ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------NGUYỄN THỊ
TUYẾN
__
f|H A
>
-Í.A J~\•
Tên đề tai:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH TRỒNG RỪNG KEO TAI TƯỢNG
THÂM CANH CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy :
Chuyên ngành
Lâm nghiệp :
Khoa Khóa
Lâm nghiệp :
học
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS. Trần Thị Thu Hà
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi.
Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ các tiếu luận, luận văn nào trước đây.
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2014
Xác nhận của GVHD
Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
(Ký, ghi rõ họ và tên)
Trước hội đồng khoa học!
(Ký, ghi rõ họ và tên)
PGS.TS. Trần Thị Thu Hà
Nguyễn Thị Tuyến
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Khả năng sinh trưởng của các mô hình trồng rừng Keo tai tượng
5
Bảng 4.14: Hiệu quả kinh tế rừng trồng thâm canh Keo tai tượng tại Sơn
Dương - Tuyên Quang (tuổi 6)
Biếu diễn sinh trưởng chiều cao trung bình của Keo tai tượng trồng
Hình 4.1:
Hình 4.2:
Hình 4.3:
Hình 4.4:
Hình 4.5:
Hình 4.6:
Hình 4.7:
Hình 4.8:
vil
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
9
Hvn
: Tần số thực nghiệm
NXB
: Nhà xuất bản
Đường kính tán trung bình
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong vài thập niên qua, việc trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc
đã có những đóng góp vô cùng to lớn trong việc phục hồi rừng, và cải tạo môi
trường ở nước ta. Đặc biệt khoảng 10 năm trở lại đây, việc trồng rừng trở thành
một nhu cầu phát triển kinh tế cho người dân sống phụ thuộc vào rừng. Thu
nhập từ trồng rừng đã giúp cho hàng chục vạn hộ gia đình thoát nghèo và thậm
chí làm giàu từ trồng rừng.
Một trong những loài cây nhập nội có khả năng sinh trưởng phát triển
nhanh và cho thu nhập lớn cho người dân là cây Keo, bao gồm các loài: Keo tai
tượng, Keo lá tràm và Keo lai.
Cây Keo được đưa vào trồng là loại cây sinh trưởng nhanh, phủ xanh đất
trống đồi núi trọc rất hiệu quả. Keo có tán lá rậm, lá cây dễ phân hủy, rất thích
hợp để chống xói mòn, tạo độ mùn cho đất. Đặc biệt rễ cây keo có nốt sần cố
định đạm nên có khả năng cải tạo phục hồi đất nghèo dinh dưỡng. Sản phẩm từ
1
0
Thông qua thực tập đề tài đưa ra các biện pháp giúp cho người quản lý có
các kế hoạch hợp lý trong công tác quản lý, chăm sóc và phát triển rừng trồng
thâm canh
1
1
* Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Với mục tiêu xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh góp phần
nâng cao năng xuất, chất lượng, rừng trồng, cải tạo rừng một cách
bền vững.
PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2
.1. lông quan tài liệu nghiên cứu
Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Khái niệm về trồng rừng thâm canh
Có nhiều khái niệm về trồng rừng thâm canh như: theo Phạm Quang Minh
(1987) [11] “Trồng rừng thâm canh là tăng cường đầu tư các biện pháp kỹ thuật
tong hợp tác động vào rừng từ khâu tạo cây con, làm đất, trồng, chăm sóc bảo vệ
đến khâu khai thác rừng, nhằm nâng cao sức sản xuất của rừng”.
Theo Nguyễn Xuân Quát (1995) [15] “Trồng rừng thâm canh là một
phương pháp canh tác dựa trên cơ sở được đầu tư cao bằng việc áp dụng các biện
pháp kỹ thuật tong hợp và liên hoà. Các biện pháp đó phải tận dụng cải tạo và phát
huy được mọi tiềm năng của tự nhiên cũng như của con người nhằm thúc đay
lượng sản pham thu được sau một kỳ kinh doanh chắc chắn đảm bảo được lợi
nhuận và các mục tiêu của trồng rừng thâm canh.
-
Chọn và có được loại cây trồng đáp ứng được mục đích kinh doanh phù
hợp với vùng sinh thái, điều kiện đất đai khí hậu nơi trồng.
-
Chọn và có được giống tốt đã được tuyển chọn hoặc cải thiện có mức tăng
trưởng và pham chất di truyền tối ưu.
-
Chọn được đất thích hợp và còn tốt để giảm bớt mức đầu tư cày bừa và
phân bón...
-
Đủ tiền vốn và kỹ thuật để đầu tư được đầy đủ và đúng đắn, đúng với thiết
kế cụ thể và chính xác về kỹ thuật.
2.2.
Nghiên cứu trồng rừng trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1.
Trên thế giới
nên nhiều nước trên thế giới đã đi trước chúng ta nhiều năm về vấn đề cải thiện
giống cây
rừng vàđã đạt được những thành tựu đáng kể. Điển hình
như ở Công Gô, bằng phương pháp lai nhân tạo đã tạo ra giống Bạch đàn lai
(Eucalyptus hybrids) có năng suất đạt 35m 3/ha/năm ở giai đoạn tuổi 7. Bằng con
đường
chọn lọc nhân tạo, Brazil đã chọn lọc được giống Eucalyptus
grandis đạt tới 55m3/ha/năm sau 7 năm trồng, ở Swazilands cũng đã chọn được
giống Pinus patala sau 15 năm tuổi đạt 19m 3/ha/năm (Pandey, 1983) [26]. Ở
Zimbabwe cũng đã chọn được giống E.grandis đạt từ 35 - 40 m 3/ha/năm, giống
E.urophylla đạt trung bình tới 55m 3/ha/năm, có nơi lên tới 70m 3/ha/năm
(Campinhos và Ikenmori, 1988) [22].
Những nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ
Mật độ trồng rừng ban đầu là một trong những biện pháp kỹ thuật lâm sinh
quan trọng có ảnh hưởng khá rõ đến năng suất rừng trồng. Vấn đề này đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa
khác nhau, điển hình như: công trình nghiên cứu của Evans, J.(1992) [24], tác giả
đã bố trí 4 công thức mật độ trồng khác nhau (2985; 1680; 1075; và 750 cây/ha)
cho Bạch đàn E.deglupta ở Papua New Guinea, số liệu thu được sau 5 năm trồng
rừng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng tăng theo
chiều giảm của mật độ, nhưng tong tiết diện ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của
mật độ, có nghĩa là rừng trồng ở mật độ thấp tuy tăng trưởng về đường kính cao
hơn nhưng trữ lượng gỗ cây đứng của rừng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng
mật độ cao.
nhau, noi bật nhất là công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994)
[16], khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, các tác
giả căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau là đơn vị sử
dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng. Kết quả
nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng sản xuất kinh doanh
lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát triển các loài cây lâm nghiệp
chiếm từ 70 - 80%. Đặc biệt, thích hợp để phát triển các loại cây cung
gỗ
công nghiệp
cấp
như: một số loài Bạch đàn
(Eucalyptus) và Keo (Acacia). Khi nghiên cứu tiêu chuẩn phân chia lập địa cho
rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam, Ngô Đình Quế và
cộng sự (2001) [14] đã nhận định có 4 yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng
sinh trưởng của rừng trồng công nghiệp bao gồm: đá mẹ và các loại đất, độ dày
tầng đất và tỷ lệ đá lẫn, độ dốc, thảm thực vật chỉ thị. Khi nghiên cứu đánh giá đất
lâm nghiệp cấp xã để phục vụ rừng trồng, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2003) [17]
cũng đã xây dựng được bộ tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá gồm 6 tiêu chí và 24 chỉ
tiêu về điều kiện tự nhiên và 5 tiêu chí về điều kiện kinh tế xã hội.
Nghiên cứu trồng rừng Keo lai trên các loại đất khác nhau ở vùng Đông
Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) [3] cũng đã chỉ ra rằng mặc dù
cũng đã được áp dụng các biện pháp thâm canh như nhau, nhưng trên đất nâu đỏ
Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa co. Khi đánh giá năng suất rừng
trồng Bạch đàn (E.urophylla) trên 3 loại đất khác nhau ở khu vực Tây Nguyên,
ta Keo lai được tạo giống và có thể đạt năng suất 27m3/ha/năm
trong khi trồng quảng canh chỉ đạt 16m3/ha/năm, Keo tai tượng đạt năng suất khi
trồng thâm canh và quảng canh tương ứng là 17m 2/ha/năm và 9- 10m3/ha/năm (Lê
Đình Khả, 2003) [7]. Năm 1977-1980, Keo tai tượng được trồng mở rộng từ vĩ
tuyến 17 trở ra như Đông Hà- Quảng Trị, Đại Lải- Vĩnh Phúc, Hữu Lũng- Lạng
Sơn, Đồng Hỷ- Thái Nguyên,...Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm
cận
ẩm,Keo tai tượng
phát triển
và
tỏ ra thích hợp, sinh trưởng và
rất
nhanh, nó
đã
trở thành một
những
loài cây
Cẩm Qùy (Ba Vì - Hà Tây cũ) của Lê Đình Khả và cộng sự (1999) [6]. Ngày nay
do nguồn phân hữu cơ có hạn, để bón phân cho rừng trồng thông thường là các
loại phân khoáng tổng hợp như: NPK, supe lân hoặc phân vi sinh hữu cơ... và
thường được dùng để bón lót và bón thúc cho rừng trồng trong từ 1 - 2 năm đầu,
có thể điểm qua một số công trình nổi bật như: trong một thí nghiệm với Keo lai
trồng trên đất feralit vàng xám ở Tân Lập (Bình Phước), Phạm Thế Dũng (2004)
[4] đã cho thấy Keo lai sinh trưởng tốt ở công thức bón lót gồm 100g NPK kết hợp
với 500g vi sinh Sông Gianh/gốc.
Công trình nghiên cứu “Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để
phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu” của Nguyễn Huy Sơn (2006) [19] đã xây
dựng thí nghiệm trồng rừng thâm canh Keo lai ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên trong đó
có thí nghiệm bón lót và bón thúc năm thứ 2 gồm: 100g NPK(5:10:3) + 400g vi
sinh + 50g vôi bột/gốc, dự đoán sau 7 - 8 năm có thể đạt từ 25 - 30 m3/ha/năm.
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến năng suất rừng trồng
Mật độ là một trong những yếu tố quyết định năng suất của rừng trồng. Mật
độ quá cao sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng, nhưng mật độ thấp sẽ lãng
phí đất, phải tốn công chăm sóc và diệt cỏ dại. Khi đánh giá rừng trồng Keo lai ở
vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và các cộng sự (2004) [3] đã khảo sát trên 4
mô hình có mật độ trồng ban đầu khác nhau là: 952; 1111; 1142 và 1666 cây/ha,
kết quả phân tích cho thấy sau 3 năm trồng năng suất cao nhất ở rừng có mật độ
1666 cây/ha (21m3/ha/năm), năng suất thấp ở rừng có mật độ 952 cây/ha
(9,7m3/ha/năm). Tác giả cho rằng đối với Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ nên trồng
mật độ 1111 - 1666 cây/ha là thích hợp nhất.
Quy trình kỹ thuật trồng rừng thâm canh cung cấp nguyên liệu giấy ở các
tỉnh miền núi phía Bắc đã quy định cho một số loài Thông, Keo lá to và Bồ Đề
mật độ trồng rừng từ 1200 - 1500 cây/ha, Bạch đàn là 1000 cây/ha, quy trình trồng
rừng thâm canh Bạch đàn E.urophylla cũng quy định mật độ trồng rừng từ 1110 -
Keo tai tượng sinh trưởng tương đối nhanh, trong rừng trồng có thể cao
thêm 1,3-1,5m, đường kính tăng 1,5-1,8cm mỗi năm. Từ tuổi 20 trở lên tốc độ sinh
trưởng chậm dần.
Keo tai tượng ra hoa vào tháng 9-10 quả chín tháng 2-3 năm sau. Keo tai
tượng
là cây ưu sáng, sinh trưởng nhanh, rễ có nốt sần, có khả năng tái
sinh bằng hạt và chồi tốt. Keo tai tượng thích hợp khí hậu nhiệt đới ẩm, nhiệt độ
bình quân 29-300C, chỉ chịu được sương giá nhẹ, lượng mưa 1000- 4500mm/năm.
Không có mùa khô kéo dài, Keo tai tượng sinh trưởng trên đất bồi tụ, dốc tụ sâu,
am độ tốt, trên đất xói mòn mỏng lớp đất khô hạn nghèo dinh dưỡng, chua pH: 4-5
vẫn sống, song sinh trưởng kém (Lê Mộc Châu và Vũ Văn Dũng, 1999) [2].
2.3.4.
Phân bố địa lý
Keo tai tượng phân bố tự nhiên ở đông Bắc Australia, PaPua Newghine,
Đông Inđônesia, ở độ cao dưới 100m so với mực nước bien, thường mọc ven
sông, vùng đồng cỏ, rừng ngập mặn, rừng tràm. Ở Việt Nam hiện nay đang
mở
rộng
được
trồng ở hầu hết các tỉnh đồng bằng cũng như
-
Phía Đông: giáp huyện Định Hóa và huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
-
Phía Nam: giáp huyện Lập Thạch và huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Phía Tây: giáp huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang và huyện Đoan Hùng,
tỉnh Phú Thọ.
Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Sơn Dương bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, đồi
núi cao và các thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình các nhau, gồm địa hình
núi cao hiếm trở, địa hình núi thấp và đồi thoải lượn sóng xen kẽ với các thung
lũng, địa hình đồi bát úp và các cánh đồng phù sa nhỏ, hẹp ven sông. Trong đó:
-
Vùng 1: Cụm địa hình dọc theo dải núi Tam Đảo, chạy theo hướng Tây
Bắc - Đông Nam, song song với hướng gió mùa Đông Nam, khu vực này
chủ yếu là đồi núi cao.
-
Vùng 2: Nằm dọc theo dải sông Phó Đáy. Địa hình chủ yếu là đồi thấp, dọc
con sông này có những thung lũng, bãi bồi không liên tục chịu ảnh hưởng
của phù sa hẹp và dốc theo chiều dòng sông. Vào mùa mưa thường bị ngập
3km, lòng sông rộng, đây là tuyến đường thủy quan trọng và duy nhất nối huyện
Sơn Dương với các tỉnh lân cận. Ngoài ra, còn có sông Phó Đáy có chiều dài
khoảng 50km, có lòng sông hẹp, nông, khả năng vận tải thủy rất hạn chế và hệ
thống sông suối nhỏ liên tiếp tạo thành mạng lưới theo lưu vực các sông chính, là
nguồn
cung cấp nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của
người dân trong huyện.
Tài nguyên đất
Theo tổng hợp, trên địa bàn huyện Sơn Dương có các nhóm đất chủ yếu với
quy mô diện tích và phân bố như sau:
a. Nhóm đất phù sa: Chiếm khoảng 4,76% tổng diện tích tự nhiên, trong đó:
- Nhóm đất phù sa ngòi suối: Phân bố chủ yếu trên địa bàn các xã bám dọc
theo sông Lô và sông Phó Đáy, tầng đất dày, thành phần cơ giới cát pha - thịt nhẹ
đến trung bình, thích hợp cho việc trồng cây hàng năm, thường hay bị lũ lụt. Phần
lớn loại đất này thường được sử dụng trồng lúa 1 vụ hoặc 2 vụ, năng suất trung
bình thấp.
-
Nhóm đất phù sa được bồi hàng năm: Phân bố chủ yếu trên địa bàn các xã
bám dọc theo sông Lô và sông Phó Đáy, tầng đất dày, thành phần cơ giới
thịt nhẹ đến trung bình, thích hợp cho việc trồng cây hàng năm, thường hay
bị lũ quét, bồi lấp phù sa và sạt lở đất.
-
Nhóm đất phù sa không được bồi hàng năm: Phân bố ở các bậc thềm cao
hơn đất phù sa được bồi tụ hàng năm, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt
nhẹ đến trung bình, thích hợp cho việc trồng cây hàng năm, năng suất ổn
Nhóm đất vàng đỏ trên đá Granit: phân bố chủ yếu ở các xã ven chân núi
Tam Đảo, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến đến trung bình, khả năng giữ
nước, giữ màu kém, có độ dốc lớn. Cần trồng và bảo vệ rừng.
-
Nhóm đất vàng trên phù sa cổ: phân bố hẹp trên các bậc thềm cao của sông
Lô và sông Phó Đáy, thường xuất hiện trên địa hình đồi bát úp, thấp và
thoải, được khai thác để trồng cây dài ngày và cây ăn quả.
f. Nhóm đất mùn vàng đỏ trên đá Granít: chỉ gặp trên núi Tam Đảo.
Tài nguyên rừng
Kết quả điều tra bo sung hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp tháng 10/2009
cho thấy diện tích các loại rừng như sau:
Bảng 2.1: Diện tích và trữ lượng các loại rừng
Loại đất, loại rừng
Diện tích
Diện tích tự nhiên
52617,0
6
Đất lâm nghiệp
24.582,
07
21.160,
18
230,5
7
230,5
7
28,18
36,19
50.476,40
5,15
8.069,95
5,15
8.069,95
509,5
8
822,7
9
16.682,4
11,38
18,38
461,14 nghìn
cây
5095,8 nghìn
0,36
-
120,0
7
3.421,89
0,72
-
l.l.Rừng tự nhiên
1.1.1 .Rừng gỗ lá rộng
- Rừng giàu
- Rừng trung bình
- Rừng nghèo
- Rừng phục hồi
1.1.2.Rừng hỗ giao gỗ + tre
- Gỗ
- Tre nứa
1.1.3.Rừng tre, nứa, giang thuần
loại
1.1.4.Rừng gỗ núi đá
1.2. Rừng trồng
1.2.1 .Rừng gỗ có trữ lượng
1.2.2. Rừng gỗ chưa có TL