sự kết hợp với chính ngƣời dân để giải
quyết vấn đề của cộng đồng” [38, tr.54-tr.56].
Để đạt đƣợc mục tiêu phát triển nông thôn bền vững, Chƣơng trình Nông
thôn mới đƣợc coi là sự cụ thể hóa của chiến lƣợc phát triển nông thôn của Đảng và
Nhà nƣớc Việt Nam. Vì thế, nông thôn mới không chỉ là một chƣơng trình hành
động quốc gia mà cũng đồng thời nhanh chóng trở thành một chủ đề đƣợc nhiều nhà
khoa học quan tâm, nghiên cứu, đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn cũng nhƣ
các gợi ý chính sách.
Chẳng hạn, từ nghiên cứu thực tế về quá trình xây dƣ̣ng thí đi ểm MHNTM
tại ba xã : xã Tân Thịnh , huyê ̣n La ̣ng Giang , tỉnh Bắc Giang (đa ̣i diê ̣n cho vùng
trung du ); xã Tam Phƣớc , huyê ̣n Phù Ninh , tỉnh Quảng Nam ; xã Mỹ Long Nam ,
huyê ̣n Cầ u Ngang , tỉnh Trà Vinh, nhóm nghiên cứu do tác giả Trần Minh Yến (chủ
biên) trong công triǹ h : “Xây dựng nông thôn mới : khảo sát và đánh giá” , xuất bản
năm 2013, đã đƣa ra nhƣ̃ng đánh giá bƣớc đầ u sau
3 năm thƣ̣c hiê ̣n thí điể m
XDNTM (triể n khai tƣ̀ năm 2009 và kết thúc cuối năm 2011). Khảo sát hiện trạng,
đánh giá những ƣu điểm và hạn chế từ quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa
bàn, các tác giả cho rằng yếu tố cốt lõi tạo nên sự thành công của xây dựng nông
thôn mới là nguồ n nhân lƣ̣c, nguồ n vố n và vai trò ngƣời dân [92, tr. 165, 170, 172].
Rõ ràng trong quá trình XDNTM , cô ̣ng đồ ng nông thôn nói chung và ngƣời
nông dân nói riêng đóng vai trò không thể thay thế đƣơ ̣c “trong mố i quan hê ̣ mâ ̣t
thiế t giƣ̃a nông nghiê ̣p , nông dân và nông thôn , nông dân là chủ thể của quá trình
phát triển…” [25], và theo tác gi ả Hồ Xuân Hùng trong bài vi ết “Về chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới” đã chỉ ra rằng “xây dƣ̣ng nông thôn
mới, không ai khác ngoài nông dân , Đảng, chính quyền các cấp không thể làm thay
đƣơ ̣c” [43, tr.63]. Tuy nhiên , bố i cảnh xã hô ̣i nông thôn và ngƣời nông dân Viê ̣t
những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phƣờng hoặc thị trấn đƣợc quy định là
khu vực thành thị). Cho đến nay, nông thôn ở nƣớc ta đƣợc hiểu là nơi sinh sống và
làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông
nghiệp là chính. Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trƣờng, trình độ
sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị. Hiện nay, khái niệm nông thôn đƣợc
hiểu là: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố,
thị xã, thị trấn, đƣợc quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã” [13].
Theo tác giả Tống Văn Chung [14, tr. 115-116], nông thôn đƣợc khắc họa bởi
những nét đặc trƣng nổi bật sau:
Thứ nhất, nông thôn gắn với một nghề lao động xã hội truyền thống, đặc
trƣng và nổi trội là hoạt động sản xuất nông nghiệp. Điều này thể hiện ở chỗ,
phƣơng tiện sản xuất cơ bản và chủ yếu của nông thôn là đất đai. Chính vì vậy, nó
tạo ra sự gắn kết nghề nghiệp của ngƣời dân nông thôn với nơi chôn nhau cắt rốn
18
của mình. Thứ hai, trình độ phát triển của nền sản xuất xã hội ở nông thôn do lịch
sử để lại gồm những tụ điểm quần cƣ thƣờng có quy mô nhỏ về mặt số lƣợng. Thứ
ba, mật độ dân cƣ trên ki-lô-mét vuông thấp. Thứ tư, ở nông thôn có một môi
trƣờng tự nhiên ƣu trội, con ngƣời gần gũi với tự nhiên hơn, và nó luôn đƣợc thi vị
hóa thành những hình ảnh của nông thôn: cây đa, bến nƣớc, con đò, dòng
sông…Thứ năm, nông thôn có một lối sống đặc thù của mình – lối sống nông thôn,
lối sống của các cộng đồng xã hội đƣợc hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động
lao động nông nghiệp. Thứ sáu, chính lối sống này đã quy định thành một đặc trƣng
nổi trội của nông thôn-tính cố kết cộng đồng. Nhờ những đặc trƣng này làm cho nó
phân biệt hẳn với cộng đồng đô thị. Thứ bảy, chính lối sống nông thôn làm cho
cung cách ứng xử xã hội nặng về luật tục, về lễ nghi hơn là tính pháp lý. Thứ tám,
đặc trƣng không thể thiếu đƣợc của nông thôn, đó là văn hóa nông thôn một loại
hình văn hóa đặc thù mang đậm nét dân gian, nét truyền thống dân tộc.
Khái niệm nông thôn mới:
1.2.2. Khái niệm cộng đồng
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng đƣợc sử dụng một cách tƣơng
đối rộng rãi, để chỉ nhiều đối tƣợng có những đặc điểm tƣơng đối khác nhau về quy
mô, đặc tính xã hội. Rộng nhất là nói đến những khối tập hợp ngƣời, các liên minh
rộng lớn nhƣ cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các nƣớc Ả-rập,
cộng đồng các nƣớc ASEAN…; nhỏ hơn, danh từ đƣợc áp dụng cho một kiểu/hạng
xã hội, căn cứ vào những đặc tính tƣơng đồng về sắc tộc, hay tôn giáo… nhƣ cộng
đồng ngƣời Do Thái, cộng đồng ngƣời da đen tại Chicago, cộng đồng ngƣời Thanh
giáo [38, tr.15-16], hay gần đây khái niệm “cộng đồng mạng” cũng đƣợc dùng để
chỉ những ngƣời sử dụng internet; nhỏ hơn nữa, danh từ cộng đồng đƣợc sử dụng
cho các đơn vị xã hội cơ bản là gia đình, làng hay một nhóm xã hội nào đó có
những đặc tính xã hội chung về lý tƣởng xã hội, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, vị thế
xã hội nhƣ các đảng phái, nhóm những ngƣời lái xe, nhóm ngƣời khiếm thị… Theo
Tô Duy Hợp và Lƣơng Hồng Quang, khái niệm cộng đồng đƣợc hiểu là:
“Bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ cho đến các tổ
chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán, đƣợc
liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay ngắn nhƣ
phong trào quần chúng, công chúng, khán giả, đám đông” [38, tr.16].
20
Cũng theo hai tác giả này, khái niệm cộng đồng đƣợc hiểu theo hai cách: một
là cộng đồng tính và hai là cộng đồng thể, tuy là hai cái khác nhau nhƣng không đối
lập nhau. Cộng đồng tính là thuộc tính hay quan hệ xã hội có những đặc trƣng đƣợc
xác định và cụ thể hóa, chẳng hạn nhƣ tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý
thức cộng đồng… Cộng đồng thể tức là những nhóm ngƣời, những nhóm xã hội có
tính cộng đồng với rất nhiều thể có quy mô khác nhau, đó là thể nhỏ, thể vừa, thể
lớn và thể cực lớn kể từ gia đình đến quốc gia và nhân loại [38, tr.16].
Hiện nay, tuy còn một số khía cạnh chƣa đƣợc thống nhất, song các nhà