SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Phan Văn Quân
2. Ngày tháng năm sinh: 22/01/1985
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Trường THPT Thống Nhất B
5. Điện thoại: 0613867623 (CQ) / ĐTDĐ: 0988777045
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Bí thư Đoàn trường, UV BCH Công đoàn
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Thống Nhất B
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2008
- Chuyên ngành đào tạo: Thể dục
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Thể dục thể thao
Số năm có kinh nghiệm: 4 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Đề tài làm khóa luận tốt nghiệp đại học năm 2008:
“Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập thể dục nhào lộn nhằm phát triển khả
năng thăng bằng cho nam sinh viên khoa giáo dục thể chất trường Đại học
Vinh”.
+ SKKN Năm học 2010 – 2011
“Nghiên cứu lựa chọn, lồng ghép giảng dạy một số kỹ năng sống vào môn học thể
dục nhằm phát triển kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Thống Nhất B”
+ SKKN Năm học 2011 – 2012
“Ứng dụng công nghệ thông tin vào môn học thể dục”
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn:
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm :
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm h
ọc: 2012
-
2013SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
IV. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
9. Họ và tên: Phan Văn Quân
10. Ngày tháng năm sinh: 22/01/1985
11. Nam, nữ: Nam
12. Địa chỉ: Trường THPT Thống Nhất B
13. Điện thoại: 0613867623 (CQ) / ĐTDĐ: 0988777045
1. Cơ sở l í luận 5
2. Mục đích nghiên cứu 6
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Thời gian nghiên cứu 7
6. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 8
7. Nội dung biện pháp thực hiện 9
7.1. Tìm hiểu thực trạng giáo dục thể chất trong nhà trường bậc THPT 9
7.2. Xây dựng nội dung chương trình học thể dục tự chọn cho học sinh
trường THPT Thống Nhất B trong ba năm THPT 11
7.3. Đánh giá khách quan tính hiệu quả khi áp dụng dạy thể dục tự chọn
ở trường THPT Thống Nhất B 13
III. HIỆU QUẢ QUẢ ĐỀ TÀI 18
IV. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 19
Phụ lục 1 20
Phụ lục 2 34
Tài liệu tham khảo 43 “NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ CHUYỂN SANG HỌC THỂ DỤC TỰ CHỌN
NHẰM NÂNG CAO HỆU QUẢ GIÁO DỤC THỂ CHẤT
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT THỐNG NHẤT B”.
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Aristotle từng nói “không gì có thể làm kiệt quệ và hủy hoại cơ thể bằng sự
thiếu vận động kéo dài”
Đúng như vậy con người nếu không vận động lâu ngày thì cảm giác khi nào
cũng nặng nề, sức ì lớn… Ngày nay chúng ta có thể bắt gặp nhiều kiểu người như
vậy tương đối nhiều, các bệnh thường dễ gặp như: béo phì, huyết áp, tim mạch,
tiểu đường, …họ mang trong minh nhiều khả năng có thể phát sinh bệnh tật. Có
thể nói nếu như họ không vận động hay vận động ít thì cơ thể có thể bị kiệt quệ và
nước.
Trong khi đất nước đang gặp muôn vàn khó khăn như giặc đói, giặc dốt,
giặc ngoại xâm nhòm gó thì phát triển ngành TDTT cũng được coi như là cuộc
cách mạng, là việc làm hết sức cấp bách và cần thiết thời bẫy giờ để nâng cao sức
khỏe, cải tạo giống nòi, đảm bảo nhân tố con người trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước.
Ngày nay chúng ta đang học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức
của Bác. Đảng và Nhà nước cũng không ngừng quan tâm tới ngành TDTT nước
nhà, trong những năm gần đây đã có nhiều dự án, kế hoạch đầu tư phát triển TDTT
trong đó đặc biệt chú trọng tới phát triển giáo dục thể chất học đường.
Văn kiện Đại hôi VIII TW2 của Đảng khẳng định: “Muốn xây dựng đất
nước giàu mạnh, văn minh phải có con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo
đức, sức khỏe, không thể coi nhẹ giáo dục thể chất nhà trường”
Như vậy nếu thể dục không hoàn thành nhiệm vụ phát triển sức khỏe cho
con người thì mục tiêu phát triển con người toàn diện bao gồm “đức, trí, thể,
mỹ”trong thời đại mới sẽ không được hoàn thành.
Có thể nói TDTT trường học chiếm vị trí quan trọng trong kế hoạch phát
triển sức khỏe cho người dân. Song việc thực thi kế hoạch hiện nay vẫn còn rất
hạn chế dẫn đến kết quả đem lại còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi kế
hoạch đề ra.
Việc áp dụng giáo dục thể chất trong nhà trường hiện nay chưa đem lại hiệu
quả, nội dụng học quá nhiều, phần nội dung thể thao tự chọn chiếm một thời lượng
ít trong phân phối chương trình, vả lại nội dung tự chọn này nhiều khi giáo viên
cũng áp đặt chứ không cho học sinh chọn lựa. Việc học thể dục giống như “cưỡi
ngựa xem hoa”, học thì nhiều mà không nắm được bao nhiêu, học sinh bị gò bó, ép
buộc trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, các em không có hứng thú với môn
học, việc học trở thành áp lực nặng nề từ đó hình thành nên khái niệm xấu cho học
sinh và gia đình đối với môn thể dục ở trường. Kết quả kết thúc ba năm học THPT
mà học sinh không nắm được kỹ năng của một môn thể thao nào, không chọn cho
dung nào cũng biết một ít nhưng không giỏi và thành thạo một môn nào.
Ngành TDTT đã có đề án chiến lược phát triển thể dục thể thao tới năm
2020. Trong đó nhấn mạnh thể dục thể thao trường học là một bộ phận quan trong
trong quá trình tăng cường sức khỏe, nâng cao tầm vóc, cải thiện giống nòi. Đề án
đã nêu lên những tồn tại yếu kém “Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và
các hoạt động thể thao ngoại khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng,
chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức khỏe cho học sinh, là một trong số
các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so
với một số nước trong khu vực. Các cơ sở giáo dục đào tạo còn thiếu sân bãi,
phòng tập, dụng cụ phục vụ cho nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi giải trí của
học sinh, sinh viên; đội ngũ giáo viên thể dục còn thiếu; chương trình chính khóa
cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp
dẫn học sinh tham gia các hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa”.
Việc áp dụng dạy một nội dung thể thao tự chọn (TTTC) cho một đối tượng
học sinh trong ba năm học ở THPT hiện tại có rất ít trường ở Việt Nam áp dụng.
Nếu có áp dụng thì cũng tự phát nhất thời chưa có kế hoạch hệ thống rõ ràng khoa
học. Hiện tại có nhiều ý kiến về vấn đề nghiên cứu của đề tài song các ý kiến chỉ
dừng lại bình luận chứ tác giả chưa gặp một công trình nghiên cứu về đề tài này.
Chính vì những lý do trên đây tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mong
muốn tạo ra bước đột phá trong GDTC trường học tạo chuyển biến mạnh mẽ trong
việc phát triển thể chất cho học sinh THPT.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu chúng ta phải hiểu được đặc điểm tâm
sinh lí lứa tuổi.
- Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT.
Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên
trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển.
Tri giác có mục đích đã đạt tới mức rất cao. Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò
chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi
nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt. Các em đã tạo được tâm thế phân hoá trong ghi
chức cho các nhóm tham gia vào các hoạt động tập thể của lớp
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng GDTC trong nhà trường từ đó xây dựng
chương trình học TTTC nhằm nâng cao hiệu quả GDTC cho học sinh trường
THPT Thống Nhất B, qua đó các trường THPT có thể lấy đó làm kinh nghiệm để
áp dụng dạy TTTC nhằm nâng cao hiệu quả GDTC trong nhà trường.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng giáo dục thể chất trong nhà trường ở bậc THPT.
- Xây dựng nội dung chương trình học thể dục tự chọn cho học sinh trường
THPT Thống Nhất B trong ba năm THPT.
- Đánh giá khách quan tính hiệu quả khi áp dụng dạy thể dục tự chọn ở
trường THPT Thống Nhất B.
4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu.
Phương pháp này sử dụng đọc, phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên
quan đến đề tài nhằm thu thập thông tin cần thiết gần với vấn đề nghiên cứu, lựa
chọn chúng một cách có ý thức.
4.2. Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm
Sử dụng phương pháp này nhằm mục đích thu thập thông tin qua hỏi và trả
lời giữa nhà nghiên cứu và đối tượng được nghiên cứu về vấn đề quan tâm. Đề tài
này sử dụng chủ yếu là phỏng vấn gián tiếp thông qua mẫu phiếu câu hỏi. Tọa đàm
được tiến hành cùng với thầy cô trường THPT Thống Nhất B. Đây là thông tin cần
thiết phục vụ cho việc nghiên cứu.
4.3. Phương pháp quan sát sư phạm
Là phương pháp sử dụng theo dõi trực tiếp quá trình giảng dạy học tập mà
không làm ảnh hưởng đến quá trình đó. Quan sát chủ yếu bằng mắt thường những
biểu hiện bên ngoài, từ đó hiểu được dấu hiệu bên trong thầm kín một cách khách
quan, tin cậy sau đó ghi chép hiện tượng quan sát để thu thập thông tin phục vụ
cho việc nghiên cứu.
2007 – 2008 cả nước có trên 70% số trường học triển khai áp dụng chương trình
giáo dục thể chất chính khóa và một số trường đã có hoạt động ngoại khóa thường
xuyên. Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc và Đại hội Thể dục, thể thao sinh viên toàn
quốc được tổ chức theo chu kỳ 4 năm/lần cùng với hàng chục giải thể thao của học
sinh, sinh viên đã thu hút hàng chục triệu lượt học sinh, sinh viên tham gia, góp
phần tạo nguồn tài năng thể thao trẻ cho thể thao đỉnh cao quốc gia”
Đồng thời trong chiến lược cũng nêu lên những tồn tại và yếu kém:
Công tác giáo dục thể chất trong nhà trường và các hoạt động thể thao ngoại
khóa của học sinh, sinh viên chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và
nâng cao sức khỏe cho học sinh, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể
lực và tầm vóc người Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực.
Các cơ sở giáo dục đào tạo còn thiếu sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ cho nhu
cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi giải trí của học sinh, sinh viên; đội ngũ giáo viên
thể dục còn thiếu; chương trình chính khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại
khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không hấp dẫn học sinh tham gia các hoạt động
thể dục, thể thao ngoại khóa.
Từ năm học 2005 – 2006 thể dục được đưa vào học chính khóa điều đó thể
hiện sự quan tâm tới phát triển thể chất trong nhà trường. Hình thức học thể dục
ngoại khóa đã có chỉ đạo thành lập câu lạc bộ thể thao trong nhà trường thế nhưng
hình thức này còn quá ít ở các trường THPT.
Mục tiêu giáo dục thể chất trong nhà trường đến năm 2025 của nước ta là:
“Xây dựng và bước đầu hoàn thiện giáo dục thể chất trường học từ cấp mần
non đến cấp đại học, thực hiện dạy thể dục một cách nghiêm túc và thực hiện chế
độ giáo dục thể chất trong nhà trường”
Bộ GD&ĐT đang quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên TDTT ở bậc
THPT có bằng cấp đạt chuẩn và ngày càng đáp ứng được yêu cầu giáo dục thể
chất trong nhà trường. Ngành TDTT đang có những dự án lớn đang được triển
khai nhằm cải thiện phong trao, thành tích thể thao, nâng cao tầm vóc con người
Việt Nam dần dần ngang tầm với khu vực và thế giới.
Mục tiêu GDTC trong nhà trường là duy trì, củng cố và nâng cao sức khỏe
tâm tới văn hóa, đạo đức của người học, dẫn tới kết quả đào tạo giáo viên thể dục
chưa đạt chuẩn kiến thức chuyên môn, không nắm vững phương pháp và nguyên
tắc giảng dạy.
Thứ tư: Cơ sở vật chất còn thiếu thốn rất nhiều đặc biệt là ở vùng nông thôn,
vùng sâu vùng xa.
Thứ năm: Đa số học sinh chưa hiểu được tầm quan trọng của thể dục đối với
sức khỏe con người, hầu hết các em chỉ học theo tính chất đối phó, học để kiểm
tra chứ chưa hiểu được ý nghĩa của nó. Mặt khác chương trình học văn hóa của
học sinh quá nhiều, học ở trường, học thêm ở nhà cả ngày lẫn đêm khiến cho các
em không có thời gian để vui chơi, tập luyện thể dục.
Thứ sáu: Xã hội hiện nay coi thể dục chỉ là môn phụ không cần quan tâm,
ngay cả trong nhà trường cũng chỉ quan tâm nhiều tới các môn văn hóa, đặc biệt là
các môn thi tốt nghiệp, còn thể dục thì “nhẹ nhàng” với các em làm sao các em
đều “đạt” để thời gian tập trung học các môn khác. Các bậc phụ huynh cũng chỉ
quan tâm tới kết quả các môn văn hóa chứ cái “đồ thể dục” (môn thể dục) học giỏi
cũng chẳng làm được gì.
Phần lớn xã hội hiện nay đều chạy theo thành tích luôn coi nhẹ việc tập
luyện thể dục để nâng cao sức khỏe, các bậc phụ huynh và học sinh luôn tìm cách
để giảm việc học thể dục cho con em mình. Họ nghĩ rằng cứ ăn uống cho đầy đủ
thì cũng đủ sức khỏe rồi. Quan niệm như vậy là hết sức sai lầm. Chỉ khi chúng ta
đánh giá đúng tầm quan trọng của thể dục thì khi đó sức khỏe con người mới được
tăng lên, chỉ khi con người ta xác định tập thể dụng quan trọng như nhu cầu ăn
uống hàng ngày thì khi đó mới mong sức khỏe con người được nâng lên và sống
cuộc sống thật khỏe mạnh.
Hướng giải quyết những nguyên nhân trên:
- Cần đưa TTTC vào trường học không chỉ bó hẹp trong một số tiết mà nó
phải được tiến hành chuyên môn hóa một môn do học sinh chọn trong ba năm
THPT.
- Hình thức hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc bộ cần được
sinh tự chọn sẽ giải quyết được vấn đề hứng thú học tập, giảm bớt áp lực về môn
học.
Mục tiêu giáo dục luôn hướng tới giáo dục con người phát triển toàn diện
các tố chất thể lực, các tố chất thể lực cần hướng tới để hình thành và dần hoàn
thiện cho học sinh đó là: nhanh, mạnh, bền, dẻo và khéo léo. Do vậy mà trong quá
trình dạy TTTC giáo viên cần lựa chọn các bài tập thể lực phù hợp hay những trò
chơi để hoàn thiện các tố chất vận động cho học sinh. Đây là việc hết sức cần thiết
và không thể thiếu đối với việc giảng dạy các môn tự chọn. Vì vậy khi lập phân
phối chương trình giảng dạy cần chú ý xen kẽ các nội dung tập luyện để hoàn thiện
tố chất thể lực, phân chia thời gian hợp lý dạy kỹ thuật cơ bản thật kỹ sau đó nâng
cao kỹ thuật lên dần đảm bảo cho học sinh có nền tảng tốt nhất về thể dục.
Việc đăng ký học thể dục tự chọn được tiến hành lần 1 ngay khi học sinh
mới bước vào lớp 10. Sau khi đăng ký giáo viên bắt đầu dạy TTTC cho học sinh
học kỳ I của năm lớp 10. Hết học kỳ I của năm lớp 10 giáo viên tiến hành cho học
sinh đăng ký học thể dục tự chọn lần 2, lần lựa chọn này sẽ quyết định nội dung
học thể dục cho thời gian còn lại. Việc cho học sinh đăng ký lại lần 2 nhằm mục
đích đánh giá chính xác lại môn học mà học sinh đã lựa chọn, lần 2 này cũng là cơ
hội để học sinh đăng ký lại môn học phù hợp hơn vì lần 1 lỡ chọn nội dung học
không phù hợp với cá nhân.
Đăng ký học TTTC có thể xảy ra tình trạng môn này đăng ký nhiều, môn
khác đăng ký ít. Môn học chỉ được tiến hành khi có ít nhất đủ một lớp đăng ký.
Như vậy môn có học sinh đăng ký nhiều có thể do 2 hay nhiều giáo viên dạy và
một giáo viên lúc này có thể dạy từ một đến hai môn. Học TTTC lúc này có lớp
mới khác với lớp học các môn văn hóa. Do vậy cũng cần phải xây dựng thêm bộ
hồ sơ học sinh mới để thuận tiện trong việc kiểm đánh giá. Kết quả cuối cùng vẫn
được thể hiện và thông báo cho học sinh thông qua hồ sơ lớp học văn hóa.
Nói là tự chọn nhưng không phải là học sinh chọn môn học nào cũng được.
Lựa chọn môn học trên cơ sở có định hướng của giáo viên, tùy vào điều kiện cơ sở
vật chất, trang thiết bị, nguồn giáo viên sẵn có để hướng cho học sinh lựa chọn
Nhất. Hội Võ thuật cổ truyền Tỉnh Đồng Nai đã chứng nhận giáo viên này đạt
trình độ Huấn luyện viên trung cấp (cấp 13/18) và đến tháng 6/2013 thi lên cấp 14.
Đối với trình độ chuyên môn các môn còn lại giáo viên đều được đào tạo bài
bản ở trường Đại học và cũng đã được kiểm chứng qua các lần thi Hội Khỏe Phù
Đổng, những lần tham gia trường đều đạt giải cao trong Tỉnh Đồng Nai.
Tác giả xin đưa ra hai phân phối chương trình THTP cho hai môn bóng
chuyền và võ thuật để Hội đồng khoa học và các Thầy Cô cùng tham khảo (phụ
lục 1, phụ lục 2 được trình bày ở cuối đề tài)
Phân phối chương trình môn Bóng chuyền đã được sử dụng để huấn luyện
đội tuyển và đã cho thấy tính hiệu quả cao. Còn phân phối chương trình Võ thuât
tác giả đưa ra trên cơ sở tổng hợp kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của những
người trong nghề để mọi người cùng tham khảo và có thể áp dụng đối với học sinh
THPT.
7.3. Đánh giá khách quan tính hiệu quả khi áp dụng dạy thể dục tự
chọn ở trường THPT Thống Nhất B
Tính hiệu quả của dạy học TTTC được minh chứng rõ ràng nhất thông qua
kết quả những lần trường THPT Thống Nhất B tham gia Hội khỏe Phù Đổng.
Ngoài ra tính hiệu quả của TTTC còn được thể hiện qua quá trình thực
nghiệm khi tiến hành giảng dạy với ba lớp 12B4, 12B5 và 12B6.
7.3.1. Kết quả học thể dục tự chọn được áp dụng dạy theo phân phối
chương trình của Sở GD&ĐT quy định.
Theo phân phối chương trình nội dung thể thao tự chọn của khối 12 năm
học 2012 – 2013 có các nội dung: Bóng chuyền, bóng đá, bóng rổ, bơi, đẩy tạ.
Nội dung thể dục tự chọn hiện nay ở các trường THPT hầu hết là do giáo
viên chọn cho học sinh chứ học sinh không có quyền chọn. Lí do:
Thứ nhất: Trình độ chuyên môn của giáo viên, đa số giáo viên đều chọn
môn sở trường để dạy, nếu để học sinh chọn môn mà giáo viên không giỏi thì hiệu
quả giảng dạy sẽ kém đi nhiều.
Thứ hai: Tùy vào điều kiện cơ sở vật chất để bố trí tiết học tự chọn cho phù
hợp, nếu để học sinh tự chọn mà điều kiện nhà trường không cho phép học môn đó
Kết thúc nội dung học, tiến hành kiểm tra nội dung đã quy định “đá bóng
bằng mu giữa bàn chân”. Kết quả cho thấy lớp 12 B4 tốt hơn so với lớp 12B6 và
12B5.
Kết quả kiểm tra được đánh giá thông qua ba giáo viên tổ Thể dục chấm
điểm sau đó lấy trung bình cộng điểm (được làm tròn) của ba thầy: Phan Văn
Quân (tác giả của đề tài) thầy Vũ Thái Hòa và thầy Bùi Như Phong. Thang điểm
từ 1 – 10 và phân ra các nhóm điểm được xếp theo các mức (9-10), (7-8), (5-6),
(3-4), (1-2)
Về ý thức tự giác tích cực trong quá trình học tập theo tác giả (giáo viên trực
tiếp giảng dạy) nhận thấy lớp 12B4 trội hơn lớp 12B6. Ở lớp 12B6 giáo viên phải
vất vả thường xuyên theo dõi nhắc nhở học sinh tập luyện còn ở lớp 12B4 thì công
việc này giáo viên ít phải làm do các em được học môn mà đa số các bạn trong lớp
đã lựa chọn.
Kết quả kiểm tra của hai lớp 12B4 và 12B6 được thể hiện qua BẢNG I và
BẢNG II.
BẢNG I: KẾT QUẢ KIỂM TRA NỘI DUNG TỰ CHỌN “ĐÁ BÓNG
BẰNG MU GIỮA BÀN CHÂN” CỦA LỚP 12B4
Lớp 12B4 Điểm 9 - 10
Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm 3 - 4 Điểm 1 - 2
Số HS 8/43 23/43 7/43 3/43 2/43
T/lệ % 18.6% 53.4% 16.3% 7% 4.7% BẢNG II: KẾT QUẢ KIỂM TRA NỘI DUNG TỰ CHỌN “ĐÁ BÓNG
BẰNG MU GIỮA BÀN CHÂN” CỦA LỚP 12B6
Lớp 12B6 Điểm 9 - 10
Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm 3 - 4 Điểm 1 - 2
Số HS 5/44 14/44 15/44 6/44 4/44
60
Tỷ lệ %
9-10 7-8 5-6 3-4 1,2
Điểm
Biểu đồ thể hiện mức chêch lệch điểm kiểm tra
của hai lớp 12B4 và 12B6
12B4
12B6
Ngoài ra thành tích thể thao của hai lớp trên còn được kiểm chứng thông
qua giải bóng đá nữ trường THPT Thống Nhất B được tổ chức chào mừng ngày
26-3-2013.
Lớp 12B4 đạt giải Nhất.
Lớp 12B6 bị loại từ vòng 2 (lớp 12B5 bị loại ngay vòng đầu tiên)
Điều này càng chứng tỏ tính hiệu quả của việc tự chọn nội dung học của học
sinh trong việc nâng cao thể lực và kỹ thuật môn học.
Ở đây kết quả mới chỉ đánh giá với mức độ bình thường với thời lượng
giảng dạy không nhiều nhưng nó cũng đánh giá được tính hiệu quả trong việc lựa
chọn nội dung học tự chọn của học sinh. Nếu cùng nội dung này được thực hiện
giảng dạy trong ba năm học THPT thì kết quả kiểm tra còn cao hơn rất nhiều.
7.3.2. Đánh giá kết quả qua các kỳ thi Hội khỏe Phù Đổng những năm gần
đây.
Trong nhiều năm gần đây trường THPT Thống Nhất B luôn có sự đầu tư
cho việc dạy và học thể dục trong đó có sự đầu tư huấn luyện đội tuyển Hội khỏe
Phù Đổng (HKPĐ). Qua các kỳ Hội khỏe tham gia trường đều đạt được những
thành tích nhất định.
Năm 2000 trường tham gia với ba nội dung: bóng chuyền nam, bóng
chuyền nữ và cờ vua.
Kết quả huy chương vàng Bóng chuyền nam, huy chương bạc bóng chuyền
nữ.
luyện hết học kỳ I của năm thứ nhất, sang học kỳ II giáo viên phụ trách từng bộ
môn sẽ tuyển chọn những học sinh nổi trội hơn để tiến hành tập luyện trong những
năm tiếp theo, những học sinh yếu hơn bị loại ra khỏi đội tuyển. Trong những năm
tiếp theo giáo viên phụ trách huấn luyện nếu phát hiện học sinh có đủ điều kiện tập
luyện và thi đấu thì có thể bổ sung lực lượng cho đội tuyển.
Như vây các đội tuyển Hội khỏe Phù Đổng chủ yếu là các em học sinh tự
đăng ký vào, với lòng yêu thích các môn thể thao các em đã chọn và tình nguyện
tập luyện để thi đấu cho Nhà trường.
Đội tuyển HKPĐ được chọn sẽ được xếp lớp riêng cũng với 2 tiết/01 tuần
trong thời gian hai năm rưỡi các em được huấn luyện từ cớ bản đến nâng cao của
môn mà các em đã lựa chọn. Như vậy một đội tuyển tập luyện chú trọng cho một
môn thể thao cho thấy những học sinh này có kỹ năng tốt về môn thể thao đó, sau
này ra trường các em có thể sử dụng kỹ năng thể thao này phục vụ cho các cuộc
thi tài đỉnh cao nếu được tiếp tục tập luyện. Việc huấn luyện đội tuyển do các giáo
viên trong tổ thực hiện chủ yếu là tình nguyện chứ kinh phí đem lại không đáng
bao nhiêu. Công việc giảng dạy với các lớp học giáo viên vẫn đảm bảo đầy đủ hiệu
quả theo sự phân công chuyên môn.
Hiệu quả của việc tập luyện thể thao tự chọn phục vụ cho Hội khỏe như
chúng ta đã thấy ở trên, các nội dung của trường tham gia đều đạt giải cao. Điều
đó chứng tỏ việc học TTTC đem lại hiệu quả cao về thành tích cũng như cho việc
phát triển thể chất cho học sinh.
Về thể lực, về kỹ năng thể thao các em đội tuyển hội khỏe đều hơn các học
sinh còn lại ở trường, khi các em chỉ được học thể dục theo phân phối chương
trình của Sở GD&ĐT.
Có thể nói rằng những học sinh được chọn đa số đều có tố chất cũng như
năng khiếu nổi trội hơn các bạn còn lại, nhưng nếu số học sinh này không được
học thể dục tự chọn, không được huấn luyện trong ba năm cấp ba thì thành tích thể
thao của các em cũng chẳng hơn các bạn còn lại trong trường là bao nhiêu. Ngược
lại nếu số học sinh đang học theo phân phối chương trình nếu được học tự chọn
môn học phù hợp với bản thân thì các em sẽ tích cực tự giác tập luyện và đem lại
kết quả cao.
+ Tính hiệu quả khi được áp dụng dạy TTTC trong ba năm học THPT cho
học sinh
Nếu như thành tích học TTTC theo phân phối chương trình cuả Sở GD&ĐT
chỉ dừng lại ở việc kiểm tra trên lớp với những quy định về thang điểm tương đối
dễ dàng thì thành tích khi học TTTC trong hai năm rưỡi để thi HKPĐ được đánh
giá tiêu chuẩn về thành tích cao hơn nhiều. Đây có thể nói là cuộc thi tài đỉnh cao
ở lứa tuổi học sinh, vậy mà trường THTP Thống Nhất B vẫn đạt được nhiều thành
tích cao trong các lần tham dự. Tại cuộc thi này thành tích thể thao của trường đã
được ghi nhận bằng nhiều huy chương Vàng, Bạc, Đồng. Từ đó có thể thấy việc áp
dụng cho học sinh học TTTC chuyên môn hóa một môn trong ba năm THPT thì sẽ
thu được thành tích cao, điều đó chứng tỏ hiệu quả GDTC trong nhà trường được
nâng lên nhiều so với chương trình học hiện tại.
Áp dụng dạy TTTC sẽ giải quyết được vấn đề hứng thú học tập, được học
môn học theo sở thích sẽ thúc đẩy học sinh tự giác tích cực, nghiêm túc trong học
tập
Đối với giáo viên chỉ phải tập trung chuyên môn cho một hoặc hai nội dung
thay vì phải dàn trải chuẩn bị nhiều nội dung như trước, như vậy giáo viên sẽ có
thời gian đầu tư chiều sâu về chuyên môn hơn, tạo điều kiện tốt nhất cho giảng
dạy. Trong dạy học TTTC đa số học sinh đều có ý thức tập luyện do đó giáo viên
cũng giảm bớt gánh nặng trong việc phải luôn kèm cặp thúc dục học sinh học tập.
Với mục đích nâng cao hiệu quả GDTC trường học, dạy học TTTC đã đáp
ứng được mục đích đó và được kiểm chứng qua quá trình nghiên cứu với đối
tượng học sinh THPT.
Dạy học TTTC đã đem lại hiệu quả cao trong việc phát triển tố chất và kỹ
năng vận động, nâng cao sức khỏe cho học sinh, góp phần trong kế hoạch lâu dài
để cải thiện giống nòi. Đó cũng chính là mục đích cao nhất của GDTC trường học.
IV. ĐỀ XUẤT VÀ KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Tiết 5
Ôn
- Kỹ thuật di chuyển
- Bốn kỹ thuật đánh đòn chân cơ bản 1,2,3,4
Học Bài tập thể lực phát triển thể lực chung, trò chơi (do GV chọn)
Tiết 6 Ôn
- Kỹ thuật các bộ tấn cơ bản
- Bốn kỹ thuật đánh đòn chân cơ bản 1,2,3,4
- Bài tập phát triển thể lực chung
Tiết 7 Ôn Giống tiết 6. Tổ chức trò chơi (do GV chọn)
Tiết 8
Ôn
- Kỹ thuật di chuyển
- Bốn kỹ thuật đánh đòn chân cơ bản 1,2,3,4
Học
- Hai kỹ thuật đánh đòn tay cơ bản 1,2
- Trò chơi vận động
Tiết 9
Ôn
- Kỹ thuật di chuyển
- Hai kỹ thuật đánh đòn tay cơ bản 1,2
Học
- Hai kỹ thuật đánh đòn tay cơ bản 3,4
- Bài tập phát triển sức nhanh (do GV chọn)
Tiết 10 Ôn
- Bốn kỹ thuật đánh đòn tay cơ bản 1,2,3,4
- Bài tập phát triển sức mạnh. Trò chơi (do GV chọn)
Tiết 11 Ôn
- Bốn kỹ thuật đánh đòn tay cơ bản 1,2,3,4
- Bốn kỹ thuật đánh đòn chân cơ bản 1,2,3,4
- Kỹ thuật di chuyển
- Các kỹ thuật phòng thủ đã học
- Bài tập phát triển sức mạnh
Tiết 19 Ôn Do giáo viên chọn
Tiết 20
Học Bài quyền số 01
Ôn Các kỹ thuật đánh đòn tay, chân, các kỹ thuật phòng thủ đã học
Tiết 21 Học
- Bài quyền số 01 (tiếp)
- Bài tập phát triển khả năng phản xạ (do GV chọn)
Tiết 22
Ôn
- Các kỹ thuật đánh đòn tay, chân
- Bài quyền số 01
- Các kỹ thuật phòng thủ đã học
Học
- Bài quyền số 01 (tiếp)
- Bài tập thể lực phát triển khả năng phản xạ
Tiết 23 Ôn
- Các kỹ thuật phòng thủ đã học
- Bài tập rèn luyện khả năng phản xạ
- Bài quyền số 01
Tiết 24 Ôn
- Các kỹ thuật phòng thủ đã học
- Bài tập thể lực (do GV chọn)
Tiết 25 KT Bốn kỹ thuật phòng thủ 1,2,3,4
Tiết 26 Học
- Lý thuyết bài: “khiêm nhường”
Ôn
Ôn tập chuẩn bị kiểm tra học kỳ
Tiết 36 KT
Bài quyền số 01
HỌC KỲ II
Tiết 37 Học
Lý thuyết: Tập luyện TDTT và sử dụng các yếu tố thiên nhiên
để rèn luyện sức khỏe (nội dung 3) liên hệ với việc tập luyện
võ thuật
Tiết 38
Ôn
- Kỹ thuật di chuyển
- Các kỹ thuật đánh đòn tay, chân
- Các kỹ thuật phòng thủ
Học
- Nâng cao các kỹ thuật đánh đòn tay, chân
- Nâng cao các kỹ thuật phòng thủ
- Bài tập nâng cao khả năng phản xạ
Tiết 39
Ôn
- Kỹ thuật di chuyển
- Các kỹ thuật đánh đòn tay, chân
- Các kỹ thuật phòng thủ
Học
- Chiến thuật thi đấu, tâm lý thi đấu
- Đấu tập
Tiết 40
Ôn
- Kỹ thuật di chuyển
Tiết 45 Học
- Lý thuyết bài: “Đoàn kết”
- Kỹ thuật tránh né
Tiết 46 Ôn
- Các kỹ thuật đánh đòn tay chân phối hợp
- Các kỹ thuật phòng thủ, tránh né phối hợp
- Thế khóa gỡ 1,2,3,4
- Bài tập thể lực phát triển sức mạnh
Học - Nâng cao các kỹ thuật đánh đòn tay chân phối hợp
- Nâng cao các kỹ thuật phòng thủ, tránh né phối hợp
Tiết 47
Ôn
- Củng cố các kỹ thuật đánh đòn tay chân phối hợp
- Củng cố các kỹ thuật phòng thủ, tránh né phối hợp
Học
- Bài quyền số 02 (tiếp)
- Trò chơi phát triển sức mạnh (do GV chọn)
Tiết 48 Ôn
- Củng cố các kỹ thuật đánh đòn tay chân phối hợp
- Củng cố các kỹ thuật phòng thủ, tránh né phối hợp
- Bài tập thể lực phát triển sức nhanh (do GV chọn)
Tiết 49 KT
- Các kỹ thuật đánh đòn tay chân phối hợp
- Các kỹ thuật phòng thủ, tránh né phối hợp
Tiết 50
Ôn
- Thế khóa gỡ 1,2,3,4
- Bài quyền số 02
Học
- Kỹ thuật khóa gỡ 5,6
- Đấu tập
Tiết 56
Ôn
- Thế khóa gỡ 1,2,3,4,5,6
- Bài tập phát triển sức bền
Học
- Kỹ thuật té ngã, nhào lộn cơ bản
- Đấu tập
Tiết
57-66
Ôn
Các kỹ thuật đã học (theo kế hoạch giáo viên chọn)
Tiết
67-70
Ôn
K T
Ôn tập kiểm tra các nội dung còn lại và kiểm tra học kỳ II PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 NỘI DUNG VÕ THUẬT
HỌC KỲ I
Tiết 1 Học
Lý thuyết: - Giới thiệu nội dung mục tiêu, yêu cầu của chương
trình lớp 11.
- Bài “dũng cảm”
Tiết 2
Ôn
- Kỹ thuật đánh đòn tay, chân
- Củng cố các kỹ thuật đánh đòn tay chân phối hợp
- Củng cố các kỹ thuật phòng thủ, tránh né phối hợp
- Thế khóa gỡ
Học
- Thế khóa gỡ 9,10
- Đấu tập
Tiết 7
Ôn
- Bài quyền 01 đã học ở lớp 10
- Thế khóa gỡ
Học Bài quyền số 03
Tiết 8
Ôn
- Di chuyển
- Nhào lộn, té ngã
- Bài quyền số 03
Học
- Bài quyền số 03 (tiếp)
- Bài tập thể lực phát triể sức bền
Tiết 9
Ôn
- Bài quyền 02
- Bài quyền 03
- Di chuyển
Học
- Bài quyền 03 (tiếp)
- Bài tập thể lực phát triể sức bền
Tiết 10 Ôn - Thế khóa gỡ