Tiểu luận phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào tạo đại học - Pdf 36

TIỂU LUẬN
Học phần: Phát triển chương trình và tổ chức quá trình đào
tạo Đại học

Chủ đề tiểu luận:
Vì sao khi xây dựng chương trình Đào tạo phải quan tâm chuẩn đầu ra?

1. Đặt vấn đề

Nghị quyết số 29-NQ/TƯ ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI đã chỉ rõ những hạn chế của giáo dục đại học
hiện nay, đó là: “Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh
doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục
đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và
đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất”. Chiến lược phát triển giáo dục giai
đoạn 2011 – 2020 cũng đã chỉ ra một số tồn tại của lĩnh vực này như: “Nội dung
chương trình, phương pháp dạy và học, công tác thi, kiểm tra, đánh giá chậm
được đổi mới. Nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết… nhà trường chưa
gắn chặt với đời sống kinh tế, xã hội; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu
xã hội; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, năng lực
thực hành của học sinh, sinh viên” (Chính phủ, 2011).
Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo theo chủ
trương của Đảng và Nhà nước, các trường đại học muốn tồn tại và phát triển phải


hướng đến mục tiêu đào tạo sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc được ngay và làm
việc có hiệu quả. Phát triển chương trình đào tạo (CTĐT) đáp ứng chuẩn đầu ra là
quá trình liên tục làm hoàn thiện CTĐT đại học có vai trò quan trọng trong việc
đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của nền
kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy chưa có nhiều trường đầu tư đúng
mức cho công việc này. CTĐT cùng khối ngành thường có nhiều môn học giống

Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học, cách tiếp cận cùng tham gia trong phát
triển chương trình cho rằng công việc phát triển chương trình không nên là công
việc của cá nhân mà phải là công việc của tập thể. Việc xây dựng chương trình đào
tạo vì vậy sẽ được tiến hành với sự tham gia của tất cả các nhóm có liên quan, tùy
theo nguồn lực và mối quan tâm của mỗi nhóm. Các bên liên quan ở đây là những
nhóm người hay cá nhân có mối quan tâm về đào tạo hoặc là những người được
hưởng lợi từ quá trình đào tạo (ví dụ: giáo viên, học viên, cơ quan quản lý, đơn vị
sử dụng nguồn nhân nhân lực…). Những người trực tiếp sử dụng nhân lực, nắm rõ
các yêu cầu, tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp đối với từng chức danh,
vị trí công việc chính là khách hàng của các cơ sở đào tạo, sẽ đặt hàng các yêu cầu
cụ thể về mục tiêu đào tạo và tiêu chuẩn của từng vị trí công tác đối với từng
ngành, chuyên ngành. Đồng thời, sau một thời gian công tác tại các đơn vị, địa
phương, học viên sẽ tự nhìn nhận, đánh giá lại những kiến thức, kỹ năng mình tích
lũy được trong nhà trường có đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của công việc chuyên
môn đang đảm nhiệm không? bản thân họ sẽ tự rút ra những lý do giải thích cho
vấn đề này. Do vậy, đây là kênh thông tin tham khảo quan trọng để các nhà xây
dựng chương trình có cơ sở rà soát, bổ sung, chỉnh lý, hoàn thiện nội dung,
chương trình hiện hành.
Chương trình đào tạo đại học


Qua nghiên cứu các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực
phát triển CTĐT, tác giả nhận thấy rằng thuật ngữ CTĐT có nhiều cách
hiểu khác nhau. Theo nghĩa rộng, CTĐT của một trường là tất cả các khóa học
được cung cấp. Ở các nước phát triển, CTĐT được xác định là tập hợp các học
phần mà nhà trường cung cấp, tùy thuộc vào lĩnh vực chuyên môn mà sinh
viên muốn theo đuổi. Một số quốc gia đang phát triển lại xem CTĐT là tập hợp các
chuyên đề hay môn học được quy định cho khóa học mà người học phải thực hiện
để đạt được trình độ giáo dục đó.
Ở các trường đại học Việt Nam, CTĐT được hiểu là một tập hợp các học

tốt hơn nữa. Các khái niệm khác chỉ có ý nghĩa là một quá trình và kết quả dừng lại
khi chúng ta có một chương trình mới. Các nghiên cứu về vấn đề phát triển CTĐT
ở Việt Nam trong thời gian qua có thể chia thành một số lĩnh vực như sau:Trong
nghiên cứu lý thuyết vấn đề phát triển CTĐT hiện nay (một số nhà nghiên
cứu tiêu biểu ngoài nước như Hilda Taba, John Deweys, Jon Wiles, Joseph
Bondi… ở trong nước có Lâm Quang Thiệp, Lê Viết Khuyến, Trần Khánh Đức,
Nguyễn Đức Chính…), nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm tiếp cận phát
triển. Trong khi đó, cách tiếp cận nội dung và tiếp cận mục tiêu có nhiều nhược
điểm hơn, đã lạc hậu và không còn phù hợp trong tình hình mới hiện nay. Cách
tiếp cận phát triển gắn với quan niệm “người học là trung tâm”, theo đó, các
bài giảng được tổ chức dưới dạng các hoạt động khác nhau nhằm giúp cho người
học lĩnh hội dần các kinh nghiệm học tập thông qua việc giải quyết các tình
huống, tạo cho sinh viên cơ hội được thử thách trước những thách thức khác
nhau. Người dạy phải hướng dẫn người học tìm kiếm và thu thập thông tin, gợi


mở giải quyết vấn đề, tạo cho người học có điều kiện thực hành, tiếp xúc với
thực tiễn, học cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo. Với
cách hiểu như thế, CTĐT xây dựng mục tiêu đào tạo, lộ trình thực hiện, nguồn lực
cần có và những hoạt động cần thực hiện (kể cả trong và ngoài nhà trường). Khi
bất kỳ một yếu tố nào kể trên thay đổi, CTĐT cần thay đổi theo. Do đó, CTĐT
không phải là một công thức bất biến mà theo thời gian, cùng với thay đổi của yêu
cầu xã hội, CTĐT cũng cần thay đổi cho phù hợp.
Chuẩn đầu ra
Đến nay, có rất nhiều khái niệm về chuẩn đầu ra: “Chuẩn đầu ra là sự khẳng
định của những điều kỳ vọng, mong muốn một người tốt nghiệp có khả năng LÀM
được nhờ kết quả của quá trình đào tạo” (Jenkins and Unwin).
“Chuẩn đầu ra là lời khẳng định của những điều mà chúng ta muốn sinh viên
của chúng ta có khả năng làm, biết, hoặc hiểu nhờ hoàn thành một khóa đào tạo”
(Univ.New South Wales, Australia).

phát triển chương trình đào tạo, giảng viên dạy những gì mà mình có, nhà trường
cung cấp dịch vụ giáo dục có đến đâu thì làm đến đó. Chuẩn đầu ra cũng là cơ sở
nâng cao mối quan hệ Dạy-Học-Đánh giá.
-

Đối với sinh viên:

Thông qua chuẩn đầu ra, sinh viên lượng hóa được mục đích học tập của
mình, xác định cụ thể các yêu cầu đối với bản thân, từ đó, không ngừng nỗ lực học
tập và rèn luyện theo các chuẩn đầu ra, đáp ứng yêu cầu của nhà trường và xã hộ.
Cũng nhờ vậy, sinh viên sẽ được tăng cường cơ hội học tập, cơ hội việc làm.
-

Đối với các cá nhân, tổ chức sử dụng lao động:

Chuẩn đầu ra của các trường là cơ sở để các cá nhân, tổ chức đánh giá khả
năng cung ứng nhân lực của các trường, xác định được nguồn cung cấp nhân lực
phù hợp với yêu cầu lao động. Bên cạnh đó, các cá nhân, tổ chức sử dụng lao động
cũng có thể lựa chọn chính xác nguồn nhân lực tiềm năng cho mình, từ đó, phối
hợp với các trường thực hiện đào tạo theo địa chỉ. Điều này vừa hỗ trợ hoạt động


cho các trường, vừa giảm được chi phí và thời gian đào tạo lại của nơi sử dụng
nhân lực.
-

Đối với xã hội:

Xã hội có cơ sở giám sát hoạt động đào tạo của các trường và có quyền đòi
hỏi các trường điều chỉnh hoạt động để thực hiện đúng chuẩn đầu ra đã được xác

thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động
nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Người ta cũng chia
năng lực thành năng lực chung, cốt lõi và năng lực chuyên môn, trong đó, năng lực
chung, cốt lõi là năng lực cơ bản cần thiết làm nền tảng để phát triển năng lực
chuyên môn. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất
định, ví dụ như năng lực toán học, năng lực ngôn ngữ. Tuy nhiên, năng lực chung
cốt lõi và năng lực chuyên môn không tách rời mà quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong một báo cáo nghiên cứu về năng lực và mức độ thành công trong kinh
doanh, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Ngoại thương đã nêu rõ năng lực là
tổ hợp các thuộc tính về khả năng, tâm lí và phẩm chất của cá nhân phù hợp với
những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo đạt kết quảnhư đề ra. Tương
tự như các định nghĩa về năng lực trong tâm lí hoặc kinh doanh, trong giáo dục các
nhà nghiên cứu cũng đưa ra các định nghĩa có nội hàm tương đương. Chẳng hạn,
Trần Khánh Đức, trong “Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo
năng lực trong lĩnh vực giáo dục” đã nêu rõ năng lực là “khả năng tiếp nhận và vận
dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kĩ năng, thái độ,
thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng
thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghền ghiệp”. Ở một nghiên cứu khác về


phương pháp dạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Sư phạm Kỹ
thuật TP. Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khá khái quát rằng năng lực là một thuộc
tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo,
kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Như vậy, cho dù là khó định
nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam
và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này. Tựu chung lại, năng
lực được coi là sự kết hợp của các khả năng, phẩm chất, thái độ của một cá nhân
hoặc tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả.
Kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực
KTĐG kết quả học tập là khâu then chốt cuối cùng của quá trình dạy học.

thực tế.
Tình huống diễn ra trong đời sống nghề
nghiệp tương lai.
Trình độ tư duy ở mức độ cao (Phân
tích, Đánh giá, Sáng tạo).
Vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ để
giải quyết tình huống thực.

KTĐG truyền thống
Sinh viên viết đáp án hoặc câu trả lời
Mô phỏng
Trình độ tư duy ở mức độ thấp (Biết,
Hiểu, Áp dụng).
Tái hiện kiến thức hoặc kỹ năng đã học

3. Cơ sở của xây dựng chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra

Bối cảnh thế giới và trong nước
Thế kỷ XXI được đánh dấu bởi cuộc cách mạng khoa học công nghệ, với sự
phát triển của công nghệ thông tin; cùng với đó là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập
quốc tế của các vùng lãnh thổ, quốc gia, khu vực trên thế giới. Đây là những tiền
đề quan trọng làm chuyển đổi từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức.


Nền kinh tế thị trường của Việt Nam đang được hình thành, song hàm lượng
chất xám trong sản phẩm còn thấp, dẫn đến năng lực cạnh tranh thấp khi hội nhập
với kinh tế khu vực và thế giới. Trong thị trường hiện đại, với trình độ khoa học và
công nghệ của sản xuất ngày càng cao, việc sản xuất các loại sản phẩm có hàm
lượng trí tuệ cao có giá trị rất lớn. Như vậy, vai trò của tri thức trong nền kinh tế thị
trường ngày càng được khẳng định; yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao, có

bức tranh rõ ràng vềnăng lực quan trọng mà người học cần phải đạt được, tiếp đến
là xây dựng và phát triển chương trình dạy và học, sau đó giảng dạy và xây dựng
các phương pháp đánh giá nhằm đảm bảo rằng mục đích của giáo dục theo năng
lực đạt được mục tiêu đề ra. Có thể thấy, yếu tố quan trọng của giáo dục năng lực
là xây dựng được các tiêu chuẩn đầu ra rõ ràng thể hiện rõ mục tiêu của giáo dục,
thiết lập được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích người học có thể đạt được
các mục tiêu ấy. Rất nhiều nghiên cứu gần đây đã tập trung nghiên cứu mối liên
hệgiữa giáo dục năng lực và xây dựng chương trình và đánh giá theo năng lực.
Điều này cũng có nghĩa là các năng lực mà người học cần đạt được phải rõ ràng, cụ
thể.
Rõ ràng là, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục theo năng lực là hình
thức chuyển đổi từ việc nhấn mạnh việc giáo viên tin là người học cần phải biết gì
sang việc người học phải nắm rõ mình cần biết gì và có thểlàm gì trong các tình
huống và bối cảnh khác nhau. Do đó, giảng dạy theo năng lực là lấy người học làm
trung tâm và giáo viên giữ vai trò như người hướng dẫn. Phương pháp này giúp
người học chủ động hơn trong việc đạt được năng lực cần phải có theo yêu cầu đặt
ra phù hợp với từng điểm mạnh, điểm yếu của cá nhân. Giảng dạy theo năng lực là
một hình thái giáo dục có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực và bối cảnh. Chính vì thế,


giáo dục theo năng lực tập trung vào đầu ra gắn liền với nhu cầu của thị trường lao
động và xã hội, hoặc cấp học trên.
Bảng 1. Sự khác nhau giữa tiếp cận nội dung và tiếp cận năng lực :
Tiêu thức
Tiếp cận nội dung
Tiếp cận năng lực
Quan niệm Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội Học là quá trình kiến tạo, SV tự tìm
tri thức qua đó hình thành kỹ năng tòi, khám phá, phát hiện, tự hình
thành hiểu biết, năng lực
Mục tiêu Chú trọng cung cấp tri thức, kỹ năng, Chú trọng hình thành các năng lực

thực tế, Học đôi bạn, học theo nhóm,
học theo lớp

Phương pháp tiếp cận CDIO và chuẩn đầu ra
CDIO là chữ viết tắt của các từ: Conceive - hình thành ý tưởng, Design thiết kế, Implement – triển khai và Operate - vận hành, xuất phát từ ý tưởng của
các khối ngành kỹ thuật thuộc 4 trường đại học (ĐH), học viện: ĐH Công nghệ
Chalmers ở Göteborg, Học viện Công nghệ Hoàng gia ở Stockholm, ĐH


Linköping ở Linköping (Thụy Điển) và Học viện Công nghệ Massachusetts (Hoa
Kỳ) vào những năm 1990. PGS,TS. Hồ Tấn Nhựt, Trường ĐH Northridge (Hoa
Kỳ) cho rằng, CDIO là một đề xướng quốc tế lớn được hình thành để đáp ứng nhu
cầu một thập kỷ mới của các doanh nghiệp và các bên liên quan khác trên toàn thế
giới trong việc nâng cao khả năng của sinh viên (SV) tiếp thu các kiến thức cơ bản,
đồng thời đẩy mạnh việc học các kỹ năng cá nhân và giao tiếp, kỹ năng kiến tạo
sản phẩm, quy trình và hệ thống

Hình 1. Phương pháp tiếp cận CDIO
Cho tới nay, chương trình này đã mở rộng hơn 50 trường ĐH trên 25 Quốc
gia. Những quốc gia có các trường ĐH đã áp dụng CDIO: Mỹ có ĐH California,
Daniel Webster, Học viện Công nghệ Massachusetts, Học viện Naval; Ca-na-da có
ĐH Hoàng Gia, Ontario, Calgary, Manitoba,…; Pháp có Telecom Bretagne; New
Zealand có ĐH Auckland; Vương quốc Anh có ĐH Lancaster, Liverpool, Leeds,
Aston (Anh) và ĐH Hoàng Gia Belfast (Bắc Ireland); Thụy Điển có ĐH Kỹ thuật
Chalmers, Jönköping, Linköping…; Phần Lan có ĐH Khoa học ứng dụng KemiTornio; Nam Phi có ĐH Pretoria; Bồ Đào Nha có Học viện cao cấp Engenharia do
Porto; Sin-ga-pore có ĐH Bách khoa,v.v. Ở Việt Nam, việc áp dụng CDIO đang ở
bước đầu thử nghiệm. Năm học 2009-2010, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Thành phố


Hồ Chí Minh bắt đầu áp dụng CDIO để đào tạo một số ngành tại các trường thành

4. Kết luận

Để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo nhân lực trong các cơ sở đào tạo với
yêu cầu của thị trường lao động thì cần thiết phải đổi mới, từ việc xây dựng nội
dung chương trình đào tạo, xây dựng nội dung học phần đến đổi mới phương pháp
giảng dạy theo hướng tiêp cận năng lực người học.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách về chất lượng nguồn nhân lực phục vụ
sự phát triển kinh tế – xã hội đòi hỏi mỗi cơ sở đào tạo cần nhanh chóng thoát
khỏi mô hình giáo dục truyền thống, chuyển sang mô hình giáo dục theo định
hướng tiếp cận năng lực người học, chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát
triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học. Nghĩa là phải thay đổi quan
điểm, mục tiêu dạy học: từ chỗ chỉ quan tâm tới việc người học học được gì đến
chỗ quan tâm tới việc người học làm được cái gì qua việc học.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status