Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững một số loài có giá trị ở khu bảo tồn thiên nhiên na hang, tỉnh tuyên quang tt - Pdf 49

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGUYỄN THỊ HẢI

NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG MỘT SỐ LOÀI CÓ GIÁ TRỊ Ở
KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 9.42.01.11

Hà Nội – 2018


2

Luận án được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công nghệ Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: 1
1. PGS. TS. Trần Huy Thái
2. PGS. TS. Nguyễn Tiến Đạt. PGS. TS. Trần Huy Thái


Ngoài các kết quả nghiên cứu của một số tác giả ở Viện Điều tra qui hoạch rừng,
Chương trình Birdlife international; Nguyễn Nghĩa Thìn và Đặng Quyết Chiến (2006);
Nguyễn Anh Tuấn và cộng sự (2012); thì đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu tổng
thể nào về tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là các loài có triển vọng tại khu BTTN Na Hang.
Mặt khác, nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu BTTN Na Hang hiện ngày càng khan hiếm,
một số loài quý có nguy cơ tuyệt chủng do khai thác bừa bãi, thiếu kế hoạch. Tiềm năng,
triển vọng của nguồn tài nguyên cây thuốc và vốn tri thức bản địa của các dân tộc ở khu
BTTN Na Hang rất phong phú và đa dạng; song những nghiên cứu về chúng còn rất ít và
chưa đầy đủ. Vì thế, nghiên cứu các cơ sở khoa học để bảo tồn, phục hồi và sử dụng bền
vững tính đa dạng của các loài cây thuốc tại khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang là vấn
đề thời sự, mang tính cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và giá trị kinh tế, xã hội cao. Từ thực
tiễn trên, tác giả tiến hành đề tài “Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc nhằm đề xuất
giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững một số loài có giá trị ở khu Bảo tồn thiên nhiên
Na Hang, tỉnh Tuyên Quang".
2. Mục tiêu của luận án
Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Na Hang,
tỉnh Tuyên Quang, nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển bền vững một số loài có
triển vọng.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
* Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng của nguồn tài nguyên cây thuốc
tại khu BTTN Na Hang; Đề xuất một số giải pháp bảo tồn một số loài cây thuốc có giá trị
khoa học và kinh tế.
* Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý,
sản xuất, kinh doanh hoạch định chính sách phát triển, đầu tư sản xuất, tạo nguồn nguyên
liệu dược ổn định và sử dụng bền vững, đồng thời bảo tồn có hiệu quả những loài có giá trị
và tiềm năng; các kết quả nghiên cứu sàng lọc các loài có hoạt chất sinh học, nhằm góp
phần định hướng cho việc tạo chế phẩm sinh học mới làm thuốc.
4. Bố cục của luận án
Luận án gồm 146 trang: Mở đầu - 02 trang; Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên
cứu - 32 trang; Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu - 11 trang;

Ở châu Âu, với truyền thống lâu đời trong việc sử dụng thực vật, khoảng 2.000 dược liệu và
hương liệu được sử dụng trong thương mại…
1.1.2.2. Đánh giá về giá trị kinh tế nguồn tài nguyên cây thuốc
Ở quy mô toàn cầu, doanh số mua bán cây thuốc ước tính khoảng 16 tỉ Euro mỗi
năm. Trong những năm 1990, kim ngạch nhập khẩu cây thuốc trên toàn thế giới hàng năm
trung bình trên 4.000 tấn với trị giá 1,224 triệu USD. Trong đó, có đến 80% giá trị xuất
nhập khẩu là của 12 quốc gia châu Á và châu Âu. Nhật Bản và Hàn Quốc là hai quốc gia
tiêu thụ cây thuốc nhiều nhất. Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia cung cấp cây thuốc
hàng đầu; Hồng Kông và Mỹ là các trung tâm thương mại quan trọng.
Nhiều cây thuốc không những bị khai thác để sử dụng tại chỗ mà còn được xuất khẩu
đi khắp nơi trên thế giới. Một lượng lớn cây thuốc ở châu Á và châu Phi ngoài việc được
khai thác để sử dụng nội địa, chúng còn được dùng để xuất khẩu. Có tới 80% cây thuốc
được xuất khẩu từ các nước châu Á. Nhu cầu về cây thuốc tăng 15-25% hằng năm và theo
ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì vào năm 2050 nhu cầu tiêu thụ cây thuốc


3

tăng hơn 5 nghìn tỷ USD.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu về kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên
thế giới
Điều tra, nghiên cứu cây thuốc đồng thời với việc hệ thống hóa tri thức truyền thống
về cây thuốc, kinh nghiệm bản địa trong việc sử dụng cây thuốc gắn với bảo tồn đa dạng
sinh học, bảo tồn các giá trị văn hóa đã và đang thu hút sự quan tâm ở hầu hết các nước trên
thế giới.
1.2. Khái quát về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
1.2.1. Lịch sử nghiên cứu tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu như: Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác
(1720 - 1791), Crévost và Pétélot (1928 - 1935), Đỗ Tất Lợi (1957), Vũ Văn Chuyên
(1966), Nguyễn Nghĩa Thìn (2001), Võ Văn Chi (2012), Lã Đình Mỡi và cs (2005)…

4

thức bản địa ở Việt Nam đã và đang được quan tâm đặc biệt.
* Nhân giống bằng hom: Giâm hom là một phương pháp nhân giống sinh dưỡng, có
hệ số nhân giống lớn, giữ được đặc tính tốt của cây mẹ và tương đối rẻ tiền nên được sử
dụng rộng rãi trong nhân giống cây trồng, cây cảnh và cây ăn quả.
* Nhân giống bằng hạt: Nhân giống bằng hạt là phương thức nhân giống truyền
thống và tự nhiên, cho hệ số nhân giống cao, đồng thời có thể bảo quản và vận chuyển
giống một cách dễ dàng. Yếu tố quyết định tới hiệu quả của nhân giống bằng hạt đó chính là
chất lượng của hạt giống.
1.4. Cây thuốc và hoạt tính kháng ung thƣ từ cây thuốc
Tác dụng chữa trị bệnh của cây thuốc chính là các hợp chất tự nhiên đã được chúng
sinh tổng hợp và tích lũy. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3.000 loài thực vật được báo
cáo là chứa các hợp chất có hoạt tính kháng ung thư. Viện nghiên cứu ung thư Hoa Kỳ đã
thu thập 35.000 mẫu thực vật từ 20 quốc gia khác nhau và sàng lọc khoảng 114.000 dịch
chiết với hoạt tính kháng ung thư.
Ở Việt Nam những năm gần đây các nghiên cứu về cây thuốc có khả năng chữa trị
ung thư cũng đã được quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu về hoạt chất kháng u đã được
công bố; song các nghiên cứu về hai loài từ Ba bét quả nhỏ (Mallotus microcarpus) và Song
môi tàu (Miliusa sinensis) còn rất ít.
1.5. Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khu BTTN Na Hang
Tọa độ địa lý: Từ 22014' - 22035' vĩ độ Bắc; Từ 104017' - 105035' kinh độ Đông. Diện
tích khu rừng đặc dụng là 22.401,5 ha và nằm trên địa phận 4 xã Thanh Tương, Sơn Phú,
Khau Tinh, Côn Lôn và Thị trấn Na Hang.
Khí hậu nằm trong vùng khí nhiệt đới gió mùa của vùng Đông Bắc Việt Nam và
mang đậm tính chất khí hậu của vùng núi cao. Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt, với các đặc
trưng sau: Mùa hè thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều; mùa
đông, khô lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau; nhiệt độ trung bình năm 23,5°C;
lượng mưa bình quân: 1.400 - 1.600 mm. Có 2 hệ thống sông lớn: Sông Năng và sông Gâm.
Tổng 4 xã và Thị trấn Na hang có 52 thôn, 3.916 hộ/tổng số 10.081 hộ (chiếm

- Nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu BTTN Na Hang, huyện Na Hang,
tỉnh Tuyên Quang: Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc; Đa dạng cây thuốc được sử dụng
bởi hai cộng đồng dân tộc Tày và Dao tại khu BTTN Na Hang.
- Thử hoạt tính sinh học và phân tích cấu trúc hóa học: Sàng lọc hoạt tính sinh học;
Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học mẫu TQ02 từ loài Ba bét quả nhỏ
(Mallotus microcarpus Pax & K. Hoffm.) và mẫu TQ13 từ loài Song môi tàu (Miliusa
sinensis Fin. & Gagnep.).
- Các giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các loài cấy thuốc có giá trị
tại khu BTTN Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang: Các loài cây thuốc có triển
vọng phát triển; Thăm dò khả năng nhân giống của hai loài cây thuốc có tiềm năng khai thác
và sử dụng; Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây
thuốc tại khu BTTN Na Hang.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp kế thừa
Kế thừa các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu: Danh lục các loài thực vật
Việt Nam; Từ điển cây thuốc Việt Nam;Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam;Đa
dạng thực vật khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang....
2.3.2. Phương pháp thu thập, xử lí mẫu vật và định loại
- Phương pháp thu và xử lý mẫu: theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997,2007).
- Giám định tên khoa học: Sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh, căn cứ theo:
Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam; Cây cỏ Việt Nam; Các
bộ Thực vật chí Việt Nam; Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập I,II, III; Từ điển Cây
thuốc Việt Nam…


6

2.3.3. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của khu BTTN Na Hang, dựa theo
phương pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997), như: Đa dạng về các bậc taxon (ngành,

2.3.7. Phương pháp nhân giống một số cây thuốc chính
2.3.7.1.Phương pháp nhân giống sinh dưỡng
Nhân giống sinh dưỡng được thực hiện bằng cách giâm các loại hom từ củ của loài
Râu hùm (Taccachantrieri Andre) và thân của loài Hoàng đằng (Fibraureatinctoria Lour.)
được thu từ cây mọc tự nhiên. Các thí nghiệm bao gồm:
a. Ảnh hưởng của mùa vụ và loại hom tới khả năng sống và ra rễ của hom giâm: các


7

mùa được xác định là mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; loại hom bao gồm: hom ngọn, hom thân
(bánh tẻ) và hom gốc từ củ và cành. Mỗi công thức thí nghiệm là 30 hom; lặp lại 3 lần ở 3
vườn khác nhau. Số liệu được ghi lại 1 lần sau 60 ngày với cả hai loài.
b. Ảnh hưởng của loại chất điều hòa sinh trưởng và nồng độ của các chất đó tới tỷ lệ
sống và ra rễ của hom giâm: Các chất điều hoà sinh trưởng dùng trong các thí nghiệm là: αNAA (Acid α-napthilen acetic), IBA (Indol butyric acid), IAA (Indole Acetic Acid); với 3
loại nồng độ: 1.000ppm; 1.500ppm và 2.000ppm, lô đối chứng không sử dụng chất điều hoà
sinh trưởng. Thí nghiệm được bố trí 10 công thức.
2.3.7.2. Phương pháp nhân giống hữu tính
Râu hùm (Taccachantrieri Andre) : Hạt giống được gieo trên luống cát ẩm, tránh ánh
nắng trực tiếp; đồng thời với các thí nghiệm trên đĩa petri trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Mỗi thí nghiệm gieo 100 hạt. Các thí nghiệm được lặp lại 3 lần, theo dõi thời gian nảy mầm của
hạt.Tổng số hạt trong thí nghiệm: 100 hạt/công thức x 2 công thức x 3 lần lặp = 600 hạt.
Hoàng đằng (Fibraureatinctoria Lour.) : Hạt giống được gieo theo 3 phương pháp xử
lý hạt (3 công thức) như sau:
+ CT1: Gieo hạt ngay trong cát ẩm
+ CT2: Ngâm nước ấm ban đầu 400C trong 10 giờ, sau đó mới gieo trong cát ẩm.
+ CT3: Ngâm 10 giờ trong nước lã sau đó đem gieo trong cát ẩm.
Mỗi công thức bố trí 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp 30 hạt. Tổng số hạt Hoàng đằng trong
thí nghiệm: 30 hạt/công thức x 3 công thức x 3 lần lặp = 270 hạt.
Chăm sóc và bảo quản: Các thí nghiệm được tưới nước hàng ngày, theo dõi thường

thành đường glucose và p-nitrophenol,hợp chất có màu vàng, dưới xúc tác của enzyme
α-glucosidase.
2.3.8.3. Phương pháp chiết tách và phân lập các hợp chất
- Phân lập các chất tinh khiết bằng các phương pháp sắc ký gồm:
+ Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn silica gel DC-Alufolien
60 F254 và RP-18 F254. Phát hiện vệt chất bằng đèn UV 254 và 368 nm, và phun H2SO4 10%
lên bản mỏng rồi hơ nóng từ từ đến khi hiện màu.
+ Sắc ký cột pha thường (silica gel 230-400 mesh, Merck), pha đảo (RP-18, YMC
ODS), dùng nhựa trao đổi ion (Dianion HP20) hoặc hấp phụ cỡ hạt (Sephadex LH20).
- Xác định cấu trúc các chất phân lập được bằng các phương pháp phổ hiện đại bao
gồm phổ hấp thụ hồng ngoại (IR), tử ngoại (UV), phổ cộng hưởng từ nhân một và hai chiều
(1D và 2D-NMR), phổ khối lượng thường (MS) và phân giải cao (HRMS).
2.3.8.4. Phương pháp xác định cấu trúc các hợp chất
Phương pháp chung để xác định cấu trúc hoá học của các hợp chất là sự kết hợp giữa
việc xác định các thông số vật lý với các phương pháp phổ hiện đại.
2.3.9. Xử lý số liệu
Tất cả các số liệu được xử lí trên Excel, được trình bày dạng mean ± SE. Các thuật
toán thống kê Student's t-test, F’test và phương pháp phân tích phương sai một nhân tố ngẫu
nhiên (one way ANOVA) để kiểm tra sự sai khác có ý nghĩa so với đối chứng âm, với
P
4
119
137

Chi
Tỷ lệ
(%)
1.46
8.76
2.92
86.86
100.00

Số
lƣợng
2
15
6
410
433

Loài

Tỷ lệ
(%)
0.46
3.46
1.39
94.69
100,00

Lớp
Magnoliopsida
Liliopsida
Tổng
Tỷ lệ Magnoliopsida /
Liliopsida

Số
lượng
94
25
119

Chi

Tỷ lệ (%)
78.99
21.01
100.00
3.76

Số
lượng
336
74
410

Loài
Tỷ lệ
(%)


Ngành

1
2
3
4

Lycopodiophyta
Polypodiophyta
Pinophyta
Magnoliophyta
Tổng

Chỉ số họ
2
12
4
119

1.46
8.76
2.92
86.86
4,72

Chỉ số chi
2
15
6

nhất cũng đều nằm trong nhóm các họ đa dạng và phong phú nhất của hệ thực vật Việt
Nam.
3.1.1.3. Đa dạng về bậc chi
Ở khu BTTN Na Hang, sự phân bố các loài cây thuốc trong các chi là không đều
nhau. Chi ít nhất chỉ có 1 loài (Lycopodium, Duabanga, Manglietia, Costus,…). Tổng số 10
chi đa dạng nhất tất cả có 60 loài, chiếm 9,29% tổng số loài. Chi Ficus (Moraceae) đa dạng
nhất với 15 loài, chiếm 2,32% tổng số loài. Các chi còn lại có từ 4 đến 7 loài.
3.1.1.4. Nguồn gen cây thuốc quý, hiếm cần được bảo vệ
Tại khu BTTN Na Hang hiện có 29 loài cây thuốc quý, hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
được ưu tiên bảo tồn gồm: 09 loài có tên trong Nhóm IIA thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP;
22 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007), (15 loài ở mức Sẽ nguy cấp – VU, 07 loài ở
mức Đang nguy cấp – EN); 17 loài có tên trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, 2006 (10
loài xếp ở mức Sẽ nguy cấp – VU; 6 loài xếp ở mức Đang nguy cấp – EN và 01 loài xếp ở
mức Cực kỳ nguy cấp - CR); 07 loài có tên trong Danh lục Đỏ IUCN (2014) (06 loài xếp ở
mức Ít bị nguy cấp, 01 loài xếp ở mức Sẽ nguy cấp).
3.1.1.5. Xây dựng bản đồ phân bố một số loài thực vật nguy cấp, quý hiếm
Dữ liệu loài được ghi nhận tại khu BTTN Na Hang qua các đợt khảo sát thực địa.
Các thông tin về thành phần loài được nhập dưới dạng bảng excel với các thông tin mô tả
theo từng loài như số hiệu, tên loài, tên họ, tên Việt Nam, vị trí theo tọa độ và địa giới hành
chính, độ cao, thời gian khảo sát. Bản đồ phân bố một số loài thực vật quí hiếm tỷ lệ
1/50.000 được thành lập trên cơ sở biên tập các lớp thông tin nền và thông tin về thành phần


11

loài đã thu thập được qua điều tra thực địa.
3.1.2. Đa dạng cây thuốc được sử dụng bởi hai dân tộc Tày và Dao tại khu BTTN Na
Hang, tỉnh Tuyên Quang
3.1.2.1. Thành phần cây thuốc được sử dụng bởi hai dân tộc Tày và Dao tại khu
BTTN Na Hang

2
Polypodiophyta
6
6
7
7
7
7
3
Pinophyta
1
1
1
1
1
1
4
Magnoliophyta
76
64
167
127
213
154
Magnoliopsida
60
49
134
99
172



12

bì sinh và cây kí sinh chiếm tỷ lệ rất thấp. Điều này phản ánh đúng về phương thức sử dụng
các cây thuốc của các dân tộc nói chung ở Việt Nam, cây thảo và cây bụi vẫn là những dạng
sống được sử dụng làm thuốc nhiều nhất.
3.1.2.2. Bộ phận sử dụng cây thuốc của hai dân tộc Tày và Dao tại khu BTTN Na
Hang
Kết quả điều tra bộ phận sử dụng cây thuốc của đồng bào 02 dân tộc Tày và Dao cho
thấy, trong 223 loài cây thuốc mà người Tày sử dụng, có 53 loài được sử dụng đồng thời các
bộ phận khác nhau làm thuốc, chiếm tỷ lệ 23,77%. Có 9 bộ phận của cây đã được thống kê
trong phương thức sử dụng cây thuốc. Trong đó, các bộ phận được sử dụng nhiều nhất là
thân (chiếm 35,87%), lá (34,98%) và rễ (17,49%); còn lại là các bộ phận như củ, hạt, quả,
lông và vỏ thân được sử dụng tương đối thấp.
Đối với người Dao, trong 164 loài cây thuốc có 22 loài được sử dụng đồng thời các
bộ phận khác nhau làm thuốc, chiếm tỷ lệ 13,41%. Có 10 bộ phận đã được thống kê trong
phương thức sử dụng cây thuốc. Trong đó, các bộ phận được sử dụng nhiều nhất là thân
(chiếm 38,41%), lá (36,59%) và rễ (21,95%); còn lại là các bộ phận như củ, hạt, quả, lông,
vỏ thân và vỏ rễ được sử dụng thấp hơn.
3.1.2.3. Cách sử dụng cây thuốc của hai dân tộc Tày và Dao tại khu BTTN Na Hang
Cách sử dụng cây thuốc của cộng đồng người Tày ở khu BTTN Na Hang khá đa dạng,
có 9 cách sử dụng đã được xác định, trong đó, chủ yếu là uống (156 loài, chiếm 69,96%),
tiếp đó là đắp, bó (44 loài; 19,73%) và tắm, gội (36 loài; 16,14%); số loài chỉ có một cách
dùng là 164 loài (chiếm 73,54%), số loài có 2 cách dùng là 59 loài (chiếm 26,46%). Tương
tự như vậy, với người Dao, uống (105 loài, chiếm 64,02%), sau đó là đắp, bó (36 loài;
21,95%) và tắm, gội (24 loài; 14,63%); số loài chỉ có một cách dùng là 137 loài (chiếm
83,54%), số loài có 2 cách dùng là 27 loài (chiếm 16,46 %).
3.1.2.4. Kinh nghiệm điều trị các nhóm bệnh của hai dân tộc Tày và Dao tại khu BTTN
Na Hang

thể hiện tác dụng ức chế >50% ở 500 μg/ml gồm: TQ05, TQ15, TQ17, TQ18. Trong số các
mẫu này có TQ13 từ loài Song môi tàu (Miliusa sinensis Fin. & Gagnep.), thể hiện tác dụng
ức chế α-glucosidase đáng chú ý, đồng thời theo tra cứu loài này chưa được nghiên cứu về
hoạt tính ức chế α-glucosidase. Do đó mẫu này được lựa chọn để nghiên cứu sâu hơn về
thành phần hoá học.
3.1.3.2. Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học mẫu TQ02 từ loài Ba bét
quả nhỏ (Mallotus microcarpus Pax & K. Hoffm)
* Chiết tách và phân lập các hợp chất
Từ mẫu loài (Mallotus microcarpus Pax & K. Hoffm), đã chiết tách và xác định cấu
trúc được 11 hợp chất ký hiệu từ MM1 đến MM11, trong đó có 01 hợp chất mới lần đầu tiên
được công bố: 3-Methoxybenzensulfonic acid 4-O-β-D-glucopyranoside (MM4).

Guaiacylglycerol1-(4-Hydroxy-3methoxyphenyl)-1,2,3-propanetriol (MM1)

Antiarol rutinoside (MM2)

3-Methoxybenzensulfonic acid 4-O-βD-glucopyranoside (chất mới) (MM4)
Zansimuloside A (MM3)

Erigeside (MM5)

3,4’;-Dihydroxypropiophenone 3-Oglucoside (MM6)


14

Methyl salicylate 2-rutinoside (MM7)
Leonuriside A (MM8)

Syringin (MM9)

IC50 là 557.3 và 692.5 µM. Tác dụng này được đối chiếu với hoạt tính của thuốc chữa tiểu
đường là acarbose (IC50 671.2 µM). Như vậy có thể nhận định 2 hợp chất flavonoid
glycoside phân lập từ mẫuTQ13 (Miliusa sinensis Fin. & Gagnep.), là hoạt chất có tác dụng
ức chế α-glucosidase liên quan đến bệnh tiểu đường.
3.2. Các giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các loài cây thuốc có giá trị
tại khu BTTN Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
3.2.1. Các loài cây thuốc có triển vọng phát triển
3.2.1.1. Các tiêu chí lựa chọn các loài cây thuốc có triển vọng phát triển
Các loài có triển vọng là những loài đáp ứng các tiêu chí sau đây: i/ Loài có thị
trường tiêu thụ; ii/ Có giá trị kinh tế cao; iii/ Có nhu cầu sử dụng trong cộng đồng lớn và
thường xuyên; iv/ Thích hợp với phương án trồng để thu nguyên liệu.
3.2.1.2. Đề xuất một số loài cây thuốc có triển vọng cần nghiên cứu tại khu BTTN Na
Hang
 Tình hình khai thác và sử dụng dược liệu tại khu BTTN Na Hang
Qua điều tra nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc kết hợp với tri thức khai thác và sử
dụng cây thuốc của cộng đồng các dân tộc tại khu BTTN Na Hang, bước đầu đã thống kê được
khoảng 20 loại dược liệu đang được khai thác và thị trường có nhu cầu sử dụng.
Các loài có độ gặp nhiều và phân bố rộng trong khu vực như: Thiên niên kiện
(Homalomena occulta), Tế tân nam (Asarum balansae), Râu hùm (Tacca chantrieri), Nghệ vàng
(Curcuma longa), Nghệ đen (Curcuma zedoaria), Hàm ếch (Saururus chinensis), Bổ béo
(Gomphandra mollis) và Dây đau xương (Tinospora sinensis). Trong khi đó, có năm loài bị khai
thác cạn kiệt là Bình vôi (Stephania rotunda Lour.), Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis
longifolia Craib.), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour), Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard) và
Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson) đây cũng là các loài này trong những
năm qua đã bị khai thác nhiều để bán sang Trung Quốc. Hiện nay, Hoàng đằng (Fibraurea
tinctoria Lour), Lá khôi (Ardisia silvestris Pitard); Hoàng tinh hoa trắng(Disporopsis longifolia
Craib.); Ba gạc (Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill.); Khúc khắc (Heterosmilax gaudichaudiana


16

3

Biến hóa

Mầu đin (Tày, Dao)

4

Bình vôi

5

Dây đau xương

Cà tom khao (Tày);
Hùng mầu pẹ (Dao)
Khau bết phạ (Tày), Tiền
mạy hoày (Dao)

6

Bách bộ

7

Râu hùm

8

Giảo cổ lam

Pyắc dạ (Tày),
Lạy im (Dao)

Tên khoa học
Homalomena occulta
(Lour.) Schott.
Asarum balansae
Franch
Asarum caudigerum
Hance
Stephania rotunda
Lour.
Tinospora sinensis
(Lour.) Merr.

Họ thực vật
Araceae
Aristolochiaceae
Aristolochiaceae
Menispermaceae
Menispermaceae

Stemona tuberosa Lour. Stemonaceae
Tacca chantrieri Andr.

Taccaceae

Gynostemma
pentaphyllum (Thunb.)
Makino

58,1% ra rễ).
* Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất kích thích sinh trưởng và nồng độ của
chúng đến tỷ lệ nảy chồi và tỷ lệ ra rễ của hom củ giống cắt từ thân ở loài Râu hùm
Sau khi xử lý các chất điều hòa sinh trưởng IAA, α-NAA và IBA ở các nồng độ khác
nhau (1.000ppm; 1.500ppm và 2.000ppm) đối với hom củ giống cắt từ thân ở loài Râu hùm,
các hom giống được giâm vào mùa Thu (01/9/2016). Kết quả thử nghiệm cho thấy, tỷ lệ nảy
chồi và ra rễ của các hom giống rất cao sau 60 ngày giâm (100%) ở nồng độ 1.500ppm với
cả IBA và IAA.
. Thí nghiệm nhân giống bằng hạt
Sau 90 ngày, tỷ lệ hạt nảy mầm trong cát ẩm ở ngoài trời đạt 14,3% và ở điều kiện
trong phòng đạt 11,0%.
Cây Râu hùm sau khi nảy mầm sự sinh trưởng của lá, chiều cao cây; sự phát triển của
rễ và chiều dài trung bình của rễ cây rất chậm.
Cây con Râu hùm trong giai đoạn vườn ươm từ 1 - 5 tháng tuổi có tỷ lệ sống tương
đối cao sau 5 tháng đạt 83,33%. Cây con từ khi cấy vào bầu cho tới khi 5 tháng tuổi có số lá
đạt 5,44 lá/cây, chiều cao vút ngọn sinh trưởng rất chậm đạt 8,15cm. Sau 5 tháng tuổi chăm
sóc trong vườn ươm cây Râu hùm chưa đủ tiêu chuẩn xuất vườn cần tiếp tục chăm sóc và
theo dõi tiếp. Điều đó cho thấy nhân giống bằng hạt với loài Râu hùm khó khăn và không
hiệu quả so với nhân giống bằng hom từ phần thân củ.
3.2.2.2. Nhân giống loài Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour.) tại khu BTTN Na
Hang
. Thí nghiệm nhân giống sinh dưỡng
* Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ và loại hom đến nhân giống loài Hoàng đằng
Thí nghiệm sử dụng 3 loại hom: hom ngọn, hom thân (bánh tẻ) và hom già từ thân của
loài Hoàng đằng được tiến hành vào các mùa Xuân, Hạ, Thu và Đông. Từ kết quả thu được
cho thấy: Sau 60 ngày ở tất cả các mùa, hom thân có tỷ lệ sống và tỷ lệ nảy chồi cao nhất,
thấp nhất là hom ngọn. Hom thân với tỷ lệ hom sống 78,9% (mùa Hạ) và tỷ lệ hom nảy chồi
là 76,7% (mùa Xuân), còn hom ngọn chỉ đạt tỷ lệ sống 41,1% (mùa Xuân) và tỷ lệ nảy chồi
14,1% (mùa Xuân). Điều này có thể lý giải là do hom ngọn còn non và chất dinh dưỡng dự
trữ trong hom không đủ cung cấp nên sức sống và khả năng sinh trưởng kém. Các hom giâm

cây mới đạt tiêu chuẩn xuất vườn. Hệ số biến động về đường kính có xu hướng giảm dần theo
các tuần tuổi.
Về sinh trưởng chiều cao: Từ số liệu đo đếm cho thấy, sau 6 tháng nuôi dưỡng trong
giai đoạn vườn ươm cây mới đạt chiều cao cần thiết để trồng. Hệ số biến động về chiều cao
của cây con Hoàng đằng giai đoạn vườn ươm cũng rất thấp từ 1,23 - 2,22%. Có thể kết luận
rằng sinh trưởng cây con Hoàng đằng giai đoạn vườn ươm từ 2 - 6 tháng tuổi là rất đồng
đều.
3.2.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững một số loài cây
thuốc tại khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang
3.2.3.1.Vấn đề bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc của người dân tại khu BTTN Na
Hang
+ Trữ lượng các loài cây thuốc tại khu BTTN Na Hang ngày càng giảm (thể hiện độ
gặp và khối lượng các sản phẩm được khai thác, mua bán). Một số loài cây thuốc tại khu
BTTN Na Hang, mang lại giá trị kinh tế cao, tạo nguồn thu nhập đáng kể cho người dân
trong khu vực như: Bình vôi, Hoàng đằng, Lá khôi, Ba gạc, Khúc khắc…
+ Những loài có khả năng phát triển tốt ở khu vực, là những loài phù hợp với điều


19

kiện địa hình, khí hậu của địa phương, sinh trưởng nhanh, phát triển tốt, nguồn giống dễ
tìm, kỹ thuật trồng đơn giản, có thể trồng ở vườn nhà, vườn rừng và còn đem lại giá trị kinh
tế cho người dân như: Nghệ vàng, Nghệ đen, Râu hùm, Giảo cổ lam…
+ Để bảo tồn và phát triển nguồn cây thuốc tại khu BTTN Na Hang đáp ứng được
nhu cầu hiện tại và tương lai, cần khai thác hợp lý đảm bảo tái sinh tự nhiên (in - situ) kết
hợp với việc nghiên cứu nhân trồng (ex – situ).
+ Có nhiều loài cây thuốc bị người dân khai thác quá mức, đẫn đến cạn kiệt trong tự
nhiên, một số loài hiện tại gần như rất khó gặp như: Bảy lá một hoa, Bình vôi đỏ, các loại
tầm gửi. Nhiều loài đã và đang bị các lái thương Trung Quốc thu mua với số lượng lớn qua
đường tiểu ngạch như: Hoàng đằng, Bình vôi, Ba gạc, Khúc khắc… Đó cũng là nguyên


20

+ Bảo tồn chuyển vị (ex – situ):
Thực hiện trong khu vực vườn rừng của 02 hộ gia đình tại Bản Bung, xã Thanh tương,
huyện Na Hang với diện tích 1000m2/hộ với số lượng 100 cây con/loài đã nhân giống. Nhìn
chung do được lựa chọn điều kiện tự nhiên phù hợp, thuận lợi và chăm sóc tốt nên sinh
trưởng và phát triển các loài tương đối đồng đều, tỷ lệ cây sống khá cao.
Một số giải pháp khác cần có sự tham gia của cộng đồng:
 Về nhận thức
+ Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động để các cấp, các ngành, các
xã và cộng đồng các dân tộc trong khu BTTN Na Hang, nâng cao nhận thức về giá trị nguồn
tài nguyên cây thuốc, bài thuốc.
+ Tổ chức các lớp tuyên truyền, tập huấn cho người dân địa phương về các phương
pháp khai thác, sử dụng, mở rộng gieo trồng, thu hái bền vững những loài cây thuốc quý.
 Về cơ chế chính sách
+ Cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.Có các chính sách, chế độ ưu đãi để thu
hút sự đầu tư của các doanh nghiệp, nhà khoa học, người dân nghiên cứu, sản xuất thử
nghiệm các giống cây thuốc.
+ UBND huyện cần quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí để
công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen cây thuốc đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ như:
▪ Quy hoạch các khu đất có các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển cây
thuốc để nhân giống và trồng cây thuốc. Qua nghiên cứu thấy có các vùng như Khau tinh,
Bản bung, Nặm pàn, Nặm trang, Thác mơ, Phiêng bung… điều kiện tự nhiên rất thuận lợi
cho việc trồng và phát triển các loài cây thuốc.
▪ Xây dựng và thực hiện các chính sách đặc thù hỗ trợ người dân nghèo ở các thôn
giáp rừng tìm kiếm các sinh kế mới và bền vững hơn.
 Về tổ chức:
+ Các đơn vị, các tổ chức xã hộicần chủ động xây dựng các chương trình, dự án về
phát triển cây thuốc từ nguồn cây thuốc bản địa vừa đảm bảo an toàn, chất lượng vừa có tác

mẫu (TQ05) kháng tế bào ung thư vú MDA-MB-231, 01mẫu (TQ13) có khả năng kháng tế
bào ung thư tuỵ tạng PANC1; 06 mẫu (TQ03, TQ04, TQ08, TQ09, TQ10, TQ13) có tác
dụng rất mạnh α-glucosidase (ức chế >50% ở 100μg/ml). Đối với α-amylase, có 04 mẫu
(TQ05, TQ15, TQ17, TQ18) có tác dụng ức chế >50% ở 500μg/ml.
4/ Từ loài Ba bét quả nhỏ (Mallotus microcarpus Pax & K. Hoffm) của mẫu TQ02 đã
phân lập và xác định được cấu trúc hoá học của 11 hợp chất, trong đó có 01 chất mới là
3-Methoxybenzensulfonicacid
4-O-β-D-glucopyranoside.
Hợp
chất
mới
3-Methoxybenzensulfonic acid 4-O-β-D-glucopyranosidevà hợp chất Methyl salicylate
2-rutinoside có tác dụng trên cả 3 dòng tế bào ung thư phổi H1975, A549 và ung thư vú
MCF-7; Chất Leonuriside A lại có tác dụng rất mạnh trên tế bào ung thư vú MCF-7 với giá
trị IC50 = 0,48 µM trong thử nghiệm.
5/ Từ loài Song môi tàu (Miliusa sinensis Fin. & Gagnep) của mẫu TQ13 đã phân lập
và xác định được cấu trúc của 02 hợp chất flavonoid là: Kaempferol 3-O-(2,6-di-O-α-Lrhamnopyranosyl)-β-D-galactopyranoside; Quercetin 3-O-(2,6-di-O-α-L-rhamnopyranosyl)-β-Dgalactopyranoside và 01 hợp chất sterol là Daucosterol. Cả hai hợp chất flavonoid có tác dụng
ức chế α-glucosidase với giá trị IC50 là 557,3 và 692,5µM.
6/ Từ kết quả điều tra, nghiên cứu đánh giá tiềm năng, tình hình khai thác, buôn bán,
sử dụng 20 loài cây thuốc có giá trị tại khu BTTN Na Hang, đề tài bước đầu lựa chọn, đề
xuất 12 loài cây thuốc có triển vọng cần được nghiên cứu gây trồng, tạo nguồn dược liệu
phục vụ phát triển kinh tế, xã hội tại địa phương, đồng thời góp phần bảo tồn bền vững.
7/ Các kết quả nhân giống đối với hai loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) và
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour.) cho thấy:
- Nhân giống sinh dưỡng bằng hom từ củ (Râu hùm) và từ thân (Hoàng đằng) có xử
lý các chất kích thích, đã cho kết quả đáng chú ý: Số hom giống nảy mầm, ra rễ khá cao.
- Nhân giống từ hạt ở loài Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) có tỷ lệ nảy mầm rất
thấp (chỉ đạt 11,0 - 14,3%). Cây con trong giai đoạn vườn ươm từ 1 - 5 tháng tuổi có số lá



BTTN Na Hang thường sử dụng: người Tày là 223 loài và người Dao là 164 loài. Trong số đó
có 151 loài, 130 chi và 71 họ, được cả hai dân tộc cùng sử dụng làm thuốc.
 Bước đầu nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng và nhân giống từ hạt đối với hai loài
Râu hùm (Tacca chantrieri Andre) và Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour.) tại khu
BTTN Na Hang.
 Từ loài Ba bét quả nhỏ (Mallotus microcarpus Pax & K. Hoffm) đã phân lập và xác
định được 11 hợp chất, phát hiện trong đó có 01 hợp chất mới: 3-Methoxybenzensulfonic
acid 4-O-β-D-glucopyranoside. Từ loài Song môi tàu (Miliusa sinensis Fin. & Gagnep.) đã
phân lập và xác định được cấu trúc của 2 hợp chất flavonoid gồm: Kaempferol 3-O-(2,6di-O-α-L-rhamnopyranosyl)-β-D-galactopyranoside;
Quercetin3-O-(2,6-di-O-α-Lrhamnopyranosyl)-β-D-galactopyranoside và 01 hợp chất sterol: Daucosteol. Cả hai hợp
chất flavonoid có tác dụng ức chế α-glucosidase với giá trị IC50 là 557,3 và 692,5 M trong
thử nghiệm hoạt tính.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status