Nghiên cứu cấu trúc sinh khối và tích lũy cacbon của thảm cây bụi tại khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang tỉnh Tuyên Quang - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
BÙI THANH HUYỀN

NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC SINH KHỐI VÀ TÍCH LŨY CACBON
CỦA THẢM CÂY BỤI TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
NA HANG TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC


Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lê Đồng Tấn

THÁI NGUYÊN - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi cùng
với sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đồng Tấn. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực. Nếu sai tôi chịu
hoàn toàn trách nhiệm.
Tác giả luận văn
Bùi Thanh Huyền


cùng bạn bè đồng nghiệp để luận văn này được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 8 năm 2013
Tác giả luận văn Bùi Thanh Huyền

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở lý luận 4
1.1.1. Quá trình quang hợp ở thực vật 4
1.1.2. Tích lũy sinh khối và cacbon ở thực vật 4
1.2. Những nghiên cứu về sinh khối thực vật 5

Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1. Một số đặc điểm thảm cây bụi vùng nghiên cứu 36
4.1.1.Cấu trúc của các trạng thái thảm thực vật 36
4.1.2.Đặc điểm cấu trúc thành phần loài và tổ thành loài 37
4.1.3. Tính đa dạng loài và mật độ 39
4.2. Sinh khối tươi của thảm cây bụi 42
4.2.1. Tổng sinh khối tươi của thảm cây bụi 42
4.2.2. Sinh khối tươi theo loài cây 44
4.2.2.1. Sinh khối tươi theo loài tại địa điểm 1 44
4.3. Sinh khối khô của cây bụi 47
4.3.1. Tổng sinh khối khô của thảm cây bụi 47
4.3.2. Sinh khối khô theo loài cây 51
4.4. Cấu trúc sinh khối của một số loài ưu thế 54
4.4.1. Phân bố sinh khối tươi theo loài ưu thế 54
4.4.2.Phân bố sinh khối khô theo loài ưu thế : 56
4.5. Trữ lượng cacbon trong thảm cây bụi 57
4.5.1. Trữ lượng cacbon tích lũy trong sinh khối của thảm cây bụi 57
4.5.2. Trữ lượng cacbon theo loài cây ở các địa điểm nghiên cứu 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC
iv

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt

Bảng 4.5: Sinh khối tươi theo loài cây tại địa điểm 1 44
Bảng 4.6: Sinh khối tươi theo loài cây tại địa điểm 2 46
Bảng 4.7: Sinh khối tươi theo loài cây tại địa điểm 3 46
Bảng 4.8. Sinh khối khô (tấn/ha) của thảm cây bụi tại các điểm nghiên cứu 48
Bảng 4.9: Tỷ lệ (%) sinh khối khô theo các bộ phận 49
Bảng 4.10: Sinh khối khô của cây bụi tại địa điểm 1 51
Bảng 4.11: Sinh khối khô theo loài cây tại địa điểm 2 52
Bảng 4.12: Sinh khối khô theo loài cây tại địa điểm 3 53
Bảng 4.13. Sinh khối tươi (tấn/ha) của các loài ưu thế cây bụi ở khu vực
nghiên cứu 55
Bảng 4.14. Sinh khối khô (tấn/ha) của các loài ưu thế cây bụi ở khu vực
nghiên cứu 56
Bảng 4.15: Trữ lượng cacbon trong sinh khối thảm cây bụi 57
Bảng 4.16: Tỷ lệ (%) cacbon theo các bộ phận 58
Bảng 4.17: Trữ lượng cacbon theo loài tại điểm nghiên cứu 1 60
Bảng 4.18: Tỉ lệ (%) cacbon theo các bộ phận 61
Bảng 4.19: Trữ lượng cacbon theo loài ở điểm nghiên cứu 2 64
Bảng 4.20: Tỉ lệ (%) cacbon theo các bộ phận 65
Bảng 4.21: Trữ lượng cacbon theo loài ở điểm nghiên cứu 3 66
Bảng 4.22: Tỉ lệ (%) cacbon trong các bộ phận 66
Bảng 4.23. Lượng cacbon tích luỹ trong các loài cây bụi ưu thế ở khu vực
nghiên cứu 68
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Hình 3.1: Sơ đồ ô tiêu chuẩn và ô dạng bản 34

, N
2
O, HFCs, BFCs, FS
6
.
Trong đó chủ yếu là CO
2
, được coi là một trong những nguyên nhân chính dẫn
đến sự biến đổi khí hậu. Nguồn phát sinh KNK là sử dụng năng lượng từ việc đốt
cháy nhiên liệu, sản xuất công nghiệp (khai thác khoáng sản, sản xuất hoá chất…)
sản xuất nông lâm nghiệp (sử dụng phân bón, cháy rừng ) và quản lý chất thải.
Nhằm hạn chế sự gia tăng KNK và sự nóng lên của trái đất, Công ước
khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã được soạn thảo
và thông qua tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và phát triển năm 1992
và chính thức có hiệu lực vào tháng 3 năm 1994.
Tính đến tháng 5 năm 2004, có 188 quốc gia đã phê chuẩn công ước này.
Để thực hiện công ước này, nghị định thư Kyoto đã được soạn thảo và thông
qua năm 1997. Nghị định này là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện việc cắt giảm
KNK thông qua các cơ chế khác nhau, trong đó cơ chế phát triển sạch (CDM -
Clean Development Mechanism) là cơ chế mềm dẻo nhất và có liên quan trực
tiếp tới các nước đang phát triển.
Hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng được coi là các hoạt động sử dụng
đất phù hợp nhất trong CDM. Tuy nhiên, một trong những yêu cầu nghiêm ngặt
trong các dự án trồng rừng/ tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch
(ARCDM) là phải xác định được lượng cacbon cơ sở (thực chất là trữ lượng
cacbon trước khi trồng rừng/tái trồng rừng) nhằm đề ra các cơ sở khoa học để
chứng minh được lượng tăng thêm hay lượng cacbon thu nạp được bởi các dự
án ARCDM. Do vậy những nghiên cứu trữ lượng cacbon trong sinh khối cây
bụi - một trong những bể chứa cacbon chủ yếu được tiến hành nhằm cung cấp
cơ sở khoa học cho việc xác định lượng cacbon cơ sở trong việc thiết kế và

2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được cấu trúc sinh khối của một số thảm cây bụi tại khu bảo
tồn thiên nhiên Na Hang - Tỉnh Tuyên Quang.
- Đánh giá được khả năng tích lũy cacbon của các thảm cây bụi và các loài
trong thảm cây bụi tại khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Tỉnh Tuyên Quang. 3
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2013 tại
Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Nhằm bổ sung dẫn liệu về cấu trúc sinh khối và khả năng tích lũy
cacbon trong thảm thực vật làm cơ sở xác định lượng cacbon cơ sở trong các
dự án trồng rừng theo cơ chế sạch ở Việt Nam, góp phần định lượng giá trị môi
trường của rừng tự nhiên.
- Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang là một trong những Khu bảo tồn thiên
nhiên đẹp về cảnh quan, giàu và quí về kiểu rừng nên Khu bảo tồn còn để thực
hiện các nghiên cứu về quá trình diễn thế và phục hồi thảm thực vật, nên kết quả
nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung dẫn liệu về khả năng tích lũy sinh khối và
cacbon trong thảm thực vật trong quá trình diễn thế phục hồi rừng.
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đưa ra những dẫn liệu khoa học giúp cho việc thực hiện chính sách chi trả
dịch vụ môi trường rừng ở Tuyên Quang theo Nghị định 99/2010 - NĐCP ngày
24/9/2010 của Chính phủ. 4


của năng lượng ánh sáng mặt trời do sắc tố của thực vật hấp thu.
Ý nghĩa sinh học cơ bản của quá trình quang hợp là lấy năng lượng tự do
từ môi trường xung quanh rồi tích luỹ nó dưới dạng các phân tử hữu cơ bền
vững. Vai trò có một không hai của quang hợp là làm cho CO
2
(sản phẩm cuối
cùng của sự phân giải các hợp chất hữu cơ) lại được quay trở lại đi vào chu
trình các chất trong tự nhiên tạo thành chất hữu cơ ban đầu. Không có điều đó
thì không có sự tồn tại của sự sống.
1.1.2. Tích lũy sinh khối và cacbon ở thực vật
Sinh khối được xác định là tất cả chất hữu cơ ở dạng sống và chết (còn ở
trên cây) ở trên hoặc ở dưới mặt đất [15]. Sinh khối được xem như một chỉ tiêu
để đánh giá sức sản xuất của thực vật và cũng là một chỉ tiêu đánh giá năng
suất sinh học của thực vật.
Thực vật có khả năng quang hợp đã hấp thụ CO
2
và thải lượng O
2
tương
ứng vào môi trường, đồng thời tích lũy sinh khối ở dạng carbon. Do đó, nghiên 5
cứu sinh khối thực vật là cần thiết, đây là cơ sở xác định lượng carbon tích lũy
và từ đó đánh giá khả năng hấp thụ CO
2
của thực vật, cung cấp thông tin quan
trọng giúp các nhà quản lý đánh giá chất lượng cũng như sử dụng hiệu quả hệ
thực vật, tham gia thị trường carbon, làm cơ sở cho chi trả dịch vụ môi trường.
Qua đó, hạn chế tàn phá rừng.

tổng sinh khối cụm với đường kính (DBH).
Những nghiên cứu về sinh khối tích tụ trên vật rơi rụng dưới tán rừng đã
được một số tác giả nghiên cứu. Theo đó lượng rơi rụng rất khác nhau ở các
kiểu rừng khác nhau và phụ thuộc vào thành phần loài cây [28].
Theo Isagi.Y, Kawahara. T, Kamo. K và Ito. H (1997) sinh khối tích lũy ở
thân là 116,50 tấn/ha, ở cành là 15,5 tấn/ha, sinh khối lá 5,9 tấn/ha và tổng sinh
khối 137,9 tấn/ha [34].
Khi nghiên cưú bộ phận cây bụi và những cây tầng dưới của tán rừng
đóng góp một phần quan trọng trong tổng sinh khối rừng. Có nhiều phương
pháp để xác định sinh khối cho cây bụi và cây tầng dưới trong hệ sinh thái cây
gỗ (Catchpole và Wheeler, 1992). Các phương pháp bao gồm: (1)- Lấy mẫu
toàn bộ cây (quadrats); (2)- phương pháp kẻ theo đường; (3)- phương pháp mục
trắc; (4)- phương pháp lấy mẫu kép sử dụng tương quan.
Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự
khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái. Tuy nhiên, việc xác định đầy
đủ sinh khối rừng không dễ dàng, đặc biệt là sinh khối của hệ rễ, nên việc làm
sáng tỏ vấn đề trên đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn
liệu mang tính thực tiễn và có sức thuyết phục cao. Hiện nay tồn tại 3 cách tiếp
cận để xác định sinh khối rừng như sau:
Cách i) Tiếp cận thứ nhất: Dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối rừng
với kích thước của cây hoặc của từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học
nào đó. Hướng tiếp cận này được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và châu Âu
(Whittaker, 1966; Tritton và Hornbeck, 1982; Smith và Brand, 1983) (dẫn
theo Võ Đại Hải - 2009) [3].
Cách ii) Tiếp cận thứ hai: Xác định sinh khối rừng thông qua đo trực tiếp
quá trình sinh lý điều khiển cân bằng carbon trong hệ sinh thái. Cách này bao gồm 7
việc đo cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái

hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển nước ta[18]. Hà Văn Tuế (1994) cũng
trên cơ sở phương pháp “cây mẫu” của Newboul, P.J (1967) nghiên cứu
năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng
trung du Vĩnh Phúc [20] . 8
Lê Hồng Phúc (1996) đã có công trình “Đánh giá sinh trưởng tăng trưởng,
sinh khối và năng suất rừng trồng Thông ba lá (Pinus keysia) ở vùng Đà Lạt,
Lâm Đồng”. Tác giả đã kết luận rằng mật độ rừng trồng ảnh hưởng lớn tới sinh
trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất của rừng [10].
Vũ Văn Thông (1998) đã nghiên cứu cơ sở xác định sinh khối cây cá lẻ và
lâm phần Keo lá tràm tại tỉnh Thái Nguyên. Tác giả cũng đã thiết lập được một số
mô hình dự đoán sinh khối cây cá lẻ bằng phương pháp sử dụng cây mẫu. Theo
kết quả nghiên cứu thì dạng hàm W = a + bD1,3 và LnW = a + bLnD1,3 mô tả tốt
mối quan hệ giữa sinh khối các bộ phận với chỉ tiêu sinh trưởng đường kính. Tuy
nhiên, đề tài này cũng mới dừng lại ở việc nghiên cứu sinh khối các bộ phận trên
mặt đất, chưa tiến hành nghiên cứu sinh khối rễ và lượng vật rơi [17].
Viên Ngọc Nam (1998) trong công trình nghiên cứu sinh khối và năng suất
sơ cấp rừng Đước (Rhizophora apiculata) trồng ở Cần Giờ, thành phố Hồ Chí
Minh đã cho rằng sinh khối rừng Đước có lượng tăng sinh khối từ 5,93 - 12,44
tấn/ha/năm, trong đó tuổi 4 có lượng tăng sinh khối thấp nhất và cao nhất ở tuổi
12; lượng tăng đường kính 0,46 – 0,81 cm/năm, trữ lượng thảm mục tích lũy trên
sàn rừng 3,4 - 12,46 tấn/ha [7]. Cũng tác giả (2003) trong công trình nghiên cứu
“Nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp quần thể Mấm trắng (Avicennia alba
BL) tự nhiên tại Cần Giờ, Tp. Hồ Chí Minh” đã xác định được tổng sinh khối,
lượng tăng trưởng sinh khối, năng suất vật rụng cũng như năng suất thuần của
quần thể Mấm trắng trồng tại Cần Giờ. Tác giả cho rằng để xác định sinh khối cây
rừng, các nghiên cứu về sinh khối thường dùng phương trình hồi quy tương quan
giữa đường kính hoặc chu vi thân cây ở vị trí 1,3 m với tổng sinh khối hay sinh

sống) thì Biomass thân cây khô tuyệt đối là: 586 x 0,532 = 311,75 tấn. Biomass
toàn rừng là: 311,75 x 1,3736 = 428,2 tấn. Còn nếu tính toán theo biểu Biomass
thì giá trị này là 434,2 tấn. Sai số giữa biểu quá trình sinh trưởng và biểu sản
lượng là 1,4%, đây là mức sai số có thể chấp nhận được [6].
Nguyễn Văn Dũng (2005) , nghiên cứu tại Núi Luốt cho thấy rừng trồng
Thông mã vĩ thuần loài 20 tuổi có tổng sinh khối tươi (trong cây và vật rơi
rụng) là 321,7 - 495,4 tấn/ha, tương đương với lượng sinh khối khô là 173,4 -
266,2 tấn. Rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối tươi
(trong cây và trong vật rơi rụng) là 251,1 - 433,7 tấn/ha, tương đương với lượng
sinh khối khô thân là 132,2 - 223,4 tấn/ha [1]. 10
Võ Đại Hải (2007) đã nghiên cứu sinh khối cây cá lẻ Mỡ trồng thuần loài
vùng trung tâm Bắc Bộ Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Sinh khối khô
và tươi cây cá lẻ Mỡ thay đổi theo tuổi và theo cấp đất. Cụ thể, tuổi tăng lên thì
sinh khối cũng tăng lên, ở cấp đất tốt thì sinh khối cao hơn ở cấp đất xấu. Cấu
trúc sinh khối cây cá lẻ gồm 4 phần, trong đó sinh khối thân chiếm tỷ lệ lớn
nhất, sau đó đến sinh khối rễ, cành và lá. Giữa sinh khối cây cá lẻ và các nhân tố
điều tra lâm phần D1,3, Hvn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mối quan hệ
này được biểu thị bằng các phương trình dạng tuyến tính đơn giản một lớp. Với
các kết quả nghiên cứu thu được, có thể sử dụng để xác định hoặc dự báo nhanh
sinh khối cây cá lẻ Mỡ thông qua chỉ tiêu D1,3 và Hvn, xác định sinh khối khô
thông qua sinh khối tươi, xác định sinh khối dưới mặt đất thông qua sinh khối trên
mặt đất [2]. Đối với cây Keo, năm 2008, tác giả đã nghiên cứu sinh khối cây cá
thể keo lai trồng thuần loài ở Việt Nam. Kết quả cho thấy, sinh khối cây cá thể keo
lai có sự biến đổi rất lớn theo các cấp đất và các giai đoạn tuổi khác nhau. Cấu trúc
sinh khối tươi cây cá thể keo lai chủ yếu tập trung vào sinh khối thân 49,8 %, rễ
19,1 %, lá 16,5 % và 7 cành 14,6 %. Giữa sinh khối khô và sinh khối tươi cây cá
thể keo lai với các nhân tố điều tra lâm phần như D1,3, Hvn, A và giữa sinh khối

và H
vn
theo từng cấp đất
và chung cho các cấp đất [19].
1.3. Những nghiên cứu về tích lũy CO
2

1.3.1. Trên thế giới
Quá trình biến đổi carbon trong hệ sinh thái được xác định từ cân bằng
carbon gồm carbon đi vào hệ thống – thông qua quang hợp và tiếp thu các hợp
chất hữu cơ khác - và carbon mất đi từ quá trình hô hấp của thực vật và động
vật, lửa, khai thác, sinh vật chết cũng như những quá trình khác [15].
Carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính:
Thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng. Việc
xác định lượng carbon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác định
sinh khối rừng .
Brown J và Pearce D. W (1994) đã nghiên cứu hấp thụ carbon của rừng
nhiệt đới. Kết quả cho thấy một khu rừng nguyên sinh có thể hấp thụ được
280 tấn carbon/ha và sẽ cho ra 200 tấn carbon/ha nếu bị đốt do canh tác nương
rẫy và sẽ giải phóng carbon lớn hơn nếu diện tích rừng chuyển bị chuyển thành
đồng cỏ hay đất để sản xuất nông nghiệp. Rừng trồng có thể hấp thụ khoảng
115 tấn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng chuyển đổi sang
canh tác nông nghiệp[25]. 12
McKenzie N và cs (2001), qua công trình nghiên cứu tương đối toàn diện
và có hệ thống về lượng carbon tích lũy của rừng, kết quả nghiên cứu cho thấy:
Carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính: Thảm
thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng [29].


13
Dhruba Bijaya G. C (2008) đã nghiên cứu khả năng tích tụ carbon của
Dendrocalamus strictus. Kết quả cho thấy sinh khối là 5,24 tấn/ha trong đó
tổng 22 sinh khối thân là 4,59 tấn/ha, tổng sinh khối lá là 0,69 tấn/ha và.
Tổng carbon là 232,06 tấn/ha trong đó: Carbon tích tụ trong thân là 1,52
tấn/ha, trong lá 0,14 tấn/ha, carbon rễ 0,08 tấn/ha và carbon tích lũy trong
đất là 230,32 tấn/ha [27].
Arun Jyoti Nath, Gitasree Das và Ashesh Kumar Das (2008) đã nghiên cứu
sinh khối trên mặt đất, năng suất và khả năng tích tụ carbon của rừng tre trồng tại
Assam, miền Bắc Ấn độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tổng sinh khối trên mặt
đất của khu rừng trồng trong năm 2003 là 42,98 tấn/ha và trong năm 2006 tăng
lên 152,15 tấn/ha, sinh khối trung bình là 99,28 tấn/ha. Năng suất trung bình là
42,5 tấn/ha. Carbon tích tụ trong sinh khối trên mặt đất từ 21,69 – 76,55 tấn/ha.
Carbon tích trữ trong thân chiếm 58 – 73 % tổng số carbon tích tụ [23].
Bipal Kr Jan và cs (2009) đã nghiên cứu tốc độ tích lũy carbon và sinh
khối carbon trên mặt đất của 4 loài cùng độ tuổi (6 tuổi) ở Ấn Độ: Shorea
robusta Gaertn.f, Albzzia lebbek Benth, Tectona grandis Lin.f và Artocarpus
integrifolia Linn. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tốc độ hấp thụ carbon trung
bình từ môi trường xung quanh trong mùa đông của Shorea robusta Gaertn.f,
Albzzia lebbekBenth, Tectona grandis Lin.f và Artocarpus integrifoli Linn lần
lượt là 11,13g/giờ; 11,86 g/giờ; 2,57 g/giờ và 4,22 g/giờ. Lượng carbon tích lũy
hàng năm của Shorea robusta Gaertn.f, Albzzia lebbek Benth, Tectona grandis
Lin.f và Artocarpus integrifoli Linn tương ứng là 8,97 tấn C/ha; 11,97 tấn
C/ha; 2,07 tấn C/ha và 3,33 tấn C/ha. Tỷ lệ % sinh khối carbon trên mặt đất của
4 loài Shorea robusta Gaertn.f, Albzzia lebbek Benth, Tectona grandis Lin.f
và Artocarpus integrifoli Linn tương ứng là 44,45 %; 47,12 %; 45,45 % và
43,33 % và tổng sinh khối carbon trên mặt đất của 4 loài ước tính là 5,22 tấn
C/ha; 6,26 tấn C/ha; 7,97 tấn C/ha và 7,28 tấn C/ha [24].


của một
số loại rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam. Trong nghiên cứu này, bằng các
phương pháp nghiên cứu đo đếm sinh trưởng, năng suất và sinh khối của rừng
trên các lập địa khác nhau ở nhiều nơi đã đưa ra phân hạng mức độ thích hợp
cho từng loại cây trồng chủ yếu phổ biến hiện nay: Keo tai tượng, Keo lá tràm,
Keo lai, Thông ba lá, Thông mã vi, Thông nhựa và Bạch đàn Urophylla. Các
tác giả đã phân tích, tính toán lượng carbon trong sinh khối trên và dưới mặt
đất, cây bụi, thảm cỏ, cành khô lá rụng, thiết lập mối tương quan giữa trữ
lượng, năng suất gỗ và lượng CO
2
hấp thụ hằng năm của từng loài, từ đó tìm ra
một số hệ số chuyển đổi quan trọng:
- B/A - Tỷ số giữa sinh khối gỗ khô (tấn/ha)/tổng trữ lượng lâm phân (m3/ha).
- C/B - Tỷ số giữa sinh khối trên mặt đất (tấn/ha)/ sinh khối gỗ khô (tấn/ha).
- D/C - Tỷ số giữa tổng sinh khối (tấn/ha)/ tổng sinh khối trên mặt đất (tấn/ha).
- E/D - Tỷ số giữa tổng lượng carbon hấp thụ (tấn/ha)/ tổng sinh khối (tấn/ha).
- G/E - Hệ số chuyển đổi từ C sang CO
2
. 15
Tất cả những hệ số trên được so sánh với các hệ số tương ứng của NIRI [14].
Các tác giả thường thiết lập mối quan hệ giữa lượng carbon tích luỹ của
rừng với các nhân tố điều tra cơ bản như đường kính, chiều cao vút ngọn, mật
độ,… cụ thể như Nguyễn Văn Dũng (2005) [1] đã lập phương trình cho 2 loài
Thông mã vĩ và Keo lá tràm; Ngô Đình Quế (2005) [13] đã xây dựng mối quan
hệ cho các loài Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn
Uro; Vũ Tấn Phương (2006) [11] xây dựng các phương trình quan hệ cho Keo
lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Urophylla, Quế. Đây là những cơ sở

Võ Đại Hải (2007) đã nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon rừng Mỡ trong
thuần loài tại vùng trung tâm Bắc Bộ. Kết quả nghiên cứu đã xác định được cấu
trúc và lượng carbon hấp thụ trong cây Mỡ, cây bụi thảm tươi, vật rơi rụng và
trong đất rừng, từ đó đã xác định được tổng lượng carbon hấp thụ trong lâm
phần Mỡ trồng trên các cấp đất và cấp tuổi khác nhau. Kết quả nghiên cứu cũng
đã xây dựng được mối quan hệ giữa lượng carbon hấp thụ với các nhân tố điều 16
tra như D1,3, Hvn, tuổi và mật độ làm cơ sở cho việc xác định nhanh và dự báo
lượng carbon tích lũy ở rừng trồng Mỡ tại vùng Trung Tâm Bắc Bộ nước ta [2].
Bảo Huy (2009) đã thực hiện nghiên cứu phương pháp ước tính trữ lượng
carbon của rừng tự nhiên làm cơ sở tính toán lượng CO
2
phát thải từ suy thoái
và mất rừng ở Việt Nam. Kết quả thu được như sau:
- Để xác định sinh khối rừng và khả năng hấp thụ CO
2
của rừng tự nhiên,
cần nghiên cứu một cách có hệ thống thông qua các phương pháp rút mẫu thực
nghiệm trên hiện trường, phân tích carbon tích lũy trong các bể chứa trên và
dưới mặt đất, mô hình hóa các mối quan hệ giữa sinh khối, lượng carbon tích
lũy, CO
2
hấp thụ của cây rừng và lâm phần với các nhân tố điều tra, sinh thái
rừng. Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định, dự báo năng lực hấp thụ CO
2

của các trạng thái, kiểu rừng khác nhau.
- Các trạng thái rừng non, nghèo hiện tại đã bị hạn chế về giá trị lâm sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status