Bài tiểu luận cơ sở văn hóa : đặc điểm,thực trạng phát triển chung cũng như là đề xuất giải pháp giữ gìn và phát triển dòng tranh dân gian Đông Hồ - Pdf 34

Mục Lục
Lời cảm ơn
Chương 1. Giới thiệu tranh dân gian Việt
1.1.Tranh dân gian Việt Nam
1.2.Khái quát về dòng tranh Đông Hồ
1.2.1. Nguồn gốc của tranh dân gian Đông Hồ
1.2.2. Làng tranh Đông Hồ
Chương 2. Đặc điểm dòng tranh dân gian Đông Hồ
2.1.Kỹ thuật làm tranh
2.1.1. Chất liệu làm tranh
2.1.2. Khắc ván
2.1.3. In tranh
2.2.Nội dung tranh
2.2.1.Nội dung tranh Đông Hồ
2.2.2. Một số bức tranh Đông Hồ tiêu biểu
2.3.Nghệ thuật tranh dân gian Đông Hồ
2.3.1. Màu sắc trong tranh
2.3.2. Bố cục trong tranh
2.3.3. Mảng , nét và phối màu
2.3.4. Thơ trong tranh
2.3.5. Tính triết lý của dòng tranh
Chương 3. Giải pháp bảo tồn và phát triển dòng tranh dân gian Đông Hồ
3.1. Đánh giá thực trạng bảo tồn và phát triển dòng tranh dân gian Đông Hồ
3.2. Giải pháp bảo tồn và phát triển dòng tranh dân gian Đông Hồ
3.2.1. Một số chính sách bảo tồn
3.2.2. Giải pháp cụ thể
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

Lời cảm ơn

2


Mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
..Ai về bên kia sông Ðuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai ? …
(“Bên kia sông Đuống”- Hoàng Cầm)
Làng quê Kinh Bắc được biết đến bao đời nay là cái nôi của văn hóa
dân gian Việt Nam . Kinh Bắc yên bình với những triền đê quanh co , những cánh
đồng rộng rãi và bên dòng sông Đuống êm ả. Kinh Bắc cổ kính lâu đời với những
ngôi chùa hàng trăm năm tuổi cùng các làng nghề truyền thống. Kinh Bắc lại đẹp
duyên dáng bên những làn điệu dân ca quan họ.Về với Kinh Bắc là người ta về với
chùa Dâu, chùa Bút Tháp, lăng Kinh Dương Vương ,hay về với làng gốm Phù
Lãng, làng nghề tre trúc Xuân Lai, hội Lim…Về với Kinh Bắc người ta cũng
không quên ghé qua làng Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh) - vùng đất đã nổi tiếng suốt 5 thế kỷ qua với một dòng tranh dân gian được
coi như di sản văn hóa không thể thiếu của người Việt.
“...Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp...”
Tranh Đông Hồ là một trong ba dòng tranh dân gian tồn tại ở Việt
Nam,là di sản văn hóa quý báu của dân tộc ta.Các nghệ nhân dân gian đã dựa trên
3


ra một số đề xuất về việc bảo tồn và phát triển dòng tranh trước xu thế chung hiện
nay.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

4


Ở nước ta đã và đang có rất nhiều hoạt động nghiên cứu cũng như có
nhiều dự án khoa học, ấn phẩm về các làng nghề thủ công. Trước hết phải kể đến
các cuốn sử thời phong kiến: “Đại Việt sử kí toàn thư” của Sứ quán triều Lê,
“Khâm địnhViệt sử thâm giám cương mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn, hay
các sách địa chí như “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Đại Nam thống nhất chí”,…
Đây là nguồn sử liệu quan trọng khi tìm hiểu về nghề và làng nghề truyền thống
nói chung.
Thứ hai là các công trình nghiên cứu về lịch sử các ngành nghề, về các
làng nghề và vùng nghề khác nhau như ba tập “Nghề cổ truyền” do sở Khoa học
công nghệ và môi trường và Sở Văn hóa thể thao Hải Hưng biên soạn và xuất bản;
“Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề”; “Làng nghề , phố Nghề
Thăng Long – Hà nội” của hai tác giả Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo(2000);
Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam của Bùi Văn Vượng;…
Thời Pháp thuộc, tranh dân gian Việt Nam đã được ccacs học giả nước
ngoài quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu, đặc biệt là các học giả người Pháp, Đức,
Nga. Trong đó phải kể đến công lao đóng góp của học giả người Pháp Maurice
Durand với cuốn “ Tranh dân gian Việt Nam”(1960). Một cuốn sách đặc biệt quan
trọng khác của tác giả Henri oger tá bản năm 2009, Kỹ thuật của người An Nam
tập I, II, III. Cuốc sách không chỉ cho ta thấy toàn cảnh đời sống,kinh tế,xã hội,
văn hóa, chính trị của người dân Đông nam Á nói chung và của nhân dân An Nam
nói riêng thời bấy giờ, mà tác giả còn giới thiệu cả những tài hoa nghệ thuật của
người dân An Nam.
Từ khi hòa bình lập lại(1954) đến nay, tranh dân gian Việt Nam đã giới

- Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm,thực trạng phát triển chung củng như là đề xuất
giải pháp giữ gìn và phát triển dòng tranh dân gian Đông Hồ.
- Phạm vi nghiên cứu
+Về không gian: Tìm hiểu Dòng tranh dân gian Đông Hồ tại xã Song Hồ,huyện
Thuận Thành,tỉnh Bắc Ninh
+Về thời gian: Nghiên cứu cho tới ngày 1/12/2015
5. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:

6


-Phương pháp nghiên cứu tài liệu,thống kê
-Phương pháp tổng hợp
-Phương pháp so sánh,đối chiếu
6. Bố cục
Ngoài phần mở đầu,kết luận,tài liệu tham khảo,phụ lục thì bài tiểu luận
có bố cục gồm 3 chương:
Chương 1. Giới thiệu tranh dân gian Việt
Chương 2. Đặc điểm dòng tranh dân gian Đông Hồ
Chương 3. Giải pháp bảo tồn và phát triển dòng tranh dân gian Đông Hồ

7


Nội dung
Chương 1: Giới thiệu tranh dân gian Việt
1.1Tranh dân gian Việt Nam
1.1.1 Khái quát về tranh dân gian Việt Nam
Việt Nam với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và nhân hoá các hiện tượng

góc độ khác nhau. Thần thánh luôn được vẽ to ở giữa, phía trên, còn người bình
thường thì sàn sàn nhau, con vật và cảnh sắc thì tuỳ tương quan mà vẽ to hay nhỏ
để bức tranh gây ấn tượng sâu sắc.
Trong giao lưu văn hoá, tranh dân gian Việt Nam vừa phát triển những
vốn quý của các thời trước tích tụ lại, vừa tiếp nhận những tinh hoa của các dòng
tranh khác để rồi khẳng định những gì thích hợp với dân tộc, làm phong phú hơn
bản sắc của mình.
Ngày nay, tranh dân gian đã bị tranh hiện đại lấn át, hầu hết đã thất
truyền. Tuy nhiên, có một dòng tranh vẫn còn tồn tại trước những thử thách của
thời gian, như tranh Đồng Hồ. Dòng tranh này không những có chỗ đứng ở trong
nước mà nó đã và đang có mặt ở nhiều nước trên thế giới như Nhật, Pháp, Mỹ...
1.1.2 Một số dòng tranh dân gian Việt Nam
Tranh Hàng Trống

Lý ngư vọng nguyệt
Tranh Hàng Trống là một trong ba dòng tranh dân gian tiêu biẻu của
Việt Nam: tranh điệp Đông Hồ (Hà Bắc) Tranh Hàng Trống (Hà Nội) Tranh đỏ

9


Kim Hoàng (Hà Tây). Hàng Trống lại là một trung tâm làm tranh lớn thứ hai ở
Việt Nam, sau Đông Hồ.
Tranh Hàng Trống đã góp phần rất lớn tạo nên nét độc đáo, có một
không hai, sự đa dạng, sâu sắc, vẻ đẹp rực rỡ của tranh dân gian Việt Nam.Tranh
Hàng Trống góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển nghề làm tranh dân gian,
làm cho nghề làm tranh truyền thống Việt Nam trở nên phồn thịnh một thời.
Những sản phẩm nghệ thuật đặc sắc của dòng tranh Hàng Trốngtừ lâu đã rất nổi
tiếng không chỉ ở trong nước, mà còn ở nhiều nước trên thế giới.
Có thể dễ dàng bắt gặp tranh Hàng Trống ở nơi linh thiêng nhất trong

tranh trên chất liệu giấy dó…Các ván khắc in tranh đều phải theo mẫu tranh, các
mẫu tranh do các nghệ nhân đảm nhiệm, gọi là “ra mẫu”. Người “ra mẫu” tranh
thường là người giỏi nhất của từng nhóm thợ, rất tinh tế, giàu kinh nghiệm, nên khi
đặt bút vẽ trên tờ giấy bản là lập tức hiện ra hình ảnh như bay như múa.Người vẽ
mẫu cũng là người đặt lời trên tranh. Chữ trên tranh phải đạt mức: làm rõ nghĩa của
tranh, làm cân đối thêm bố cục tác phẩm, mà không bị rườm rà. Có mẫu tranh phải
sáng tác hàng tháng mới xong.
Đã có không ít nghệ nhân sáng tác mẫu tranh trong suốt lịch sử phát triển
tranh dân gian Việt Nam. Đáng tiếc là nhiều tên tuổi các cụ đã bị thất truyền. Đến
nay, chúng ta chỉ biết một số nghệ nhân “ra mẫu” có tiếng ở thời cận đại và cận
hiện đại, thuộc dòng tranh Hàng Trống. Đó là các cụ Lê Đình Thổ, Lê Đình Liệu
( 1910 – 1973 ) Vũ Văn Nghi…
Tiếp sau đó đến công đoạn bồi tranh.., công đoạn này là một khâu quan
trọng trong quá trình hình thành một tác phẩm, sự thành công, và tồn tại lâu bền
của tác phẩm phụ thuộc vào công đoạn này, nó là sự truyền đạt kinh nghiệm tích
luỹ, khéo léo của những nghệ nhân đời trước để lại cho đời sau. Sau khi đã có được
bản in hoàn chỉnh thì người vẽ tranh dùng bút lông chấm màu để tô lên từng mảng
màu đậm nhạt, tuỳ theo nội dung, đường nét và các loại tranh. Do cách tô màu
bằng tay (vờn màu bằng tay, nét cản) của tranh Hàng Trống có đặc điểm ở mỗi tờ
tranh đều có nét sáng tạo riêng.
Mặc dù có những hạn chế nhất định – do hoàn cảnh lịch sử, môi trường
địa lý và đặc điểm tâm lý thị dân, nhưng dòng tranh Hàng Trống vẫn có những
đóng góp đáng kể vào kho tàng nghệ thuật dân gian Việt Nam, đã để lại những kiệt
tác sống mãi với thời gian. Đó là bức tranh: “Lý Ngư Vọng Nguyệt”, bộ tranh “Tố
Nữ”, bộ tranh “Tùng Cúc Trúc Mai”, “Chim Công”, “Thất Đồng”, “Tam Đa”, “
Chợ Quê”, .vv… và hàng loạt tranh thờ như : “ Ngũ Hổ”, “Bạch Hổ”, “Hắc Hổ”,

11



phát cho các gia đình.Trong quá trình in họ trao đổi ván cho nhau.Hết mùa tranh
họ lại giao ván cho các chủ phường khác cất giữ.
Các cụ ở Kim Hoàng còn nhớ tranh Tết trước đây có nhiều loại khác
nhau, phổ biến nhất là tranh thờ gồm các bức Ông Công (tức Thổ Công), Ông Táo
(tức Táo Quân) và Ông Sư (tức Tiên sư). Đấy là ba vị thần mà các gia đình nông
dân và thợ thủ công rất sùng kính và nhớ ơn. Các tranh để trang trí nhà cửa, đồng
thời để cầu mong làm ăn phát đạt, may mắn, thì có các bức Tiến Tài, Tiến Lộc,
Lợn Gà. Các tranh Đi cày và Đi bừa vừa nói lên sự lao động vất vả, vừa tỏ ý cầu
mong được no ấm. Vui nhất là những tranh về cảnh sinh hoạt tình tứ của trai gái
như Hứng dừa, và cảnh hội làng như Đánh vật, Chọi trâu, Chọi gà tỏ rõ một tinh
thần thượng võ cao. Lại có cả những tranh mang tính răn dạy theo phương ngôn
như Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn, hay theo tích truyện hiếu nghĩa
trong Nhị thập tứ hiếu, hoặc vài cảnh trong truyện Nôm dân gian như Thạch Sanh.
Ngoài ra còn có những bức hoành đại tự “Đức lưu quang” (Đức tốt giữ mãi ánh
sáng) và “Phúc mãn đường” (Phúc chứa đầy nhà) mà trong từng nét chữ còn được
cài hoa lá, thể hiện cảnh sắc bốn mùa. Cùng với những hình ảnh, trong nhiều tranh
còn khắc kèm cả bài thơ hoặc câu đối hay một lời chúc tụng để nói rõ chủ đề của
bức tranh. Tranh Kim Hoàng được nhân dân địa phương gọi là Tranh đỏ, vì nó
được in trên giấy hồng điều hay giấy tàu vàng, lấy màu đỏ của giấy làm nền của
hình, để phân biệt với tranh Hàng Trống in trên giấy trắng mộc, và tranh Đông Hồ
vốn xưa chỉ in trên giấy trắng điệp nên gọi là tranh trắng. Giấy hồng điều và giấy
tàu vàng là loại giấy đã được nhuộm đỏ và bán sẵn ở phố Hàng Ngang, Hàng Mã,
mua về cứ thế dùng ngay không cần gia công thêm nữa.
Màu của tranh, ngoài màn nền, trước hết là “màu đen” in từ ván gỗ lên
giấy.Màu này lấy từ những thỏi mực đen có bán sẵn trên thị trường Hà Nội. Bảng
màu ở Kim Hoàng còn có: trắng, vàng, xanh lơ, xanh lá cây (xanh lục), chàm, tím,
hồng, đỏ sẫm. Trừ màu chàm mua nguyên liệu về chế lấy, các màu khác đều có
bán ở thị trường.Muốn có màu chàm thì đem cây chàm ngâm riêng cành và lá, sau
đó chắt bỏ nước trong, rồi gạn lấy chất cái đánh nhuyễn ra.Màu chàm thường trộn
với mực đen để tạo ra thứ màu xanh đen.Màu trắng thì mua phấn thạch cao, ngâm

ngày Tết ông Táo (23 tháng Chạp). Sớm tinh mơ hôm đó, các gia đình làm tranh ở
Kim Hoàng cho người nhà đi các chợ ở vùng lân cận, như chợ Sấu Giá, chợ Sơn
Đồng, chợ Chùa Thầy, chợ Phùng, chợ Vạng, chợ Trám Trôi, chợ Canh, chợ Diễn,
chợ Tây Tựu . . . để “bỏ que lấy chỗ”. Sau đó ông bà già đeo nải tranh đến bán.
Tương truyền, dòng họ Nguyễn Sĩ là dòng họ làm tranh sơ khởi người
Thanh Hoá theo mẹ ra Thăng Long rồi lập nghiệp ở đây. Trận lụt năm 1915 làng
mạc ngập trắng từ Phùng đến Cầu Giấy, cuốn trôi nhiều ván in tranh của
làng.Tranh Kim Hoàng dần bị thất truyền, đến năm 1945 thì hoàn toàn không còn

14


sản xuất nữa.Ngày nay, một vài ván in của dòng tranh này còn được lưu giữ ở bảo
tàng Mỹ Thuật Việt Nam.
Tranh làng Sình

Tranh Hội bài chòi
Làng Sình có tên chữ là Lại Ân thuộc tổng Hoài Tài, huyện Tư Vang,
phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hoá, Phú Vang. Làng nằm ở ven bờ Nam hạ lưu sông
Hương, cách Huế không xa (bên kia sông Bảo Vĩnh). Làng Sình nổi tiếng về hội
vật mùng mười tháng giêng.Nhưng làng Sình còn nổi tiếng về một nghề làm tranh
thờ in ván khắc. Trước kia hầu hết tranh thờ in ván bày bán ở chợ vùng này là do
dân làng Sình làm, nên gọi là "tranh Sình".
Thời hưng thịnh của tranh Sình, những người trong các gia đình ở đây
đều biết in và tô màu cho tranh. Tranh làm ra bán buôn ngay tại nhà hoặc bán cho
hàng mã ở chợ, có khi được đặt từ trước. Giấy in tranh là giấy mộc, màu trước kia
lấy màu từ tự nhiên (thực vật, kim loại, sò điệp), sau là phẩm hoá học gồm các màu
cơ bản đỏ, vàng, xanh và đen. Bản khắc từ gỗ mít. Tranh ở đây in lối ngửa ván rồi
dùng tay vuốt giấy cho phẳng, in lấy một nét và mảng đen, sau dựa vào đấy mà tô
màu. Một số tranh in đen xong là hoàn chỉnh.

Làng tranh Đông Hồ xưa là làng nghề nổi tiếng về tranh dân gian, thuộc
xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội chừng trên 35 km.
Làng Đông Hồ (đôi khi dân địa phương chỉ gọi là làng Hồ) nằm trên bờ phía nam
của con sông Đuống hài hòa , cạnh bến đò Hồ. Từ Hà Nội đi Đông Hồ du khách
thường qua các địa danh khá nổi tiếng của huyện Gia Lâm (Hà Nội) như phố Sủi,
chợ Keo, chợ Dâu (Thuận Thành-Bắc Ninh). Dọc theo triền đê với những ngôi nhà
tường gạch nổi bật giữa màu xanh của cánh đồng lúa, thấp thoáng những sân phơi
16


tranh với màu sắc xanh đỏ,xa xa là dòng sông Đuống chảy êm đềm, ta đến với làng
tranh.
Lịch sử cũng như sự phát triển của làng tranh Đông Hồ gắn liền với lịch
sử và phát triển của dòng tranh Đông Hồ truyền thống.Tên gọi dân gian xưa của
làng tranh Đông Hồ là làng Mái. Chỉ sau một thời gian gắn bó với nghề làm tranh
mà người ta gọi nó là làng Hồ hay làng Đông Hồ.Tranh Đông Hồ ra đời vào
khoảng thế kỷ thứ XVI với số lượng mẫu tranh vô cùng phong phú mà không ai
thống kê hết được, chỉ biết gồm có 5 loại chính là :tranh thờ, tranh chúc tụng,tranh
sinh hoạt,tranh lịch sử và tranh giáo dục.Có một điều đặc biệt ở một làng tranh đã
hơn 500 năm tuổi là chưa ai từng nghe đến ông tổ của làng nghề. Bởi lẽ tinh hoa
của nghề đã được những người làng tranh – những bàn tay nghệ nhân truyền từ đời
này sang dời khác, thế kỷ này sang thế kỷ khác. Từ cuối thế kỷ XIX đến 1944 là
thời kì hưng thịnh của làng tranh. Lúc ấy, trong làng có 17 dòng họ thì tất thảy đều
làm tranh. Đến hẹn lại lên, cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hàng năm là cả làng đã tất
bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không
một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ
sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc
nhà, nóc bếp….Không khí trong làng rộn rạo từ sáng đến tối suốt mấy tháng liền
như thế. Thế rồi làng tranh nhộn nhịp với hội tranh giữa những ngày tháng Chạp,
đặc biệt là các ngày mùng 6, 11,16,21 và 26. Bà con và du khách thập phương

khách về với làng tranh cũng rất hài lòng trước sự hiếu khách của dân làng. Đó
cũng chính là một nét Kinh Bắc khiến cho người ta đến một lần và nhớ mãi…
Như vậy, làng tranh Đông Hồ cùng dòng tranh mang hồn dân tộc ấy trải
qua biết bao thăng trầm đã trở thành một thói quen tâm linh, một phong tục tín
ngưỡng của người Việt, đặc biệt là người Bắc. Một vài tờ tranh bên cạnh mâm ngũ
quả đã trở thành thứ mà các bà các chị không quên sắm cho gia đình mỗi dịp tết
đến xuân về.

Chương 2: Đặc điểm dòng tranh dân gian Đông Hồ
2.1. Kỹ thuật làm tranh
2.1.1 Chất liệu làm tranh
”Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sống bừng trên giấy điệp”

18


Nét dân gian đáng yêu của tranh Đông Hồ quả thực cũng nằm ở màu sắc
chất liệu giấy in.Bí quyết của màu sắc trong tranh là ở chất điệp. Điệp là màu tráng
có ánh sáng lấp lánh. Chất bột trắng lấy tõ vá con điệp ở biển.
Tranh khắc gỗ dân gian Đông Hồ thường in trên giấy dã quét điệp. Do đó, trước
khi in quét điệp bằng chổi thông và tạo thành các đường ganh. Có thể nói, cái đặc
biệt của tranh Đông Hồ ở chỗ đó mà tranh Hàng Trống, tranh làng Sinh… không
thể có màu sắc muôn ngàn hồng tía của tranh, còng không thể có nền giấy điệp
quyến rũ đó. Các ván gỗ khắc tranh thường làm từ gỗ thị loại gỗ này ít lồi, mịn
màng, dẻo quánh, dùng in tranh rất bền.

Tranh đấu vật
Màu sắc tô đẹp bức tranh. Màu sắc trong tranh Đông Hồ mang đến cho
người xem vẻ đẹp mộc mạc trở thành nét riêng trong tranh Đông Hồ. Muốn giá

nàylà những người có tay nghề chạm khắc giỏi.Để có tranh in màu,ván in làm 2
loại.Ván in nét và ván in màu.Ván in nét làm bằng gỗ thị,gỗ mơ hay gỗ lồng
ngực,là loại gỗ rắn,bền,thớ dẻo và mịn.Khi tiếp xúc với nước là không bị nở
thớ và còn có khả năng làm cho nét khắc trên ván in dai,đứng vững,không
gãy,không đổ.
Ván in các mảng màu thì bằng gỗ dổi hay gỗ vàng tâm,là loại gỗ
nhẹ,thớmềm xốp,dễ hút màu,do đó in đậm màu thuốc.Gỗ dùng khắc ván in phải xẻ
trước một,hai ba năm để khô mới dùng.Khi in ván gỗ gặp nước không bị cong
vênh.
Các ván in tranh Đông Hồ chỉ in một mặt.Dụng cụ khắc ván là những
mũiđục còn gọi là những “ve” bằng thép cứng.Trong khi đó nhiều nước trên thế
giới gỗ làm in tranh là gỗ anh đào là phần lớn dùng dao khắc mũi nhọn đầu để
khắc ván.
Khi khắc ván,người cầm ve bằng tay trái,đặt lưỡi ve lên cạnh nét vẽ,tay
phảicầm dùi đục đập mạnh lên đầu cán ve.Khắc nét thẳng thì dùng ve lưỡi
thẳng,khắc nét cong thì dùng ve lòng máng.Cứ thế tùy đường thẳng hay cong
20


của nét vẽ mà lựa chọn lưỡi ve to hay nhỏ,cong nhiều hay ít cho ăn khớp với
nét vẽ.Về sau người thợ khắc ván làng Hồ còn dùng thêm loại dao khắc mũi
nhọn mài một má.
Các ván in làng Hồ khắc bằng mũi ve nên nét vẽ khắc ván thường
to,đậm,sâu nét và đứng cạnh.Có thể nói nếu ván in tranh hàng Trống to,rộng,đầy
đặn,tờ tranh to rộng đến đâu ván in củng khổ thì ván in tranh Đông Hồ thường khổ
nhỏ,nhẹ,tiện cầm trên tay khi in.Nếu là những tranh khổlớn rộng như Tứ Bình,Tố
Nữ,tranh Truyện Kiều,tranh Tứ Quý thì các ván in tranh không to bằng khổ tranh
mà được cắt nhỏ bằng 3,4 ván,thường in tranh phải in ghép các ván lại cho thành
một bản khắc trọn vẹn.
Ván khắc in tranh có 2 loại: ván in nét và ván in màu. Ván in nét thường

Tranh Đông Hồ phản ánh được tâm tư, nguyện vọng và những ước mơ
bình dị, gần gũi với cuộc sống đời thường. Nghệ nhân tranh Đông Hồ cũng là
người dân lao động. Họ đã gửi tâm tư tình cảm của mình vào tác phẩm, vì vậy
tranh Đông Hồ luôn gây được ấn tượng sâu lắng trong lòng người.Thật vậy, cái
làm nên nét đẹp và đặc biệt ở tranh Đông Hồ để cho người ta đã nhìn là muốn
ngắm mãi, là phải suy ngẫm chính là ý nghĩa của tranh. Tranh dân gian Đông Hồ,
đúngnhư cái tên gọi của nó,là thế giới thu nhỏ của cuộc sống làng quê Việt Nam.
Mỗi bức tranh đều mang một ý nghĩa nhân sinh riêng, biểu hiện nhiều
góc độ tâm trạng của con người, mang trong nó là cả những ước vọng của người
dân, từ những ước mong giản dị cho tới những điều cao quý. Đó có thể là mong
ước về một cuộc sống no ấm của nhà nông với sự thể hiện của tranh "Mẹ con đàn
lợn", hay sự thể hiện ý chí kiên cường bất khuất của đấng nam nhi với "Tranh gà
trống" sặc sỡ và oai vệ, và nó cũng thể hiện cho 5 đức tính quý của con người: văn
(vẻ đẹp – mào gà), vũ (cứng rắn – cựa gà), nhân (lòng thương yêu đồng loại – khi
kiếm được mồi luôn gọi đàn đến cùng ăn), dũng (sức mạnh – gặp kẻ thù thì kiên
quyết chống lại), tín (hàng ngày báo giờ rất đúng). Tranh gà đẹp và ý nghĩa như
thế, nên nhà thơ Đoàn Văn Cừ đã viết trong bài thơ Chợ tết: "Lũ trẻ còn mải ngắm
bức tranh gà/ Quên cả chị bên đường đang đứng gọi". Còn tranh "Đám cưới chuột"
lại là một minh chứng sống động và hóm hỉnh cho quan hệ mạnh hiếp yếu trong xã
hội. Chuột làm đám cưới phải lo lễ vật cống cho mèo, cầu xin mèo để yên cho đám
cưới được tiến hành.Hoặc thầy đồ cóc lại nói về lớp học nghiêm túc,nhìn qua có
thể thấy thầy đồ rất gia trưởng,ở dưới thì lớp học đang ôn bài,còn bức tranh Hứng
Dừa thì lại chỉ một gia đình hòa thuận,vợ hứng chồng chèo,trong như ngọc trắng
như ngà. Dù được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng tranh dân gian
của các dòng tranh đều có điểm giống nhau là luôn đề cao cái đẹp, đề cao đạo lý
22


làm người, giáo dục những phẩm chất tốt và cầu mong những điều tốt đẹp trong
cuộc sống.

tham ô, cướp bóc của bọn tham quan.

Ngũ hổ
Ngũ Hổ Thuộc thể loại tranh thờ, tranh “ngũ hổ” Đông Hồ tuy không
nổi tiếng bằng tranh “ngũ hổ” Hàng Trống nhưng cũng là nột bức tranh ẩn chứa
nhiều mật mã và ý nghĩa. Một ông hổ màu vàng ngự ở giữa tranh nghiêm trang, uy
nghi ,trong lòng ôm hòm ấn có nhãn quẻ càn,xung quanh có 4 ông hổ con bốn màu
xanh, đỏ, đen, trắng tượng trưng cho thuyết Âm Dương Ngũ hành: hỏa-hổ đỏ,
mộc-hổ xanh, thủy-hổ đỏ, kim-hổ trắng, thổ- hổ vàng. Bức tranh này thể hiện
nguyên lý Ngũ hành tương khắc, từ trái sang phải, ngược chiều kim đồng hồ và từ
dưới lên. Đây là một nét tâm linh mà người Việt đã trân trọng và quan niệm từ xưa.
Nhảy đầm

24


Ai cũng biết trong phong trào Âu hóa, cái món “nhảy đầm” đã được du
nhập vào Việt Nam khiến các cụ đồ Nho phải lắc đầu lè lưỡi.Nhảy đầm đã đi vào
tranh Đông Hồ với bức tranh cùng tên, và hiện nay vẫn còn ván khắc để in. Bức
tranh mô tả một quầy bar, có ly, cốc, có bồi bàn, có rượu vang hoặc champagne,
hình vẽ cũng thô mộc thôi, nhưng rất rõ một sinh hoạt thuộc địa, với hai cặp giai
thanh gái lịch trong điệu valse uyển chuyển.
Vinh hoa phú quý

Vinh hoa- phú quí cũng thuộc loại tranh chúc tụng,bộ tranh “vinh hoaphú quí” đã trở thành biểu tượng đẹp về sự phát triển phồn thịnh, hạnh phúc gia
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status