ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài: Nghiên cứu đặc điểm địa chất công trình khu vực Đông
Nam thị trấn Mèo Vạc nhằm đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển
bền vững Di sản Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng
Văn, tỉnh Hà Giang
Mã số đề tài:
QG.12.14
Chủ nhiệm đề tài:
ThS. Đặng Văn Luyến
Hà Nội, tháng 1 năm 2015
PHẦN I. THÔNG TIN CHUNG
1.1. Tên đề tài/dự án: Nghiên cứu đặc điểm địa chất công trình khu vực Đông Nam
thị trấn Mèo Vạc nhằm đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững Công viên
Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
1.2. Mã số: QG.12.14
1.3. Danh sách chủ nhiệm, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT
Chức danh, học vị, họ và
tên
Khoa Địa chất, ĐHKHTN
Thành viên
7. HVCH. Nguyễn Mạnh Hiếu Khoa Địa chất, ĐHKHTN
Thành viên
1.4. Tổ chức chủ trì:
1.5. Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng:
Chủ trì
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014.
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng….. năm…..
1.5.3 Thực hiện thực tế:
từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014.
1.6. Thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có)
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên
nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý )
Ngày 15/06/2013 chủ trì đề tài đề nghị bổ xung PGS.TSKH. Trần Mạnh Liểu,
chuyên gia Địa chất công trình - Địa kỹ thuật hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đô
thị thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. PGS. TSKH. Trần Mạnh Liểu và NCS Nguyễn Quang
Huy vào nhóm thành viên của đề tài, hai thành viên này sẽ đảm nhận các nội dung nghiên
di sản địa chất phù hợp với yêu cầu giao lưu hội nhập quốc tế; đã đề nghị thành lập và xếp
hạng các di sản địa chất và các khu bảo tồn địa chất...Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân
quá trình nghiên cứu di sản địa chất tại Cao nguyên đá Đồng Văn còn tiến triển với tốc độ
rất chậm so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt là các nghiên cứu về Địa
chất công trình của các khu vực có các di sản còn rất hạn chế thường là các nghiên cứu
trên phạm vi công trình đơn lẻ cho mục đích xây dựng. Đề tài QG.12.14 đã đi sâu nghiên
cứu và tìm ra mối liên quan giữa các đặc điểm thạch học, khoáng vật và tính chất cơ lý của
các nhóm đất đá với sự hình thành và bảo tồn các di sản địa chất của khu vực Đông Nam
thị trấn Mèo Vạc. Đề tài còn tìm ra loại hình tai biến địa chất thường xảy ra và gây tác hại
cho khu vực, đề xuất các phương pháp giảm thiểu các tai biến nhằm bảo vệ các di sản địa
chất một cách phù hợp và hiệu quả.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài còn tìm ra loại vật liệu xây dựng có sẵn, rẻ
tiền và là vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường là đất sét pha, cát pha…dùng để làm
vật liệu trình tường nhà cho đồng bào các dân tộc giúp hạn chế tập quán ghè, đập vỡ các
cột đá, măng đá để lấy đá xây tường rào và xây nhà mà không làm ảnh hưởng xấu, hủy
2
hoại giá trị quí giá của các di sản địa chất.
Từ khóa: Công viên địa chất, cao nguyên đá, di sản vật thể, rừng đá, hẻm vực, tai
biến địa chất, đất trình tường, phát triển bền vững.
2.1. Đặt vấn đề
Di sản địa chất (DSĐC) là phần tài nguyên địa chất có giá trị nổi bật về khoa học,
giáo dục, thẩm mỹ và kinh tế. Chúng bao gồm các cảnh quan địa mạo, các hang động, hẻm
vực sông, hồ tự nhiên, thác nước, các diện lộ tự nhiên hay nhân tạo của đá và quặng, các
di chỉ cổ sinh; các thành tạo, cảnh quan còn ghi lại những biến cố, bối cảnh địa chất đặc
biệt; các địa điểm mà tại đó có thể quan sát được các quá trình địa chất đã và đang diễn ra
hàng ngày v.v… Cũng như các di sản khác, DSĐC là tài nguyên không tái tạo được, cho
nên cần được bảo tồn, quản lý và khai thác sử dụng hợp lý cho sự phát triển bền vững của
đất nước. Việc điều tra, nghiên cứu di sản địa chất và xây dựng công viên địa chất nhằm
Mẫu đất đá được lấy từ các hố đào, tại các ta luy và các điểm lộ trong hành trình
khảo sát được tiến hành cho các thí nhiệm sau: i) Phân tích thành phần hạt; ii) Giới hạn
chảy, dẻo và chỉ số dẻo; iii) Độ ẩm tự nhiên; iv) Dung trọng; v) Tỷ trọng; vi) Đầm nện tiêu
chuẩn; vii) Thí nghiệm thấm; viii) Thí nghiệm cắt phẳng; ix) Cường độ kháng nén mẫu đá;
x) Phân tích mẫu lát mỏng của đá và xi) Phân tích pha của đất và đá trên máy nhiễu xạ kế
Rơn ghen.
Kết quả thí nghiệm trong phòng trình bày ở các biểu bảng tổng hợp và dùng để luận
giải các nội dung mà đề tài đã đặt ra trong các mục dưới đây.
2.4. Tổng kết kết quả nghiên cứu
2.4. 1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
Địa hình
Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 57.384 km2. Địa hình của huyện khá phức tạp,
chủ yếu của là núi đá vôi, độ cao trung bình 1.150m so với mực nước biển, độ dốc trung
bình là 25o -35o. Về tổng thể, địa hình Mèo Vạc phân thành ba tiểu vùng có địa hình, địa
chất và thế mạnh kinh tế khác nhau: i) Tiểu vùng phía bắc là tiểu vùng giáp biên giới gồm
3 xã: Sơn Vĩ, Thượng Phùng và Xín Cái. Địa hình thấp dần từ biên giới Việt - Trung
xuống dòng sông Nho Quế; ii) Tiểu vùng giữa bao gồm 10 xã ở khu vực trung tâm bao
gồm cả thị trấn Mèo Vạc nằm trên địa tầng đá vôi có nhiều khe, dốc, hố sụt địa chất và
hầu như không có suối hoặc khe nước, duy nhất có nguồn nước ở rừng đầu nguồn từ Dải
Chí Sán và iii) Tiểu vùng phía nam gồm 4 xã: Niêm Sơn, Nậm Ban, Tát Ngà và Khâu Vai
được coi là tiểu vùng núi đất chiếm khoảng 50% tổng diện tích, có độ dốc lớn.
Địa chất
Trong khu vực nghiên cứu lộ ra khá đầy đủ các trầm tích từ Cambri đến Trias với
g. Hệ tầng Đồng Đăng (P3 dd) : Các vỉa hoặc các thấu kính, hoặc dạng ổ quặng
bauxit nằm trên mặt bào mòn của đá vôi thuộc hệ tầng Bắc Sơn, kèm theo là các lớp silic
lục nguyên, sét vôi, cát kết và sét than thuộc tướng ven bờ. Trong khu vực nghiên cứu, các
trầm tích của hệ tầng phân bố chủ yếu ở phía TN thị trấn Mèo Vạc, tạo thành dài hẹp
hướng TB – ĐN.
h. Hệ tầng Sông Hiến (T1 sh) : Thành phần thạch học chủ yếu của hệ tầng gồm cát,
bột kết xen các đá phun trào từ axit đến bazơ và các tuf của chúng, các sản phẩm bom và
tro núi lửa. Ngoài ra cũng gặp các thấu kính đá vôi, đá vôi sét, đá vôi silic xen trong các đá
lục nguyên. Các đá của hệ tầng chiếm phần lớn diện tích phía N-TN thị trấn Mèo Vạc, tạo
nên các đỉnh núi cao của dải núi Miêu Vạc.
Các thành tạo được mô tả trong phức hệ Cao Bằng (vµT1 cb) gồm khối xâm nhập
có dạng nêm vát đầu kéo dài theo hướng Bắc Nam. Khối phân bố tại khu vực Tây Nam thị
trấn Mèo Vạc. Thành phần thạch học gồm các đá gabro hạt nhỏ đến vừa. Chúng xuyên cắt
và làm biến chất các đá phiến sét và sét kết hệ tầng Mia Lé.
Khí hậu
Mèo Vạc nằm ở khu vực núi cao có địa hình phân cắt mạnh trong điều kiện khí hậu
nhiệt đới gió mùa mang đặc thù của khí hậu cao nguyên: mùa đông rét buốt kéo dài với
nhiệt độ trung bình khoảng 15.70C, lượng mưa trung bình năm là 1,600-1,700 mm; độ ẩm
trung bình năm khoảng 80%; tổng số giờ nắng trong năm là 1427-1500 giờ và tổng mức
nhiệt độ trong năm là 5725 độ.
5
Thủy văn
hóa trung bình: Chỉ tiêu cơ lý có giảm hơn nhiều so với đới đá tươi. Dung trọng khô trung
bình là 2,65 g/cm3 đến 2,68 g/cm3, cường độ kháng nén trung bình ở trạng thái bão hòa là
100 kG/cm2; iii) Đới phong hóa mạnh: Dung trong bão hòa trung bình là 2,65 g/cm3,
cường độ kháng nén ở trạng thái bão hòa trung bình là 43 kG/cm2; iv) Đới phong hóa triệt
để: Chủ yếu là sét, á sét lẫn dăm cục đá gốc, các tính chất cơ lý cao hơn đất Eluvi.
Tính chất cơ lý của mẫu đá vôi
Đá vôi, đá đôlomit thuộc các hệ tầng Nà Quản, hệ tầng Bắc Sơn, các đá vôi loại này
có mặt trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là đới phong hóa trung bình và đới đá tươi. Đá
có chỉ tiêu cơ lý cao, dung trọng bão hòa trung bình là 2,7g/cm3, cường độ kháng nén ở
trạng thái bão hòa là 450 kG/cm2 trong đới đá tươi.
6
2. Đặc tính cơ lý của đất mềm rời
Nhóm đất mềm rời được gọi chung cho trầm tích aluvi, deluvi-eluvi và eluvi.
Kết quả thí nghiệm tính chất cơ lý mẫu đất trình bày ở bảng 4.1 đến 4.4.
Đất deluvi-eluvi, eluvi
- Đất trên nền đá cacbonat: Đất sét pha màu nâu đỏ. Đất có trạng thái cứng, kém
chặt ở điều kiện thiên nhiên, lẫn 13-17% dăm sạn, độ ẩm tự nhiên 31,4%, dung trọng khô
trung bình 1,38g/cm3. Cường độ kháng cắt ở trạng thái bão hòa = 18o; C = 0,22 kG/cm2.
- Đất trên nền đá trầm tích: Đất sét, sét pha màu xám vàng, nâu đỏ phớt xanh, phớt
trắng lẫn 18-20% dăm sạn. Đất có trạng thái cứng, chặt ở điều kiện thiên nhiên, độ ẩm tự
nhiên 25,2%, dung trọng khô trung bình 1,57g/cm3. Cường độ kháng cắt ở trạng thái bão
hòa =17o, C=0,22 kG/cm2.
7
Sự có mặt của đứt gẫy trẻ phương á kinh tuyến và ĐB-TN có độ mở lớn là điều
kiện rất thuận lợi cho nước chảy sâu vào lòng đất. Quá trình hòa tan, tạo hang động xẩy ra
ở qui mô nhỏ. Vì vậy dễ dàng nhận thấy các khu vực này ít hang động vì nước rút xuống
sâu quá nhanh theo các khe nứt thẳng đứng và mặt phân lớp. Tại khu vực nghiên cứu, loại
cảnh quan kỳ thú này có thể gặp tại khu vực phía tây, đông và đông nam nơi phát triển các
đá Cacbon – Pecmi thuộc hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs).
Các đá dạng khối nhưng có cấu tạo phân dải hạt thô và chứa ít tạp chất sét. Dưới
tác dụng của nước mưa và nước mặt ở trạng thái vùi lấp nông trên bề mặt, dải khoáng vật
hạt thô rất dễ bị rửa lũa, hòa tan tạo nên các rãnh xói, thớ chẻ có kích thước lớn và có diện
phân bố rộng.
Đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Đăng (P2 đđ) là loại đá vôi sét silic nên trên giản đồ
nhiễu xạ kế Rơn ghen ngoài khoáng vật canxit đá (MV-20) còn chứa cả thạch anh thể hiện
bằng các pic nhiễu xạ (d=3.36 Ao (16) và d= 4,26 Ao (4). Có thể nói loại đá vôi này không
thể tạo nên “rừng đá” đẹp vì đá không tinh khiết về thành phần sẽ khó hòa tan hơn.
2.4.5.
Giải pháp phát triển bền vững cho khu vực ĐN thị trấn Mèo Vạc trong
Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn
Hiện tượng xâm thực bóc mòn
Hệ thống mương xói phát triển rất mạnh mẽ ở cả hai bên sông Nho Quế. Rãnh xói
có chiều dài hàng trăm mét theo hướng vuông góc với dòng sông. Chiều rộng mương xói
trên đoạn đầu từ 1-5m, ở đoạn cuối mở rộng từ 10 đến 30m. Các mương xói khoét sâu vào
lớp vỏ phong hoá trên bề mặt sườn từ 1-2m đến 10-20m và tạo nên các vách trượt lở rất
lớn.
một phần bị phủ bởi sét, mùn cây và tảng lăn đá vôi. Những dạng địa hình karst loại này
có thể gây ra những tai biến dây chuyền như gây hư hại công trình, nhà cửa, cầu cống.
Giải pháp giảm thiểu:
Cần thận trọng khi sử dụng các hố sụt karst để làm bãi chon lâp rác thải. Nó chỉ
thực sự an toàn khi trước khi sử dụng lớp đáy phễu karst cần được trải phủ một lớp vật
liệu cách nước (sét, sét bụi…).
Hiện tượng đá rơi, đá đổ
Tại khu vực nghiên cứu có rất nhiều điểm có dấu hiệu cảnh báo đá đổ (xem Sơ đồ
địa chất công trình). Hiện tượng này có thể xảy ra bất kỳ lúc nào dù trời có mưa hay nắng,
tuy nhiên khi trời mưa nước bôi trơn các hạt, làm cho sức chống cắt của đất đá giảm đi rõ
rệt (theo thống kê góc ma sát trong giảm tới 10-15%).
Tuy nhiên, tai biến dổ sập đất đá có thể xảy ra do các hoạt động nhân sinh bất cẩn.
Vào tối 16/5/2014, tại công trường Thuỷ điện Nho Quế 2 đã xảy ra vụ sạt lở đá với khối
lượng khoảng 25.000m3, làm 1 người chết, 4 người mất tích, 5 người bị thương trong đó
có 2 người bị thương nặng. Thiệt hại về tài sản gồm 2 máy xúc, 1 máy múc, 1 trạm trộn bê
tông, 3 ô tô tải, 1 máy ủi, 1 máy cẩu. Tổng thiệt hại khoảng hơn 10 tỷ đồng.
Giải pháp giảm thiểu: Hiện tượng này thường xảy ra khi đá bị các khe nứt chia cắt,
tách thành từng khối lớn. Khi góc mái dốc dựng đứng, những tảng đá này rất dễ rơi từ trên
sườn dốc xuống gây ra tai biến đá đổ. Điều này lại càng nguy hiểm hơn khi các khối đá va
vào nhau và cùng nhau rơi từ trên cao xuống.
Lũ ống, lũ quyét
Rạng sáng ngày 5/8/2014, hoàn lưu của cơn bão số 2 gây mưa lớn tại khu vực thị
trấn Mèo Vạc và phụ cận. Nước lũ tại hai khu vực rừng đầu nguồn Tò Đú và Tả Ván đã
bất ngờ đổ về khu vực dân cư của Tổ 1, Tổ 2 và Thôn Sảng Pả B của Thị trấn Mèo Vạc.
Trong vùng hồ của thủy điện Nho Quế 1,2 và 3 phân bố các đá vôi bị Karst hóa của
các hệ tầng Bắc Sơn và Nà Quản, ngoài ra còn thấy các đá cách nước của hệ tầng Mía Lé.
Hệ tầng Bắc Sơn (C – P bs) gồm đá vôi phân lớp dầy, dạng khối có xen kẹp đá vôi
phân lớp mỏng, đá vôi của hệ tầng này bị karst hóa mạnh, gặp nhiều hang ở các cao trình
khác nhau.
Hệ tầng Nà Quảng (D1-2 nq) phân bố rộng rãi trong vùng, thành phần gồm đá vôi
đôlômit, đôlômit, đá của hệ tầng này bị karst hóa yếu, gặp 1 số hang khô và hốc nhỏ ở
trong phạm vi vùng hồ.
Như vậy chỉ với sự có mặt của 1 trong 2 hoặc cả 2 hệ tầng kể trên thì nguy cơ lòng
hồ bị mất nước là khó tránh khỏi.
Giải pháp giảm thiểu
Một số giải pháp thường được áp dụng để giảm sự mất nước của hồ và qua vai đập
là làm màn chống thấm bằng cách phun vữa xi măng xuống trám các ổ karst, các đứt gẫy
và nứt nẻ lớn nằm trong khu vực có khả năng xảy ra mất nước.
2.4.6.
Mức độ tổn thương của hệ thống tự nhiên- xã hội khu vực nghiên cứu
Sơ đồ mức độ tổn thương khu vực Đông Nam thị trấn Mèo Vạc được thực hiện
bằng việc xây dựng các sơ đồ thành phần như: i) Sơ đồ phân bố các tai biến và mức độ
thiệt hại do tai biến gây ra; ii) Sơ đồ mật độ đối tượng bị tổn thương và iii) Sơ đồ về khả
năng chống chịu của hệ thống tự nhiên xã hội.
10
Mức độ tổn thương khu vực ĐN Mèo Vạc được chia thành 3 vùng theo mức độ từ
Điểm dừng du lịch và nghiên cứu khoa học Lũng Pù-Khau Vai
Khu vực Khau Vai - Lũng Pù, huyện Mèo Vạc cũng là một trong số những khu vực tích
hợp phong phú các loại hình di sản địa chất của Cao nguyên đá.
+ Về địa mạo: Vùng Khau Vai - Lũng Pù nằm trên bề mặt san bằng 1.000-1.300 m với
cảnh quan hoang mạc đá điển hình, các khối karst dạng vòm, các nón rời kiểu fenglin và karst
dạng dãy hướng TB-ĐN và ĐB-TN. Xen kẽ giữa chúng là các thung lũng thoải và hố sụt karst.
Đây là những địa hình karst ở giai đoạn phát triển cuối cùng được bảo tồn từ thời kỳ Pliocen
giữa (cách đây khoảng 2,5 đến 3,6 triệu năm).
+ Về cổ sinh: Trong đá vôi hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs) ngay tại ngã ba Lũng Pù đã phát
hiện được một tập hợp hóa thạch phong phú gồm Huệ biển (Crinoidea), Cúc đá (Ammonoidea),
San hô gờ ráp (Rugosa) và Trùng thoi (Fusulinida) .
11
+ Di sản khoáng vật – khoáng sản: Quặng bauxit nằm trực tiếp trên bề mặt bóc mòn của
đá vôi hệ tầng Bắc Sơn. Ngoài ra, vùng Lũng Pù còn là nơi có mặt khoáng sản bauxit nằm trực
tiếp trên bề mặt bào mòn của đá vôi hệ tầng Bắc Sơn.
+ Đa dạng môi trường cổ sinh thái: i) môi trường biển nông: các hệ tầng Chang Pung,
Lutxia, Băc Bun, Mia Lé, Đồng Đăng, Hồng Ngài, Yên Bình; ii) bối cảnh rift nội lực: hệ tầng
Sông Hiến; iii) môi trường biển sâu: hệ tầng Si Phai, Tốc Tát, Lũng Nậm; và iv) Môi trường lục
đại ven bờ: hệ tầng Sika.
+ Khu vực có mặt nhiều loại đá vôi được thành tạo từ các môi trường địa chất và giai
đoạn phát triển khác nhau: i) Đá vôi có tuổi C-O dày trên 798m thành tạo trong môi trường biển
nông, ii) Đá vôi có tuổi Devon dày trên 280m thành tạo trong môi trường biển sâu, iii) Đá vôi
có tuổi C-P dày trên 1000m thành tạo trong môi trường thềm cacbona; và iv) Đá vôi Trias dày
từ 400-600m hình thành trong môi trường thềm cacbonat.
2.4.8. Phát lộ rừng đá trên đường thị trấn Mèo Vạc – Khau Vai
Về phát lộ rừng đá: Trong thời gian trước mắt có thể chọn 2 điểm có điều kiện
thuận lợi về mặt địa hình để phát lộ rừng đá. Điểm thứ nhất đề xuất phát lộ rừng đá ở gần
phần trăm tối thiểu của hỗn hợp sét bụi nằm trong khoảng 20-25%, trong khi giới hạn tối
đa đạt tới 30-35%. Tương tự tỷ lệ phần trăm tối thiểu của cát là 50-55% trong khi giới hạn
tối đa là 70-75%.
Tính dẻo của đất
Theo Houben & Guillaud (1994) giới hạn chảy của đất cần nằm trong khoảng 25%
đến 50% (tốt nhất là 30-35%) và giới hạn dẻo nằm trong khoảng 10-25% (tốt nhất là 1222%). Chỉ số dẻo PI cho biết hàm lượng của thành phần hạt sét trong mẫu và đặc trưng
của đất. Chỉ số dẻo càng cao chỉ ra hàm lường sét cao hoặc/và hạt tính của đất sét lớn và
đất sẽ có độ co ngót lớn khi phơi khô.
Như vậy khi so sánh tính chất vật lý của 13 mẫu đất tầng mặt có thể sử dụng để
làm đất trình tường (Bảng 4.4) với yêu cầu thành phần của đất dùng làm đất đầm nện
(Bảng 5.3 và Hình 5.2) ta có thể có một vài nhận xét sau:
a. Đất tầng mặt của khu vực phần lớn là bụi có tính dẻo thấp, có ký hiệu phân loại
là MH/ML (10 mẫu) và CL (1 mẫu) hoặc SC (2 mẫu).
b. Trong số các mẫu thí nghiệm chỉ có 6 mẫu đó là: MV-61a, MV-66, MV-83,
MV-48, MV-33b và MV-42 là phù hợp làm vật liệu đất trình tường. Các mẫu đất còn lại
thuộc loại ít phù hợp (5 mẫu) và hai mẫu đất bụi sét màu nâu đỏ (terra rosa) là đất tàn tích,
sườn tích trên đá vôi (MV-02 và MV-43) đều thuộc loại không phù hợp làm đất trình
tường (Bảng 4.4)
Đất trầm tích lấy từ khu vực thềm suối xóm Chung Pả A gồm cát bột, lẫn nhiều hạt
mịn và ít sạn sỏi, màu nâu đỏ, xám vàng, nửa cứng rất phù hợp để làm đất trình tường, Khi
được đầm chặt, đất có dung trọng khô cực đại là 1,75 g/cm3 và độ ẩm tối ưu là 15%. Đất
phong hóa mạnh từ cát kết, bột kết hệ tầng Sông Hiến (T1sh) cũng có dung trọng khô cực
đại cao γkmax là 1.75 g/cm3 và độ ẩm tối ưu là 17.2%. Tuy nhiên ở một số khu vực khác
đất đầm cần được lựa chọn kỹ cho phù hợp và cần có giải pháp trộn thêm các cấp hạt cần
thiết để đảm bảo yêu cầu trước khi sử dụng.
Nếu nhân rộng được việc gia cố, sửa chữa các nhà tường trình hiện có và phát triển
nhà trình tường rộng rãi hơn tại các điểm dừng, điểm lưu trú của khách thì không chỉ góp
phần bảo tồn và phát triển loại hình di sản vật thể quí giá này mà còn giảm thiểu nạn phá
các măng đá vôi lấy đá hộc làm tường rào và xây nhà hiện đang còn là một việc khá phổ
biến tại khu vực Công viên Địa chất Toàn cầu đầu tiên của nước ta.
công trình phù hợp nhằm bảo vệ các dị sản tự nhiên quí giá trước tác động của các tai biến
địa chất phục vụ phát triển bền vững Di sản Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá
Đồng Văn.
2.6. Tóm tắt kết quả
2.6.1. Tóm tắt tiếng Việt
Đề tài đã hoàn thành và kết quả chính của đề tài đã được thể hiện thông qua các nội
dung chính sau đây:
Về khoa học:
- Báo cáo tổng kết làm rõ các đặc điểm địa chất công trình (ĐCCT) của khu vực
nghiên cứu, làm rõ mối quan hệ giữa các đặc điểm ĐCCT với các loại hình di sản địa chất
có giá trị nối bật;
14
- 1 Sơ đồ Địa chất công trình Đông Nam thị trấn Mèo Vạc và phụ cận và sự phân
bố các loại hình di sản, tỷ lệ 1:50 000;
- 1 Sơ đồ phân vùng mức độ tổn thương và dự báo các tai biến khu vực Đông Nam
thị trấn Mèo Vạc và phụ cận, tỷ lệ 1:50 000;
- 1 báo cáo về đề xuất các giải pháp bảo vệ các di sản phù hợp và khả thi góp phần
phát triển bền vững Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn;
- Bài báo/báo cáo khoa học: 02 bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành trong nước,
01 báo cáo tại hội thảo khoa học quốc tế HANOIGEO2013 tổ chức tại Hà Nội.
Về đào tạo:
- Hỗ trợ 1 Nghiên cứu sinh (NCS) thu thập mẫu, tiến hành thí nghiệm và sử lý số
liệu; hoàn thành 03 bài báo với NCS là đồng tác giả.
- Hướng dẫn 2 sinh viên (trong đó có 1 sinh viên thuộc Chương trình Chiến lược)
hoàn thành Khoa luận tốt nghiệp năm 2013.
2.6.2. Tóm tắt tiếng Anh
Sciencetìic results:
- One scientific report of project results, showing the geotechnical characteristics of
Faculty of Geology, VNU-University of Science, Vietnam National University, Hanoi
2
VNU-Center of Urban Studies, Vietnam National University, Hanoi
3
VNU-Science and Technology Department, Vietnam National University, Hanoi
4
VNU-Construction Department, Vietnam National University, Hanoi
With specific and outstanding values on the natural and social conditions,
especially the paleontological and geol-geomorphological heritages, the Dong Van Karst
Plateau Geopark has been accepted as the member of the Global Geoparks Network of
UNESCO. This was the 1st member in Vietnam and the 2nd member in the Southeast Asia
in October 2010.
In recent years, the Vietnamese geologists have well conducted the investigations
and study on geological heritages, as well as approached, identified, described, classified
hundreds of geological heritages in arcordance with the international intergration;
proposed the establishment and ranking of geological heritages and geological reserves
areas... However, due to various reasons the process of investigation on the geological
heritages of Dong Van Karst Plateau have still achieved little progress in comparing with
other countries in the region and in the world. Particularly, the geotechnical investigations
in the areas where the heritages are distributed have been taken only in a very limited
amount in certain places just for construction purposes. The project codded QG.12.14 has
carried out studies to find out the relationship between the petrological and mineralogical
characteristics and the physico-mechanical properties of the soil and rock groups with the
formation and conservation of geological heritages of the SE of Meo Vac town areas. The
project also listed types of geological hazards usually occurred in the areas and caused
great losses to the local region, proposed the hazards’ mitigation meassures for suitable
and effective protection of the geological herritages.
Besides, the results of the project showed the cheaf, easilly available construction
materials as silty clay or silty sand, etc. for using as rammed earth soils in house building.
- Thể hiện mối liên quan (nếu có)
của thành phần thạch học và đặc
điểm cơ lý của đất đá trong khu
vực nghiên cứu đến sự phân bố của
các loại hình di sản.
Sơ đồ phân vùng mức độ tổn - Đánh giá hiện trạng và khả năng
thương và dự báo tai biến địa xuất hiện các tai biến địa chất như
chất khu vực Đông Nam thị
hố sụt karst, trượt đất, đổ sập
trấn Mèo Vạc và phụ cận
đá…trong khu vực nghiên cứu nói
chung và tại các điểm di tích có giá
trị nổi bật;
- Xây dựng Sơ đồ dự báo các tai
biến khu vực Đông Nam thị trấn
Mèo Vạc, tỉ lệ 1:50.000 thể hiện vị
trí, qui mô của các tai biến (hố sụt
karst, trượt đất, đổ sập đá…);
- Đề xuất giải pháp bảo vệ các di
Báo cáo Sản phẩm”Đề xuất
giải pháp bảo vệ các di sản địa sản một cách phù hợp và khả thi.
chất giảm thiểu ảnh hưởng
Các biện pháp giảm thiểu tai biến
của các tai biến tai khu vực
địa chất bao gồm công trình và phi
Đông Nam thị trấn Mèo Vạc, công trình, ngắn hạn và dài hạn...và
tỉnh Hà Giang”.
cần nhất là phải khả thi, phù hợp
với thực tế vùng núi phía bắc, với
tập quán sinh hoạt và văn hóa bản
Chấp
nhận in,
có ghi
Tình trạng cảm ơn
sự tài trợ
của
ĐHQG
Đánh giá
chung
Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học quốc gia hoặc
báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế
Đã chấp Đúng qui
Đặng Văn Luyến, Nguyễn Quang Huy, Trần
định
Mạnh Liểu. “Nghiên cứu một số đặc trưng cơ nhận in
vào số 4,
lý đất dùng làm nhà trình tường tại khu vực
tập 30,
Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang”. Tạp chí Khoa học, năm
Chuyên san Các Khoa học Trái đất và Môi
2014.
trường chấp nhận in vào số 4, tập 30, năm
2014.
2.
Đặng Văn Luyến, Nguyễn Quang Huy, Trần
Mạnh Liểu, Đặng Thanh Bình. “Nghiên cứu
ghi cảm
ơn sự tài
trợ của
ĐHQG
đúng qui
định
ISBN: 975-804-934-563-0
18
3.3. Kết quả đào tạo
STT
Họ và tên
Thời gian và
kinh phí tham
Công trình công bố liên quan
gia đề tài
(số tháng/số (Sản phẩm KHCN, luận án, luận văn)
tiền)
Đã bảo vệ
Nghiên cứu sinh (Hỗ trợ thực địa, thí nghiệm, đồng tác giả các bài báo, báo cáo)
1 Nguyễn Quang
Đặng Văn Luyến, Nguyễn Quang
and Disaster Mitigation for
Infrastructure Development” 17-19
October, 2013. Hanoi, Vietnam.
Cử nhân (Hỗ trợ thực địa, thí nghiệm, đồng tác giả báo cáo hội nghị quốc tế)
1 Nguyễn Mạnh
5 tháng / Research on Geological Features in Đã bảo vệ
Tuấn
10 triệu
the SE Meo Vac District for
Sustainable Development
Đặng Văn Luyến, Trần Mạnh Liểu,
19
2
Võ Đình
Nghĩa
5 tháng/
10 triệu
Nguyễn Quang Huy and Nguyen
Manh Tuan. Study on Geological
Characteristics and values of
Geoheritages in the SE Meo Vac
Town Area, Ha Giang Province,
Vietnam. Procc. of the Inter.
Symposium HANOI
GEOENGINEERING 2013
đăng ký
Số lượng đã
hoàn thành
0
01
5
Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN,
tạp chí khoa học quốc gia hoặc báo cáo khoa học
đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế
02
02
6
Báo cáo khoa học, kiến nghị,tư vấn chính sách
theo đặt hàng của đơn vị sử dụng
01
0
7
Đào tạo SV hệ Chính qui
0
01
20
PHẦN IV. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KINH PHÍ
STT
Nội dung chi
A
1
Chi phí trực tiếp
Nhân công lao động khoa học
- Trong đó, chi cho NCS và học viên
cao học:
Xây dựng đề cương chi tiết
2
Thu thập tổng quan tài liệu
Kinh phí
được duyệt
40.0
40.0
5
Hội thảo, viết báo cáo, nghiệm thu
14.0
14.0
6
Chi khác
13.0
13.0
B
Chi phí gián tiếp
1
Chi phí quản lý của tổ chức chủ trì
14.4