BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
LÊ THỊ THOA
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẮC NINH – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
LÊ THỊ THOA
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO SINH VIÊN
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Chuyên ngành:
Mã số:
Giáo dục thể chất
60140103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cơ sở vật chất:
CSVC
Đại học:
ĐH
Giáo dục và Đào tạo:
GD&ĐT
Giáo dục thể chất:
GDTC
Giảng viên:
GV
Kết quả kiểm tra
KQKT
Giảng viên:
GV
Nhóm đối chứng:
Tự chọn
TC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU ĐO LƯỜNG
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
cm
m
sl
s
Centimet
Met
số lần
Giây
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Thể
loại
Số
TT
Bảng
3.1
Bảng
Bảng
Bảng
Bảng
Bảng
Bảng
Bảng
Bảng
Bảng
Bảng
Nội dung
Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT Viện Đại học Mở Hà
Nội .
Thực trạng cơ sở vật chất, dụng cụ phục vụ công tác
GDTC Viện Đại học Mở Hà Nội.
Thực trạng các trang thiết bị, đồ dùng cho công tác giảng
dạy TDTT của giáo viên Viện Đại học Mở Hà Nội
Chương trình giảng dạy môn học GDTC của Viện Đại
Học Mở Hà Nội.
Ý kiến phản hồi của sinh viênvề giờ học TDTT chính
khóa của sinh viênViện Đại Học Mở Hà Nội ( n = 200 )
3.6
Kết quả kiểm tra thể lực của sinh viên năm thứ 2 khoa
3.11 Công nghệ thông tin của nhóm thực nghiệm và nhóm đối
70
71
73
79
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Thể loại
Số
Nội dung
TT
Trang
Biều đồ
3.1
Nhịp tăng trưởng 30m xuất phát cao nam (s)
74
Biều đồ
3.2
77
Biều đồ
3.7
Nhịp tăng trưởng chạy tùy sức 5 phút nữ (m)
77
Biều đồ
3.8
Nhịp tăng trưởng chạy con thoi 4x10m nữ (s)
78
Biều đồ 3.3. Nhịp tăng trưởng chạy tùy sức 5
phút nam (m)
75
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: TỔNG QUÁT CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề GDTC trong
1.5. Cơ sở lý luận lựa chọn biện pháp nâng cao chất lượng GDTC trong
các trường Đại học, Cao đẳng.
25
1.5.1. Đánh giá chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng
25
1.5.2. Những yếu tố đảm bảo chất lượng công tác GDTC Đại học và Cao
đảng.
27
1.6. Vai trò, ý nghĩa của GDTC trong các trường học nước ta.
28
1.7. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên.
29
1.7.1 Đặc điểm về tâm lý:
30
1.7.2 Đặc điểm về sinh lý
31
40
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đánh giá thực trạng công GDTC của Viện Đại học Mở Hà Nội
3.1.1. Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT Viện Đại học Mở Hà Nội.
41
41
41
3.1.2. Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC Viện
Đại học Mở Hà Nội
43
3.1.3. Thực trạng về chương trình GDTC Viện Đại học Mở Hà Nội
46
3.1.3.1. Trình độ Đại học
47
3.1.3.2. Thực trạng chương trình giảng dạy môn học GDTC của Viện
Đại Học Mở Hà Nội.
47
3.1.4. Thực trạng về hoạt động GDTC chính khóa, ngoại khóa của sinh
57
3.2.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các biện pháp lựa chọn trong việc
nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
60
3..2.2.1. Tổ chức thực nghiệm
60
3.2.3. Đánh giá hiệu quả các biện pháp lựa chọn trong việc nâng cao hiệu
quả GDTC cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
63
3.2.3.1 Đánh giá hiệu quả thực hiện cụ thể các biện pháp lựa chọn trong
việc nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
63
1
MỞ ĐẦU
Giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học đóng vai trò rất quan trọng
đối với việc phát triển con người. Chính vì vậy mà Đảng và nhà nước đã đưa ra
các chủ trương, đường lối nhằm phát triển công tác giáo dục thể chất đối với các
thế hệ đặc biệt là đối với thế hệ trẻ. Ngoài công tác giáo dục thể chất cho con
người, ta cũng cần phải nói đến “ Văn hóa”, văn hóa có ở khắp mọi nơi, chúng
sen lẫn với đời sồng của con người . Văn hóa có trên rất nhiều các phương diện
Nghị Quyết số 08-NQ/TW về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước
phát triển mạnh mẽ về Thể dục, Thể thao đến năm 2020. Chỉ thị 112 CT của chủ
tịch hội đồng Bộ trưởng yêu cầu các cấp, các ngành thực hiện tốt nhiệm vụ và
phương pháp sau: “ Đối với Học sinh – Sinh viên trước hết nhà trường phải thực
hiện nghiêm túc giảng dạy và học môn thể dục theo chương trình đã quy định,
có phương pháp tổ chức hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể
thao ngoài giờ học”. Viện Đại học Mở Hà Nội được thành lập ngày 03/11/1993
theo quyết định 535/TTg của thủ tướng chính phủ. Viện Đại học Mở Hà Nội là
một trường đại học công lập hoạt động trong hệ thống các trường đại học quốc
gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý. Tuy là một trường đại học công
lập nhưng Viện Đại học Mở Hà Nội lại hoàn tự chủ về kinh tế. Hiện nay nhà
trường đã và đang đào tạo theo các hệ như : đào tạo từ xa, hệ tại chức, hệ chính
quy đại học cao đẳng, hệ song bằng…Để đào tạo ra nguồn nhân lực có sức khỏe
và có tay nghề tốt đáp ứng được như cầu đòi hỏi của các đơn vị, doanh nghiệp
tuyển dụng. Đồng hành với việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục, nhà
trường luôn coi trọng việc phát triển thể chất cho sinh viênthông qua việc nâng
cao hiệu quả GDTC trong nhà trường. Trường được thành lập cho đến nay là 22
năm nhưng Bộ môn GDTC thì chỉ mới thành lập được 3 năm, cuối năm 2014
nhà trường đã đổi tên Bộ môn GDTC thành Trung tâm Giáo dục thể chất và
Quốc phòng – An Ninh ( GDTC&QPAN) theo quyết định số 668/QĐ – ĐHM
ngày 01/12/2014. Là một trung tâm mới được thành lập trong nhà trường nên
việc đào tào GDTC cho sinh viên vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế .
Đặc biệt hơn là nhà trường cũng gặp phải những khó khắn chung là chưa
có một địa điểm học tập trung đầy đủ tiện nghi về sân bãi, cơ sở vật chất và
3
nguôn nhân lực....Hiện trường chỉ có một cơ sở chính để làm việc văn phòng,
còn lại toàn bộ cơ sở vật chất dành cho công tác đào tạo nhà trường đều tự thuê
và liên kết với các trường khác. Đối với việc đào tào GDTC của nhà trường nói
cứu sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác GDTC của Viện Đại học Mở Hà
Nội.
- Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT Viện Đại học Mở Hà Nội.
- Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ cho công tác GDTC Viện Đại học
Mở Hà Nội.
- Thực trạng chương trình giảng dạy GDTC Viện Đại học Mở Hà Nội.
- Thực trạng về hoạt động GDTC chính khóa, ngoại khóa của sinh
viênViện Đại học Mở Hà Nội.
- Những nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác GDTC Viện
Đại học Mở Hà Nội.
- Thực trạng thể lực của sinh viênViện Đại học Mở Hà Nội.
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và đánh giá các biện pháp nâng cao hiệu quả GDTC
cho sinh viênViện Đại học Mở Hà Nội.
- Những căn cứ để lựa chọn biện pháp.
- Cơ sở khoa học trong việc lựa chọn những biện pháp nhằm nâng cao hiệu
quả công tác GDTC Viện Đại học Mở Hà Nội.
- Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các biện pháp lựa chọn trong việc nâng
cao hiệu quả GDTC cho sinh viênViện Đại học Mở Hà Nội.
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những quan điểm của Đảng, Nhà nước về vấn đề GDTC trong
trường học các cấp
Đảng lãnh đạo công tác TDTT bằng việc hoạch định đường lối quan điểm
TDTT, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đường lối quan điểm TDTT do mình đề ra.
Đường lối quan điểm của Đảng thể hiện trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng
về TDTT suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên
lĩnh vực TDTT còn rất hạn chế. Quản lý của ngành TDTT còn kém hiệu quả,
chưa phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của toàn xã hội để phát triển TDTT.
Trước tình hình mới, định hướng của Đảng về phát triển sự nghiệp TDTT:
“Phát triển TDTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế
- xã hội của Đảng và Nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người.
Công tác TDTT phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục
nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh làm phong phú đời sống văn hoá, tinh
thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của
các lực lượng vũ trang”. [1]
Trong các văn bản nghị quyết của Đảng đã khẳng định: Phải xây dựng nền
TDTT có tính dân tộc, khoa học và nhân dân, phát triển rộng rãi phong trào
TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao và tăng cường công tác GDTC trong
nhà trường các cấp với khẩu hiệu: “Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Cũng
như khẳng định phát triển TDTT là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính
quyền, các đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội là nhiệm vụ của toàn xã hội.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp TDTT nước nhà,
Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị 133/TTg về xây dựng quy hoạch phát triển
ngành TDTT . Trong đó đã nêu: “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng phát
triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các môn thể thao và các hình thức
hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong
trào tập luyện rộng rãi của quần chúng: Khoẻ để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...
7
Bộ giáo dục đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường. Cải
tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khoá, quy định tiêu chuẩn rèn
luyện thân thể cho học sinh ở các cấp học, quy quy chế bắt buộc ở các trường,
nhất là các trường Đại học phải có sân bãi, phòng tập TDTT, có định biên hợp
lý và có kế hoạch tích cực đào tạo đội ngũ giáo viên TDTT đáp ứng nhu cầu ở
tất cả cấp học”. [5]
Để GDTC và thể thao học đường thực sự có vị trí quan trọng trong việc
góp phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ
và thể chất sức khoẻ, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng. Đồng thời xây dựng nhà trường
thành những cơ sở phong trào TDTT quần chúng của học sinh, sinh viên. Quán
triệt sâu sắc nội dung của các nghị quyết, chỉ thị của Đảng hiến pháp nước cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, và các văn bản pháp lệnh của Chính
phủ về công tác TDTT trong tình hình mới. Đồng thời, để khắc phục thực trạng
giảm sút sức khoẻ thể lực của học sinh, sinh viênhiện nay, hai ngành Giáo dục Đào tạo và TDTT đã thống nhất những nội dung, phương pháp và hợp đồng
trách nhiệm chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTC của học
sinh, sinh viên: “Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình mục tiêu, cải tiến
nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ, bồi dưỡng năng khiếu thể thao học sinh,
sinh viên... Kiến nghị với Nhà nước phê duyệt thành chương trình quốc gia và
được đầu tư kinh phí thích đáng”. [14]
Với nội dung phối hợp chỉ đạo giữa hai ngành là chỉ đạo các cấp học
giảng dạy TDTT nội khoá theo chương trình, kế hoạch có nề nếp, và đảm bảo
việc thực hiện nghiêm túc các quy phạm đánh giá quá trình dạy học thể dục, quy
chế giáo dục thể lực cho học sinh, sinh viênvà thực hiện kiểm tra tiêu chuẩn rèn
luyện thân thể cho học sinh, sinh viên, điều chỉnh và ban hành tài liệu giảng dạy,
sách giáo khoa, sách hướng dẫn phương pháp giảng dạy và tập luyện TDTT.
Phát động phong trào tập luyện rộng khắp trong nhà trường các cấp, chỉ đạo việc
cải tiến nội dung hình thức hoạt động ngoại khoá TDTT, xây dựng quy hoạch
đào tạo bồi dưỡng giáo viên TDTT và bảo đảm cơ sở vật chất tối thiểu để phục
9
vụ thực hiện chương trình nội khoá và tập luyện thể thao ngoài giờ của, sinh
viên.
Hai ngành Giáo dục - Đào tạo và TDTT đã thống nhất những phương
pháp chủ yếu, để nhằm tăng cường và đẩy mạnh nâng cao chất lượng công tác
của học sinh, sinh viên Việt Nam và Quốc tế”. [15]
Nội dung của quy chế đã xác định phải bảo đảm thực hiện dạy và học môn
thể dục theo chương trình quy định cho học sinh, sinh viêntrong tất cả các
trường từ mầm non đến cấp Đại học, bao gồm nhiều hình thức và có liên quan
chặt chẽ với nhau: Giờ học thể dục, tập luyện thể thao theo chương trình tập
luyện của học sinh, sinh viên, giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường,
nhằm phát triển thể lực và nhân cách của người học sinh, cũng như đã khẳng
định: “Nhà trường phải có kế hoạch hướng dẫn học sinh, sinh viên tự tập luyện
thường xuyên, tổ chức thi kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi và
chỉ tiêu phát triển thể lực cho học sinh, sinh viên theo quy định của chương trình
GDTC” [15].
1.2. Vị trí, mục tiêu và nhiệm vụ của công tác GDTC trong các
trường Đại học, cao đẳng
1.2.1. Vị trí của GDTC trong các trường đại học ở nước ta
Phát triển TDTT và nâng cao thể lực cho học sinh sinh viên chính là mục
tiêu quan trọng, nhằm tạo ra những con người đầy đủ chí và lực, đáp ứng được
những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Từ nhiều năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chăm lo GDTC
trong nhà trường và đạt được những thành quả nhất định. Ngành TDTT cũng đã
quan tâm và có sự thực hiện cam kết giữa Bộ trường Bộ Giáo dục - Đào tạo và
bộ trưởng chủ nhiệm uỷ ban TDTT chính thức ngày 20/6/2000. Hai ngành đã
phối hợp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động nhằm đẩy mạnh nâng cao chất lượng
GDTC trong trường học. Công tác GDTC trong các trường đại học có một vị trí
và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới, để thực
hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Giai đoạn
học tập trong các trường đại học của sinh viên, là một giai đoạn quan trọng nhất
11
trong việc chuyển biến từ những bậc học mầm non đến hết phổ thông. Sau khi
12
thói xấu, tệ nạn cuộc sống. Nhằm tận dụng thời gian và công việc có ích đạt kết
quả cao trong quá trình học tập, đạt được những chỉ tiêu thể lực cho từng đối
tượng trên cơ sở tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa tuổi.
4. Giáo dục óc thẩm mĩ, tạo điều kiện nâng cao trình độ thể thao, các tố
chất thể lực cho sinh viên”.[17]
Trong những năm gần đây công tác GDTC và TDTT trong trường học đã
có những tiến bộ. Việc dạy và học thể dục nội khóa trong các trường từ phổ
thông đến đại học đều đi vào nền nếp. Thậm chí nhiều trường, đã thực hiện giờ
học nội khóa với trang phục thể thao bắt buộc. Các hình thức hoạt động thể thao
trong sinh viên, học sinh ngày càng được mở rộng với quy mô và chất lượng cao
hơn. Đã có những trường đại học thành lập nhiều đội tuyển ở các môn như:
Bóng truyền, bóng đá, điền kinh, cờ vua. Các hoạt động thể thao sinh viên đã
được hai ngành Giáo dục, Đào tạo và TDTT phối hợp chỉ đạo chặt chẽ, đã có tác
dụng thiết thực, góp phần tăng cường sức khoẻ, nâng cao đời sống văn hoá tinh
thần cho học sinh, sinh viên và ngăn chặn các tệ nạn văn hoá xã hội. Đặc biệt
hội thể thao Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp đã tổ chức nhiều
giải thể thao lớn. Hội cũng tham gia nhiều giải thể thao do TC TDTT tổ chức.
Ngày hội thi nghiệp vụ Sư phạm, văn nghệ và TDTT, đã có gần 4000 sinh viên,
cán bộ, thầy cô giáo của tất cả các trường Sư phạm trong cả nước tham dự.
Không dừng lại ở đó, sinh viên Việt Nam đã có mặt tại đại hội sinh viên thế giới
tổ chức tại Bắc kinh, đại hội TDTT sinh viênĐông nam Á . Mặt khác, hai ngành
đã chỉ đạo, tổ chức thành công hội nghị khoa học GDTC và y tế trường học,
hàng trăm thầy cô giáo và các nhà khoa học tham gia nghiên cứu khoa học. Với
rất nhiều công trình khoa học đã được báo cáo tại hội nghị, góp phần nâng cao
công tác giảng dạy và chăm sóc sức khoẻ cho học sinh, sinh viên.
1.2.2. Mục tiêu công tác GDTC.
GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng là một bộ phận hữu cơ của
mục tiêu giáo dục - đào tạo. Đồng thời là một mặt giáo dục toàn diện cho thế hệ
trẻ nhằm tạo ra lớp người mới, có năng lực, phẩm chất, có sức khoẻ đó là lớp
Quán triệt đầy đủ tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước
về công tác TDTT trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
14
Ngày 01/12/2011, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị Quyết số 08-NQ/TW về
việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục,
Thể thao đến năm 2020 [4].
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại điều
35, 36 và 41 chương III quy định việc dạy và học TDTT trong nhà trường là bắt
buộc [40].
Định hướng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội an ninh, quốc phòng của
đất nước đến năm 2000 và nhưng năm đầu thế kỷ 21 theo tinh thần Nghị quyết
đại hội III của Đảng.
Quy hoạch phát triển TDTT của các tỉnh thành trong cả nước về qui hoạch
tổng thể ngành TDTT Việt Nam từ 1996, 2000- 2005 và định hướng đến 2025 .
Bộ Giáo dục - Đào tạo xây dựng mục tiêu phát triển TDTT ngành Giáo
dục - đào tạo từ 1996 - 2000 và định hướng đến 2025 .
Mục tiêu tổng quát là phát huy sức mạnh tổng thể của nhà trường, gia đình
và xã hội vào việc đưa GDTC trong trường học các cấp (cả nội khoá và ngoại
khoá) thành nếp sống thường xuyên của học sinh, sinh viên, góp phần đào tạo
thế hệ trẻ phát triển toàn diện về nhân cách, trí tuệ và thể chất để phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần giữ vững và tăng
cường an ninh quốc phòng, phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước,
làm cho thế hệ học sinh, sinh viênViệt Nam ngày càng phát triển cao về thể chất
và tinh thần, để sẵn sàng kế tục sự nghiệp cách mạng cha anh, sẵn sàng lao động
và bảo vệ Tổ quốc.
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát Bộ giáo dục - đào tạo xây dựng mục tiêu
theo các giai đoạn cụ thể, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, an
ninh quốc phòng của đất nước.
- Tiếp tục củng cố tổ chức quản lý Nhà nước về TDTT của các cấp giáo
dục, đồng thời tăng cường các tổ chức xã hội về thể thao của học sinh, sinh viên.
- Xây dựng các công trình TDTT theo qui hoạch, nâng cao chất lượng
xây dựng và trang thiết bị các công trình cơ bản ở các khu vực trường và cơ sở
trường. Bảo đảm các điều kiện cần thiết để tổ chức các cuộc thi đấu quốc gia và
quốc tế của học sinh, sinh viênvề một số môn thể thao.
16
- Hình thành một bộ phận cán bộ giáo viên TDTT có trình độ cao (trên
đại học) trong các trường đặc biệt là các trường sư phạm và cơ quan quản lý
nghiên cứu giáo dục - đào tạo giáo viên TDTT đạt tỷ lệ bình quân 350 - 400 học
sinh có một giáo viên chuyên trách TDTT .
Mục tiêu GDTC năm 2006 - 2025.
Mục tiêu GDTC giai đoạn 2006 - 2025 mang tính chất dự báo theo sự phát
triển của đất nước. Theo dự báo cuối giai đoạn 2006 - 2025 đất nước ta trở thành
một nước công nghiệp cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân đạt mức khá cao bình quân GDP đầu người tăng ít nhất 10 lần
so với hiện nay. Khi đó GDTC và TDTT càng có vị trí quan trọng trong đời
sống của nhân dân để thích ứng với điều kiện của một đất nước công nghiệp.
Định hướng mục tiêu GDTC giai đoạn 2006 - 2025.
"Quy mô và chất lượng của phong trào TDTT quần chúng trong học sinh,
sinh viên được mở rộng và nâng cao, cơ sở hạ tầng của TDTT trường học được
phát triển đồng bộ theo nhiều cấp độ khác nhau nhằm đảm bảo có chất lượng và
hiệu quả cao trong GDTC, bồi dưỡng và phát triển tài năng thể thao cho đất
nước.
- Đạt 100% trường học thực hiện GDTC có chất lượng, 80% số trường có
hoạt động TDTT ngoại khoá thường xuyên.
- Phát triển lực lượng vận động viên là học sinh, sinh viên đạt trình độ cao
ở khu vực Đông Nam, thể thao học sinh, sinh viên trở thành lực lượng chính của
cách hài hoà, xây dựng thói quen lành mạnh, khắc phục những thói quen xấu
trong cuộc sống, nhằm sử dụng thời gian vào công việc có ích đạt kết quả tốt
trong quá trình học tập và đạt được những chỉ tiêu thể lực qui định cho từng đối
tượng và năm học trên cơ sở rèn luyện thân thể theo lứa tuổi.
Giáo dục óc thẩm mĩ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình độ
thể thao của vận động viên sinh viên.
Hoạt động TDTT trong các trường Đại học, Cao đẳng là một thành phần
trong việc giáo dục toàn diện cho sinh viên giải quyết các nhiệm vụ giáo dục
của hoạt động TDTT là tăng cường sức khoẻ: Sức khoẻ là tài sản thiêng liêng,
là vốn quý nhất của mỗi con người và cộng đồng xã hội. Hiện tại, cũng như lâu