ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
----------------
TRẦN NINH
NGHIÊN CỨU
NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHỨC NĂNG THẤT TRÁI
BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN
ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TYP 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y - DƢỢC
TRẦN NINH
NGHIÊN CỨU
NHỮNG THAY ĐỔI VỀ CHỨC NĂNG THẤT TRÁI
BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER TIM Ở BỆNH NHÂN
ĐÁI THÁO ĐƢỜNG TYP 2
CHUYÊN NGÀNH: NỘI KHOA
đã cổ vũ, động viên và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Trần - Ninh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCT-ĐTĐ
: Bệnh cơ tim-Đái tháo đường
BMI
: Body Mass Index-Chỉ số khối cơ thể
CO
: Cung lượng tim
CT
: Cholesterol total-Cholesterol toàn phần
Dd
IVSd
: Bề dày vách liên thất tâm trương
IVSs
: Bề dày vách liên thất tâm thu
LDL-C
: Low density lipoprotein Cholesterol- Cholesterol tỷ trọng thấp
LVPWd
: Bề dày thành sau thất trái tâm trương
LVPWs
: Bề dày thành sau thất trái tâm thu
NMCT
: Nhồi máu cơ tim
NPTĐH
: Nghiệm pháp tăng đường huyết
SV
Các từ viết tắt
Mục lục
Danh muc bảng
Mục lục biểu đồ
Chƣơng 1: Đặt vấn đê ………………………………………...
1
Chƣơng 2: Tổng quan ………………………………………...
4
1.1. Đại cương về đái tháo đường ……………………………...
4
1.2. Cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường type 2 ………………
10
1.3. Cơ chế bệnh sinh bệnh suy tim ở bệnh nhân đái tháo đường
10
1.4 Các nghiên cứu về thay đổi chức năng tim ở bệnh nhân đái
tháo đường ……………………………………………………...
16
1.5. Ứng dụng của siêu âm Doppler tim trong đánh giá chức
33
3.1 Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu ………………...
33
3.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng c ủa các nhóm nghiên
cứu ……………………………………………………………...
34
3.3. Kết quả các thông số siêu âm …………………………… ...
38
Chƣơng 4: Bàn luận …………………………………………..
47
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4.1 Đặc điểm chung của các nhóm nghiên cứu ………………...
48
4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng c ủa các nhóm nghiên
cứu ……………………………………………………………...
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
1.
Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở một số nơi trên thế giới
2.
Bảng 1.2: Số liệu thông báo của một số quốc gia về tỷ lệ bệnh
5
ĐTĐ năm 1999 ………………………………………
5
3.
Bảng 1.3: Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ…………………….
7
4.
Bảng 3.2: Đặc điểm về giới, của các nhóm nghiên cứu ….
33
10.
Bảng 3.3: Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
34
11.
Bảng 3.4: Đặc điểm lâm sàng của nhóm đái tháo đường
34
12.
Bảng 3.5: Đặc điểm của chỉ số BMI của các nhóm nghiên cứu
………………………………………………………...
13.
Bảng 3.6: Đặc điểm của chỉ số BMI của nhóm bệnh nhân
ĐTĐ ……………………………………………………….
14.
35
Bảng 3.11: Đặc điểm các thông số đánh giá chức năng tâm
thu thất trái ở nhóm ĐTĐ ………………………………….
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
39
19.
Bảng 3.12: So sách chức năng tâm thu thất trái giữa 2 giới ở
bệnh nhân ĐTĐ …………………………………………
20.
Bảng 3.13: So sánh các thông số đánh giá chức năng tấm
trương thất trái của các nhóm nghiên cứu …………………
21.
46
Bảng 4.1: So sánh tỷ lệ ĐTĐ có THA với một số nghiên cứu
khác …………………………………………………..
30.
45
bệnh nhân ĐTĐ ……………………………………………
25.
42
Bảng 3.16: So sánh tỉ lệ sóng E /A giảm gi ữa 2 giới bệnh
nhân ĐTĐ …………………………………………………
24.
41
Bảng 3.15: So sánh tỉ lệ sóng E /A giảm gi ữa các nhóm
nghiên cứu …………………………………………………
23.
41
Bảng 3.14: So sánh các thông số đánh giá chức năng tâm
trương thất trái ở nhóm ĐTĐ ……………………………...
22.
40
50
Bảng 4.2: So sánh tỷ lệ rối loạn lipid máu với một số nghiên
nghiên cứu …………………………………………………
44
2.
3.
Biểu đồ 3.2: Số lượng các mức độ tổn thương van 2 lá của
nhóm ĐTĐ đơn thuần và có THA ………………………...
45
Biểu đồ 4.1: Tỉ lệ giới của nhóm đái tháo đường …………
49
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý rối loạn chuyển hóa Glucid mạn tính
và là một bệnh thường gặp nhất trong các bệnh nội tiết. Đây là một trong 3
bệnh có tỷ lệ gia tăng nhanh nhất hiện nay (cùng với bệnh tim mạch, ung thư)
[2]. Theo thông báo của Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế (International
Diabetes Federation-IDF): Năm 1994 cả thế giới có 110 triệu người mắc bệnh
đái tháo đường, năm 1995 có 135 triệu người mắc bệnh chiếm 4% dân số toàn
cầu, năm 2000 có 151 triệu người, năm 2006 con số này đã là 246 triệu người,
hiện rất sớm, thậm chí ở cả bệnh nhân ĐTĐ giai đoạn chưa có triệu chứng.
Những thay đổi chức năng này không thể phát hiện được bằng các phương
pháp khám thông thường. Trong trường hợp không kiểm soát được bệnh ĐTĐ
biến chứng suy chức năng tâm trương sẽ dẫn tới suy tim toàn bộ [10], [19].
Suy tim nói riêng cũng như các biến chứng về tim mạch của bệnh nhân ĐTĐ
nói chung không những làm tăng thời gian nằm điều trị của bệnh nhân mà còn
làm tăng chi phí cho việc điều trị bệnh, tăng gánh nặng cho bệnh nhân gia
đình và xã hội trong việc điều trị bệnh. Vì vậy việc phát hiện sớm và điều trị
kịp thời biến chứng suy tim ở bệnh nhân ĐTĐ (cụ thể là suy chức năng tâm
trương thất trái) có ý nghĩa rất quan trọng trong tiên lượng, điều trị bệnh nhân
ĐTĐ làm giảm biến chứng nguy hiểm, thời gian và chi phí điều trị cho bệnh
nhân.
Trước đây kỹ thuật thăm dò chức năng tim nói chung và thăm dò chức
năng thất trái nói riêng chủ yếu được thực hiện bằng các phương pháp thăm
dò có xâm nhập như thông tim, chụp phóng xạ hạt nhân buồng tim. Trong
những năm gần đây rất nhiều các phương tiện và phương pháp thăm khám
tiên tiến đã được ứng dụng vào lĩnh vực y học. Phương pháp đánh giá, thăm
dò chức năng tim bằng siêu âm đặc biệt là siêu âm-Doppler đã được ứng dụng
rộng rãi và thông dụng cho phép phát hiện sớm, chính xác những rối loạn
chức năng tim và các thay đổi huyết động trong bệnh lý tim mạch [5], [19],
[31], [32].
Việc ứng dụng siêu âm-Doppler tim để đánh giá chức năng thất trái ở
bệnh nhân ĐTĐ đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới đề cập [19], [37],
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
[44], [45], [48], . Các nghiên cứu này cho thấy ở bệnh nhân ĐTĐ thậm chí ở
chuyển hóa có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết
insulin; khiếm khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucsose
máu mạn tính thường kết hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng và sự
suy yếu chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thần kinh, tim và mạch
máu [2].
Từ đó mặc dù ĐTĐ là một bệnh nội tiết nhưng biểu hiện của bệnh lại là
biểu hiện của những rối loạn chuyển hóa với các triệu chứng đặc trưng của
bệnh là tiểu nhiều, khát nhiều, sụt cân nhiều khó lý giải, tuy nhiên đôi khi
bệnh biểu hiện tương đối âm thầm, người bệnh chỉ tình cờ phát hiện ra khi đi
khám các bệnh lý khác [2].
1.1.1. Tình hình bệnh ĐTĐ
1.1.1.1. Tỷ lệ bệnh ĐTĐ trên thế giới.
Tỷ lệ bệnh ĐTĐ trên thế giới có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng,
quốc gia tùy thuộc vào tập quán sinh hoạt và đời sống kinh tế xã hội của từng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vùng, quốc gia, dân tộc. Theo số liệu của Viện nghiên cứu ĐTĐ quốc tế thì tỷ
lệ bệnh ĐTĐ của một số khu vực như sau [2]:
Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở một số khu vực trên thế giới
Khu vực
Tỷ lệ ĐTĐ typ 1
Tỷ lệ ĐTĐ typ 2
Tổng cộng
0,6%
4,7%
5,3%
Châu Đại dương
và Châu Âu
Khu vực Bắc Mỹ
Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các quốc gia khác nhau cũng rất khác nhau phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố như kinh tế, xã hội, tập quán ăn uống, sinh hoạt,
hoạt động thể lực …[2], [4],[13],[14],[20].
Bảng 1.2: Số liệu thông báo của một số quốc gia về tỷ lệ bệnh ĐTĐ
năm 1999
Quốc gia
Tỷ lệ ĐTĐ
Thái Lan
6,7 %
Hàn Quốc
4,0 %
Trung Quốc
hai loại là 3,3% dân số, tuy nhiên khi áp dụng test dung nạp glucose thì tỷ lệ
ĐTĐ là 6,6% và tỷ lệ có rối loạn dung nạp glucose là 11,2% dân số [2], [4].
1.1.1.2. Tỷ lệ bệnh ĐTĐ ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, vào những năm 1990 lần đầu tiên nghiên cứu dịch tễ
bệnh ĐTĐ được tổ chức một cách tương đối khoa học và đã đưa ra được các
tỷ lệ tương đối chính xác ở các khu vực Hà Nội, Huế và TP. Hồ Chí Minh
trên các nghiên cứu ở độ tuổi 20-75 tuổi, cụ thể:
Điều tra của Phan Sỹ Quốc và Lê Huy Liệu năm 1991 ở Hà Nội cho
thấy, tỷ lệ bệnh ĐTĐ là 1,1%, tỷ lệ rối loạn dung nạp Glucose là 1,6% ở độ
tuổi trên 15 tuổi. Trong đó tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở nội thành là 1,44% và ở
ngoại thành là 0,63% [2], [19].
Theo điều tra của Mai Thế Trạch và Diệp Thanh Bình năm 1993 tại
Thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 2,52±0,4% dân số [2],
[19].
Ở Huế năm 1996 điều tra của Trần Hữu Dàng và Lê Huy Liệu thấy tỷ
lệ mắc bệnh ĐTĐ là 0,96±0,14% dân số [2], [19].
Qua 3 cuộc điều tra nói trên ta thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ có sự khác
nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của từng vùng.
Năm 2001, Được sự giúp đỡ của các chuyên gia hàng đầu của WHO,
chúng ta tiến hành điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ theo các qui chuẩn quốc tế
ở 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí
Minh. Đối tượng điều tra là lứa tuổi 30-64 đã có kết quả như sau [2], [19]:
- Tỷ lệ bệnh ĐTĐ 4,0 %
- Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose 5,1 %
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
≥7,0 mmol/l
≥11,1 mmol/l
≥11,1 mmol/l
+ ĐTĐ qua trung gian miễn dịch (hiếm gặp)
4. ĐTĐ ở phụ nữ có thai (Gestational Diabetes)
Trong nội dung của nghiên cứu này chúng tôi chỉ đề cập đến ĐTĐ typ 2
1.1.2.3. Chẩn đoán ĐTĐ typ 1 và typ 2.
Trước đây việc chẩn đoán ĐTĐ typ 1 và typ 2 chủ yếu dựa vào lứa tuổi
xuất hiện bệnh và các biểu hiện lâm sàng. Ngày nay với những hiểu biết ngày
càng rõ về sinh học phân tử và sinh lý bệnh, việc chẩn đoán typ của bệnh
ĐTĐ trở nên chính xác hơn. Fattorusso và Ritter đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán
ĐTĐ typ 1 và typ 2 như sau [4]:
Bảng 1.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ typ 1 và typ 2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Các tiêu chuẩn
Typ 1
Typ 2
Dưới 30 tuổi
Trên 30 tuổi
Không béo
Thường béo
Bình thường hoặc cao
Có
Không
Tuổi khởi phát bệnh
Thể trạng cơ thể
Đặc điểm khởi phát
Chiều hướng toan ceton
Lệ thuộc insulin
Thụ thể insulin
Nồng độ glucagon huyết
tương
Kháng thể kháng tiểu đảo
Liên quan đến kháng
nguyên HLA
Hiếm khi bị tổn thương Thường bị tổn thương
Tăng
Thường xuất hiện ngay
khi khởi bệnh
Có
Bình thường
Không có
Không
ĐTĐ được coi là một yếu tố nguy cơ của các lý bệnh tim mạch. Tỷ lệ mắc
bệnh và tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ cao hơn rất nhiều so với
nhiều so với những người bình thường. Biến chứng tim mạch ở bệnh nhân
ĐTĐ chủ yếu là các bệnh lý: bệnh mạch vành, bệnh cơ tim-ĐTĐ (Diabetic
Cardiomyopathy), bệnh tăng huyết áp (THA).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Suy chức năng tâm trương ở bệnh nhân ĐTĐ đã được khẳng định qua
những nghiên cứu lâm sàng và trong thực nghiệm. Điểm đặc trưng của suy
tim trên bệnh nhân ĐTĐ là suy chức năng tâm trương mặc dù chức năng tâm
thu vẫn còn bình thường hoặc hoặc hoạt động còn bù. Suy chức năng tâm
trương (Suy tim tâm trương) biểu hiện bằng rối loạn chức năng đổ đầy thất
trái. Trong suy chức năng tâm trương, thất trái tăng độ cứng và không được
đổ đầy máu trong thời kỳ tâm trương với một áp lực bình thường, làm giảm
thể tích máu ở cuối thời kỳ tâm trương. Do vậy để đảm bảo cung lượng tim,
áp lực cuối tâm trương sẽ được tăng lên làm tăng áp lực nhĩ trái, gây ứ máu và
tăng áp lực trong vòng tuần hoàn phổi. Về lâu dài cũng sẽ gây suy chức năng
thất phải [10], [19].
Theo nghiên cứu của R.S. Vanssan dựa trên nhiều nghiên cứu về dịch tễ
học suy tim từ năm 1975-1995 thì trong những người có biểu hiện suy tim ứ
trệ (Congestive heart falure) thì có tới 40% có chức năng tâm thu bình
thường. Đồng thời qua nghiên cứu những bệnh nhân suy tim do chức năng
tâm trương ở cuối giai đoạn nặng sẽ có suy giảm đồng thời cả chức năng tâm
thu. Chính vì vậy người ta cho rằng trong suy tim, các rối loạn về chức năng
tâm trương có thể xảy ra sớm hơn và chức năng tâm trương được coi là một
yếu tố chẩn đoán sớm tình trạng suy tim [10], [19].