LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đồ án tốt nghiệp “Nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải
pháp bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh
trong bối cảnh Biến đổi khí hậu” là công trình nghiên cứu của riêng tôi cùng với
sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thế Hưng. Các số liệu, kết quả nghiên
cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và chịu mọi kỷ luật của khoa và
nhà trường đề ra.
Sinh viên
Vương Ngọc Anh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, em xin
đặc biệt cám ơn PGS.TS Nguyễn Thế Hưng – giảng viên trường Đại học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em
trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáo của trường Đại học
Tài nguyên và Môi trường Hà Nội nói chung và các thầy, cô giáo trong bộ môn
Biến đổi khí hậu và Phát triển bền vững nói riêng đã tận tình giảng dạy và truyền
đạt những kiến thức quý báu trong suốt thời gian em học tập tại trường.
Đồng thời, em xin được gửi lời cảm ơn đến Phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Vân Đồn, và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện
giúp đỡ em hoàn thành đồ án tốt nghiệp này.
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên
cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót khi thực hiện đề tài này. Vì
vậy, em mong được nhận sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các
bạn sinh viên để khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
NN&PTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NTTS
Nuôi trồng thủy sản
UBND
Ủy ban nhân dân
RNM
Rừng ngập mặn
THPT
Trung học phổ thông
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
7
8
0,3m. Bảo vệ RNM chống lại quá trình xói mòn, sạt lở là ngăn cản quá trình bào
mòn và thu hẹp diện tích đất rừng, duy trì mức độ đa dạng sinh học như hiện nay.
Tuy được coi là nguồn tài nguyên ven biển vô cùng hữu ích đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội và đời sống con người nhưng hiện nay RNM đang được đánh
giá là một trong những hệ sinh thái đang bị suy thoái nghiêm trọng ở Việt Nam.
Diện tích rừng ngày càng thu hẹp, môi trường rừng ngày càng bị đe dọa. Theo số
liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 1943 Việt Nam có hơn 408.500 ha, tính
đến năm 2013 diện tích RNM cả nước chỉ còn khoảng 155.000ha phần lớn là RNM
mới trồng, những khu RNM tự nhiên, nguyên sinh còn ít. Như vậy RNM ven biển
đã giảm hơn 60% diện tích so với cách đây khoảng 70 năm.
Hiện nay, trong quá trình phát triển kinh tế với tốc độ đô thị hóa diễn ra ngày
càng mạnh cùng với tốc độ gia tăng dân số, với việc quản lý lỏng lẻo hoặc chưa
quan tâm bảo vệ đúng mức đến loại tài nguyên này nên con người đã khai thác và
sử dụng rừng ngập mặn vào nhiều mục đích khác nhau làm cho diện tích rừng ngày
càng bị thu hẹp và thành phần các loài cây ngập mặn bị suy giảm. Hậu quả của nó
khiến tôm chết, hiện tượng phèn hóa, xâm nhập mặn gay gắt, rừng mất kéo theo
những thiệt hại nặng nề về người và của khi thiên tai xảy ra mà đến nay cũng
chưa hề khắc phục được.
Những năm gần đây đã có nhiều chiến lược và chính sách đề cập đến việc bảo
vệ và phục hồi RNM. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 của Việt Nam đưa ra các mục tiêu cụ thể như “Phục hồi diện
tích RNM lên bằng 80% mức năm 1990”. Để góp phần thực hiện được mục tiêu trên
em đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát
triển rừng ngập mặn ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh trong bối cảnh Biến
đổi khí hậu” để tiến hành nghiên cứu.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về đa dạng sinh học. Định nghĩa do Quỹ Bảo
vệ Thiên nhiên Quốc tế - WWF) (1989) quan niệm: “Đa dạng sinh học (ĐDSH) là
sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và
vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những Hệ sinh thái
(HST) vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” [14]. Do vậy, ĐDSH
bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Đa dạng loài bao
gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực
vật và các loài nấm. Ở mức độ vi mô hơn, đa dạng sinh học bao gồm cả sự khác biệt
về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng
như sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. Đa dạng sinh
học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống,
các HST nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của
các mối tương tác giữa chúng với nhau.
Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ
tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và
mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên”; đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong
loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các
HST (đa dạng HST).
- Đa dạng di truyền được hiểu là tần số và sự đa dạng của các gen và bộ gen
trong mỗi quần thể và giữa các quần thể với nhau;
- Đa dạng loài là tần số và sự phong phú về trạng thái của các loài khác nhau;
- Đa dạng HST là sự phong phú về trạng thái và tần số của các HST khác
nhau.
Từ ba góc độ này, người ta có thể tiếp cận với ĐDSH ở cả ba mức độ: mức độ
phân tử (gen), mức độ cơ thể và mức độ HST.
ĐDSH bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay các phần cơ
thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiện đang có giá trị sử
dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người. Nói cách khác, ĐDSH là toàn bộ tài
nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi có khí hậu nóng ẩm, đất ngập nước thường xuyên,
giàu mùn, phù sa và chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều [6].
RNM không chỉ cung cấp các sản phẩm có giá trị như gỗ, than, củi, tanin, thức
ăn, thuốc uống... mà còn là nơi sống và ương giống của nhiều loại hải sản, chim
12
nước, chim di cư và một số động vật có ý nghĩa kinh tế lớn như khỉ, lợn rừng, cá
sấu, kỳ đà, chồn, trăn...
RNM có tác dụng to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông, điều hòa khí hậu,
hạn chế xói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn chế sự xâm nhập mặn, ngăn cản các
chất thải rắn trôi ra biển, bảo vệ đê điều, đồng ruộng, nơi sống của người dân ven
1.1.3.
biển trước sự tàn phá của gió mùa, bão, nước biển dâng.
Thực vật ngập nước
Thực vật ngập mặn hay còn gọi cây ngập mặn là các loại cây và cây bụi sống
trong các vùng nước mặn ven biển trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu
giữa vĩ độ 25° Bắc và 25° Nam [10]. Các độ mặn khác nhau tạo ra nhiều loài thay
đổi từ nước lợ đến nước mặn, đến các môi trường có độ mặn lớn hơn gấp 2 lần độ
mặn nước biển, tại đây hàm lượng muối cô đặc bởi sự bốc hơi.
Có một số loài cây gỗ và cây bụi thích nghi với môi trường nước mặn. Không
phải tất cả các loài đều thích nghi, mặc dù thuật ngữ "thực vật ngập mặn" có thể
được dùng để chỉ tất cả chúng, hoặc theo nghĩa hẹp hơn, nó chỉ dùng cho họ thực
vật ngập mặn là Rhizophoraceae (họ Đước), hoặc đặc biệt hơn là chi Rhizophora.
Thực vật ngập mặn hình thành một môi trường sống nước mặn của rừng cây
thân gỗ và rừng cây bụi hay còn gọi là rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn thường
phân bố ở vùng ven biển tích tụ các trầm tích hạt mịn và chúng có vai trò bảo vệ các
vùng đất bởi tác động của sóng năng lượng cao. Có thể gặp chúng ở các cửa
Galapagos ở châu Mỹ.
Khi nghiên cứu về phân bố của cây RNM trên thế giới, Ding Haw cho rằng:
khu vực giữa Malaysia và Bắc Úc là trung tâm tiến hóa của RNM (Ding Haw,
1958). Tuy nhiên trên cơ sở phân tích một số hóa thạch thì một số tác giả lại cho
rằng trung tâm này nằm ở Tây Nam và Bắc Úc tới Papua New Guinea, có khoảng
30 loài cây gỗ và cây bụi thuộc 14 họ thực vật có hoa trong khu hệ thực vật RNM.
Ngoài ra, trong RNM còn có 10 loài thuộc 8 họ dây leo hoặc dưới tán và khoảng 10
– 15 loài phát triển tốt ở những vùng trên cạn đôi khi lại gặp trong các quần xã rừng
ngập mặn [1].
Những nghiên cứu về động thái của RNM nói chung của một số tác giả trên
thế giới phần lớn thông qua việc nghiên cứu về sinh trưởng và tái sinh của cây ngập
mặn bằng cách tìm hiểu các phương pháp đo tăng trưởng đồng thời tiến hành theo
dõi tốc độ tăng trưởng của cây dưới tác động của yếu tố môi trường. Năm 1959,
Steru và Voight đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn nước biển đến sinh
trưởng của cây Đước đỏ (Rhizophora mangle) và cho rằng cây sinh trưởng tốt nhất
ở độ mặn tương đương với độ mặn nước biển. Năm 1975 E.Odum phát hiện ra tác
dụng to lớn của bùn bã loài Đước đỏ trong chuỗi thức ăn cửa sông ven biển Floria
thì hệ sinh thái RNM trở thành đối tượng được nhiều tổ chức trên thế giới và các
nhà khoa học ở nhiều nước quan tâm nghiên cứu [2].
Nhận thức được tầm quan trọng của rừng và đất rừng ngập mặn trong cuộc
sống, các nước khu vực Đông Nam Á có rừng ngập mặn như: Thái Lan, Philippin,
Malaysia, Indonesia đã thành lập cơ quan chuyên trách RNM như Ủy ban ngập mặn
quốc gia (NATMANCOM). Cơ quan này chủ yếu tập trung nghiên cứu về các chính
sách quản lý rừng và đất RNM, chưa đi sâu nghiên cứu về các giải pháp kỹ thuật.
14
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về RNM trên thế giới và đều thống
nhất quan điểm cho rằng: diện tích rừng ngập mặn trên thế giới không thể thống kê
15
Latief H.Hadi S (2007), cho thấy có 4 cách thức mà rừng ngập mặn có thể làm
giảm tác hại của sóng thần. Tuy nhiên, khả năng của rừng ngập mặn có thể biến đổi
nhiều phụ thuộc vào kích thước của cây, mật độ, chiều sâu cây rừng [8].
Các tài liệu công bố chủ yếu phản ánh hiệu lực chắn sóng tổng hợp của đai
rừng ngập mặn, đó là khả năng làm suy yếu sóng biển sau các đai rừng thí nghiệm.
Những liên hệ chủ yếu làm giảm mức chiều cao sóng biển theo bề rộng của các đai
rừng phòng hộ. Còn rất ít tài liệu công bố về liên hệ giữa khả năng làm suy yếu
sóng biển với các yếu tố cấu trúc RNM. Trong thực tế thì khả năng chắn sóng của
rừng ngập mặn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố cấu trúc rừng như mật độ, chiều cao,
đường kính thân, đường kính tán cây rừng và bề rộng các đai rừng. Đây mới là cơ
sở khoa học để thiết lập các khu rừng ngập mặn có hiệu quả chắn sóng cao và phù
hợp với các địa phương.
1.3.
Tổng quan nghiên cứu rừng ngập mặn ở Việt Nam
1.3.1. Nghiên cứu về sinh thái và phân bố rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là loại rừng phân bố ở vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới và
cận nhiệt đới, nơi có thủy triều ra vào hàng ngày. Với tổng diện tích hàng triệu héc
ta và ý nghĩa kinh tế môi trường quan trọng rừng ngập mặn ở Việt Nam đã được
-
nghiên cứu từ rất sớm. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Phan Nguyên Hồng (1970) trong đề tài luận án phó tiến sĩ đã trình bày: “Đặc điểm
sinh thái, phân bố hệ thực vật và thảm thực vật rừng ven biển miền Bắc – Việt
-
Nam”.
Đào Văn Tấn (2003) trong công trình “Nghiên cứu độ mặn và thời gian trồng đến
sinh trưởng và tỷ lệ sống của Bần chua ở giai đoạn sau vườn ươm” đã trình bày về
ảnh hưởng của độ mặn nước biển đến sự sinh trưởng của cây Bần chua.
17
Bảng 1.1: Phân bố diện tích đất ngập mặn và rừng ngập mặn theo miền Bắc và
miền Nam năm 2000 [15]
Diện tích đất
Tỷ lệ
Diện tích rừng
Tỷ lệ
ngập mặn (ha)
(%)
ngập mặn (ha)
(%)
Miền Bắc
166.377
27,4
cao, khoảng 4.400 ha/năm [15].
1.3.2. Nghiên cứu về tác dụng phòng hộ của rừng ngập mặn
Mỗi loại rừng có tác dụng phòng hộ riêng. Đối với rừng phát triển trên các
vùng đất cao (đồi, núi, cao nguyên...) ở sâu trong lục địa thì tác dụng phòng hộ là
hạn chế tác hại của lũ lụt, xói mòn đất, giữ nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt
con người... Những dải rừng được trồng ven biển có tác dụng chống cát bay, cố định
các cồn cát, chống gió, bảo vệ đồng ruộng, khu dân cư. Ở Việt Nam người ta đã biết
đến tác dụng chắn sóng biển của RNM và hầu hết công trình nghiên cứu đều đề cập
đến tác dụng chắn sóng. Tuy nhiên những nghiên cứu sâu về vai trò chắn sóng của
-
RNM thì còn ít, có thể kể đến một số công trình như sau:
Yoshihiro Mazda, Michimasa Magi, Mothoko Kogo, Phan Nguyên Hồng (2005), đã
nghiên cứu “Vai trò chắn sóng của rừng ngập mặn ở đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam”.
Các tác giả đã đề cập đến đặc điểm biến động của mực nước triều và ảnh hưởng của
-
rừng ngập mặn đến mực nước triều.
Công trình nghiên cứu có ý nghĩa về tác dụng chắn sóng của RNM phải kể đến của
Vũ Đoàn Thái (2005) khi tiến hành nghiên cứu khả năng chắn sóng, bảo vệ bờ biển
trong bão qua một số kiểu cấu trúc RNM trồng ven biển Hải Phòng đã nhận định
rằng: RNM có tác dụng đáng kể trong việc giảm độ cao sóng trong bão khi vào sâu
các dải rừng. Tại thời điểm đó đối với rừng Trang có độ rộng 650m, rừng Bần có độ
18
rộng 920m và 650m, độ cao sóng sau rừng giảm 77 – 88%. Rừng ngập mặn có vai
trò rất lớn làm giảm thiểu đáng kể tác động phá hủy bờ biển do sóng, bão [16].
nhà kính. Rừng ngập mặn 1 năm tuổi có thể hấp thụ 8 tấn CO 2 /héc ta/năm và khả
năng hấp thụ của khí CO2 tăng theo độ tuổi của cây rừng. Với diện tích gần 27.500
ha, mỗi năm rừng ngập mặn ở Cần Giờ hấp thu được hơn 9,5 triệu tấn CO 2 (Viên
Ngọc Nam, 2011) [12].
19
Với môi trường nước, RNM là quả thận khổng lồ lọc các chất thải cho môi
trường vùng ven biển, là môi trường tiêu hóa ở cấp độ thứ ba các chất thải trong chu
trình tuần hoàn khí cacbonnic, nito và lưu huỳnh. Lá cây có nhiều cấu tạo chống
mất nước như lớp cutin dày và có sáp bao phủ, lỗ khí nằm sâu trong biểu bì và
thường đóng vào ban ngày, cách sắp xếp lá trên cành cây thay đổi tùy theo vị trí để
tránh ánh sáng trực xạ. Như vậy đối với môi trường nước RNM có vai trò quan
trọng không những tạo điều kiện cho các loài động thực vật phát triển mà nó còn
giữ cho độ mặn của nước luôn luôn ổn định giúp cho các loài thủy sinh có điều kiện
sinh trưởng và phát triển tốt.
Các dòng chảy từ nội địa – nơi có những khu công nghiệp, khu dân cư đông
đúc – mang theo nhiều chất thải trong sinh hoạt, y tế, công nghiệp, nông nghiệp
cùng với các hóa chất dư thừa khi qua vùng RNM ven biển được hệ rễ cây ngập
mặn có rất nhiều vi sinh vật phân hủy, biến chúng thành thức ăn cho hệ sinh vật ở
đây, làm trong sạch nước biển.
RNM có bộ rễ phát triển, bao gồm rễ cọc và hệ rễ phụ mọc xung quanh nên có
tác dụng chống xói mòn, sạt lở. Còn đối với môi trường ven bờ rễ của cây ngập mặn
thì có vai trò điều tiết dòng chảy và lưu lượng nước đi qua những cánh RNM này.
Bên cạnh đó, rừng ngập mặn còn có những vai trò quan trọng trong việc ổn định bờ
biển và thúc đẩy quá trình bồi đắp phù sa, phân tán bớt năng lượng của sóng, gió và
thủy triều.
Vì vậy, vấn đề khôi phục diện tích RNM là một vấn đề cấp bách hiện nay đòi
hỏi chúng ta phải kết hợp hài hòa giữa khai thác và phục hồi lại diện tích RNM, để
nghiệp: libe làm nút chai, cho sợi, làm giấy, ván ép... (Phan Nguyên Hồng và Hoàng
Thị Sản, 1993) [4]. RNM đã chứng minh sẽ là một nguồn thực phẩm và nguyên liệu
quan trọng cho người dân sống ven biển. Cua, con trai, con hàu, cá... và nguồn thức
ăn thường xuyên được tuyển chọn tại đây, thậm chí quả của một số loại cây trong hệ
thống rừng này đôi khi cũng trở thành một món ăn hấp dẫn. Nhắc đến vai trò của
RNM, một sản phẩm không thể không nhắc đến là tanin, so với các loài thực vật
khác, vỏ cây RNM có lượng tanin rất cao và chất lượng tốt. Tỷ lệ tanin ở các loài
biến động từ 4,6 – 35,5%. Tanin được dùng trong công nghệ thuộc da, nhuộm vải
sợi, nhuộm lưới đánh cá, làm keo dán.
RNM được coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặc biệt là nguồn
lợi thủy sản. Với vai trò như trên của RNM thì chúng ta cần kết hợp hài hòa giữa
việc khai thác và mở rộng để RNM ngày càng phát huy được giá trị của nó.
b. Vai trò của rừng ngập mặn đối với du lịch
Du lịch là một trong những ngành kinh tế đóng góp rất lớn trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội và mang lại giá trị kinh tế cho con người, đặc biệt trong giai
21
đoạn hiện nay, du lịch sinh thái đươc chú trọng và được các cấp các ngành quan tâm
vì nó mang lại giá trị kinh tế, vừa đảm bảo sự đa dạng sinh học đang bị suy thoái
nghiêm trọng.
Trong những năm gần đây, RNM là nguồn tài nguyên DLST vô cùng quý giá,
khách du lịch ngày càng có xu hướng tìm đến, tham quan, nghiên cứu các khu
RNM, thêm vào đó nguồn lợi thu được từ hệ sinh thái này cũng tăng lên một cách
đáng kể. Rừng ngập mặn thực sự đã trở thành đối tượng tiềm năng đối với hoạt
động khai thác phát triển du lịch nói riêng và đóng góp vào quá trình phát triển kinh
tế - xã hội nói chung.
-
để phục vụ cho quá trình điều tra, phỏng vấn.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Phỏng vấn viết ngẫu nhiên bằng bảng hỏi in
sẵn đối với 30 hộ dân tại 3 xã Đài Xuyên, Đoàn Kết và Bình Dân.
b. Phương pháp chuyên gia: Tham vấn những chuyên gia có hiểu biết nhất định để có
thể tìm hiểu, đánh giá khách quan về điều kiện tự nhiên xã hội, môi trường ở khu
vực nghiên cứu.
23
c. Phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn
Hình dạng ô tiêu chuẩn: Ô nghiên cứu hình vuông.
Diện tích (kích thước) ô tiêu chuẩn.
Ở mỗi xã chúng tôi chọn 3 ÔTC, các ÔTC được bố trí dọc theo tuyến từ mép
nước mặn đi vào phía trong: ô thứ nhất ở phía trong gần bờ nhất, ô thứ hai ở giữa, ô
thứ ba ở phía ngoài cùng tiếp giáp với nước sông. Kích thước của ÔTC là 100m2
(10m x 10m) Điều tra ÔTC để thu thập các số liệu sau:
+ Thành phần loài.
+ Mật độ: đếm số cây trong mỗi ÔTC rồi tính ra số cây/ha.
+ Tần số gặp được tính theo công thức của Nguyễn Nghĩa Thìn: Tần số gặp
(%) = (Số ô tìm thấy loài/ Tổng số ô nghiên cứu) x 100.
+ Xác định độ tàn che: được xác định là phần diện tích mặt đất mà tán cây che
phủ tính theo giá trị phần trăm so với diện tích khu vực nghiên cứu.
+ Phương pháp phân chia kiểu dạng sống:
Phân bố các loài cây ngập mặn của hệ sinh thái thuốc kiểu dạng sống nào,
Hình 2.1: Bản đồ huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh [21].
2.2.2. Địa hình
Vân Đồn có ít sông ngòi, núi có nhiều nhưng không cao, mà chủ yếu là núi
đá vôi. Các đảo lớn gần đất liền có núi cao trên 300m, các đảo nhỏ chỉ có núi cao
dưới 200m. Địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Độ cao trung bình là
40m so với mặt nước biển; độ dốc trung bình 25 0, ít bằng phẳng và thường bị chia
cắt. Do địa hình đảo nên toàn huyện không có sông mà chỉ có suối. Có hai hồ nhỏ là
hồ Voòng Tre và hồ Mắt Rồng.
2.2.3.
Khí hậu
Khí hậu huyện Vân Đồn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa hè nóng
và ẩm, mùa đông khô và lạnh. Tuy nhiên, do đặc điểm về vị trí địa lý và địa hình bị
chi phối bởi khí hậu duyên hải, chịu ảnh hưởng và tác động nhiều của biển, tạo cho
khu vực có những đặc trưng khí hậu riêng.
25
Đặc điểm chính của khí hậu huyện Vân Đồn như sau:
a. Chế độ nhiệt
Nằm trong miền khí hậu phía Bắc, chịu ảnh hưởng tương đối mạnh mẽ của gió
mùa Đông Bắc nên huyện Vân Đồn có biến trình nhiệt độ trong năm thể hiện khá
rõ, nhiệt độ bắt đầu tăng từ cuối mùa đông, qua mùa xuân cho đến đầu mùa hè và
bắt đầu giảm từ cuối mùa hè qua mùa thu cho đến mùa đông.
Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23 0C. Nhiệt độ cao nhất trong năm