SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT LÝ NHÂN TÔNG
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC – HIỂU VỀ
TÁC GIA VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN THPT
Tác giả: PHẠM THỊ QUỲNH
Trình độ chuyên môn: Đại học Ngữ văn
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THPT Lý Nhân Tông
Nam Định, tháng 5 năm 2016
Sáng kiến :
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỜ ĐỌC –
HIỂU VỀ TÁC GIA VĂN HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT
(BAN CƠ BẢN)
1.Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Phương pháp giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong trường THPT.
2.Thời gian áp dụng sáng kiến:
Năm học 2014 - 2015; năm học 2015 - 2016.
3.Tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Quỳnh
Năm sinh: 14/03/1983
Nơi thường trú: Nam Sơn - Yên Lợi - Ý Yên - Nam Định
Trình độ chuyên môn : Đại học Sư phạm Ngữ văn
Chức vụ: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT Lý Nhân Tông
Ngày 05/5/2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số
16/2006/BGDĐT nêu rõ những định hướng đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiện
thuận lợi để giáo viên thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học. Trong những năm
qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trực tiếp chỉ đạo việc thực hiện đổi mới phương pháp
dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của học sinh. Trong đó, yêu cầu giáo viên tăng cường tổ chức các hoạt động nhận
thức cho học sinh, hướng dẫn phương pháp tự học cho các em.
Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học mà Bộ đề ra nằm phát huy vai trò của
người học đã khiến mỗi người giáo viên phải tự tìm tòi những phương pháp mới, vừa đáp
ứng với nhu cầu đổi mới, vừa phù hợp với đối tượng học sinh nhằm đạt hiệu quả cao
trong giảng dạy.
Việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là
điều không hề đơn giản bởi tính chất đặc thù bộ môn đó là: tính công cụ,tính nhân văn.
2
Tính công cụ thể hiện ở yêu cầu dạy cho học sinh năng lực sử dụng Ngữ văn như một
công cụ giao tiếp, bao gồm các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Nghe gồm năng lực chú ý,
nghe hiểu bài giảng, lời phát biểu, lời thảo luận… Nói gồm năng lực phát biểu trên lớp,
thảo luận, phỏng vấn, trả lời câu hỏi, kể chuyện thuyết minh vấn đề… Đọc bao gồm đọc
văn học và đọc các loại văn khác. Viết bao gồm năng lực viết các văn bản nghị luận xã
hội, nghị luận văn học, viết bản tóm tắt, văn bản thuyết minh… Các tính chất khác của
môn ngữ văn: tính tổng hợp, tính thực tiễn, tính tri thức, tính thẩm mĩ, tính xã hội.
Người giáo viên dạy Ngữ văn, ngoài việc tìm ra phương pháp mới truyền đạt kiến
thức cho học sinh còn phải tìm tòi nghiên cứu về nhu cầu thẩm mỹ, tâm sinh lý lứa tuổi
và đặc biệt quan tâm tới hứng thú của người học.Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy
và học môn Ngữ văn phức tạp và công phu hơn rất nhiều so với các môn tự nhiên, đặc
biệt là đổi mới phương pháp giảng dạy tác gia văn học.
Ngoài việc truyền đạt kiến thức cơ bản, giáo viên cần giúp học sinh thấy được vai
Ở Việt Nam, lý thuyết này mới được biết đến trong vài năm trở lại đây, việc vận
dụng nó còn chưa thực sự phổ biến, đồng thời các tài liệu nghiên cứu về phương pháp
này cũng chưa phong phú cả về số lượng và chất lượng. Theo chủ trương đổi mới phương
pháp dạy học, bắt đầu năm 2010, dự án "Phát triển giáo dục THCS II" bắt đầu triển khai
phương pháp dạy học sử dụng bản đồ tư duy đến các trường học và cơ sở đào tạo trong
cả nước và từ đó đến nay, phương pháp này đã có tác dụng đáng kể trong việc phát huy
tính tích cực, chủ động của học sinh và tương tác của giáo viên – học sinh.
+ Cấu tạo:
- Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề.
- Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủ
đề.
- Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý
chính.
- Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì
ý càng cụ thể, chi tiết. Có thể nói, Sơ đồ tư duy là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới
tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thức
nào đó.
4
Hình 1: Cấu tạo Sơ đồ tư duy
+ Các bước lập sơ đồ tư duy
Bước 1 : Xác định từ khóa
Mind Map được tạo thành bởi hầu hết các từ khóa (key word) nên nó tiết kiệm
được rất nhiều thời gian cho người học. Chỉ với những từ khóa là bạn đã có thể nắm bắt
được hết nội dung của tất cả những điều mà bạn đang muốn ghi nhớ
Bước 2 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.
- Bước này chúng ta sẽ sử dụng một tờ giấy trắng (không kẻ ô) đặt nằm ngang và
vẽ chủ đề ở chính giữa tờ giấy. Giấy trắng không kẻ ô sẽ giúp cho học sáng tạo hơn,
thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như lưu chúng vào
trí nhớ mình tốt hơn vì não bộ của con người có khả năng tiếp thu hình ảnh cao hơn chữ
viết. Bạn đừng ngại mình vẽ xấu, cứ vẽ theo những gì bạn nghĩ, những gì bạn liên tưởng,
đôi khi càng hài hước càng giúp bạn nhớ chúng được lâu hơn.
Hình 2: Các bước vẽ Sơ đồ tư duy
+ Các quy tắc khi thực hiện sơ đồ tư duy :
- Đừng suy nghĩ quá lâu mà hãy viết liên tục. Việc các bạn dừng lại để suy nghĩ
một vấn đề nào đó quá lâu sẽ khiến cho những suy nghĩ tiếp theo của các bạn bị ngăn lại.
6
Bạn mải lo cho vấn đề đó mà sẽ quên mất những vấn đề tiếp theo. Do đó, các ý nên được
triển khai một cách liên tục để duy trì sự liên kết
- Không cần tẩy xóa, sửa chữa.
- Viết tất cả những gì mình nghĩ cho dù nó có ngớ ngẩn, ngu ngốc đến đâu đi
chăng nữa, đừng bỏ lỡ những ý tưởng đó. Đôi khi những ý nghĩ tưởng như điên rồ lại là
một ý tưởng cực kỳ độc đáo và sáng tạo mà bạn không ngờ được đó.
- Sơ đồ tư duy được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển
ra phía ngoài, và sau đó là theo chiều kim đồng hồ. Do đó, các từ ngữ nằm bên trái Sơ đồ
tư duy nên được đọc từ phải sang trái (bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài)
+ Những ưu điểm của Sơ đồ tư duy:
a. Đối với nhà trường :
Kỹ thuật dạy học này có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào
của các nhà trường hiện nay nói chung. Bởi vì ta có thể thiết kế Sơ đồ tư duy trên
giấy,trên bảng,… bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu…hoặc cũng có thể thiết kế
trên phần mềm Sơ đồ tư duy (Mind Map). Với những trường đủ điều kiện về cơ sở vật
chất như Máy chiếu Projecto, phòng máy vi tính đảm bảo, chúng ta có thể sử dụng phần
mềm (Mind Map) để phục vụ cho việc dạy học có ứng dụng công nghệ thông tin.
giảng dạy.
Trường có 18 lớp học với 2 dãy nhà ba tầng khang trang, có phòng của Ban giám
hiệu, phòng của các tổ chức đoàn thể, phòng học bộ môn và đặc biệt là phòng đa chức
năng được trang bị máy chiếu hiện đại, có kết nối Internet…
Đội ngũ giáo viên nhà trường hầu hết còn rất trẻ, có trình độ chuyên môn đạt
chuẩn và trên chuẩn (100% có trình độ đại học, 8/49 đồng chí là thạc sỹ).Hầu hết đều là
những thầy cô nhiệt tình, tâm huyết với nghề.
- Tổ Văn – Sử - Địa – GDCD trường THPT Lý Nhân Tông:
Tổ Văn – Sử - Địa – GDCD là tổ tổng hợp các môn xã hội, nhiều năm đạt danh
hiệu là : Tập thể lao động xuất sắc.
Nhóm Ngữ văn nằm trong tổ Văn – Sử - Địa – GDCD gồm có 6 đồng chí, hầu hết
đều là những đồng chí trẻ có nhiệt huyết với nghề, có trình độ chuyên môn vững vàng,
trong đó có 2/6 đồng chí là thạc sỹ.
- Học sinh của nhà trường:
Học sinh của nhà trường tuy điểm đầu vào bình quân trung còn thấp so với các
trường trong huyện song ý thức học tập khá tốt. Trong đó, hầu hết các em học sinh đều
chăm ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập. Mặc dù vậy, vẫn còn tồn tại tình trạng học
sinh nhận thức chậm, chưa có phương pháp học hiệu quả nên chất lượng qua các kỳ kiểm
tra chưa cao.
2.2. Tình hình dạy học tác giả văn học trong chương trình Ngữ văn THPT
Theo nhu yêu cầu mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói chung thì việc đổi
mới dạy học tác giả văn học trong nhà trường phổ thông cũng phải tìm cách đổi mới.
8
a. Thuận lợi
Những bài về tác giả văn học đều cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản
về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của các nhà văn, nhà thơ. Đây là những yếu tố chi phối,
ảnh hưởng rất lớn đến các tác phẩm văn học cũng như phong cách nghệ thuật của tác giả.
9
- Hiện nay, trong nhóm Ngữ văn có 2/6 đồng chí sử dụng phương pháp này nhưng
chủ yếu áp dụng ở khâu ôn tập kiến thức cho học sinh, chưa mạnh dạn đưa vào giảng dạy
bài mới.
Từ điều kiện hoàn cảnh như trên, tôi nảy sinh sáng kiến sử dụng Sơ đồ tư duy
giảng dạy về tác giả văn học trong chương trình Ngữ văn THPT của cả 3 khối lớp : Ngữ
văn 10, Ngữ văn 11, Ngữ văn 12.
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
1. Giải pháp trước khi có sáng kiến
- Lâu nay, trong quá trình dạy học, giáo viên thường sử dụng sơ đồ hóa... để cô
đọng, khái quát kiến thức cho học sinh, nhất là ở những bài văn học sử (bài khái quát, bài
về tác gia văn học,…).
Bản thân tôi, trước đây, khi dạy những bài về tác gia văn học cũng tiến hành theo
phương pháp này. Đây là phương pháp dạy học mà trong đó giáo viên truyền đạt nội
dung bài giảng cho học sinh qua 1 sơ đồ, học sinh ghi chép và học thuộc.
+ Ưu điểm của giải pháp này là:
Cách làm này có thể nói đã đem lại những hiệu quả thiết thực nhất định trong việc
ôn tập, củng cố, hệ thống kiến thức cho học sinh bởi cách trình bày gọn, rõ ràng và logic.
Tác gia
Tác
Tiểu sử
Sự nghiệp văn học
Gia
Hình 3: Sơ đồ hóa về một tác gia văn học
+ Nhược điểm của giải pháp này là:
Cả lớp cùng có chung cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài
liệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình.
Các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét.
10
Cách làm này chưa thật sự phát huy được tư duy sáng tạo, chưa thật sự kích thích,
lôi cuốn được các em trong việc tích cực, chủ động tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh kiến
thức của bài học.
Như vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học bài đọc – hiểu về tác gia văn học
là rất cần thiết. Tôi hy vọng rằng sáng kiến kinh nghiệm này của tôi sẽ góp một phần
nhỏ bé để nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn Ngữ văn trong nhà trường
THPT nói chung và trong trường THPT Lý Nhân Tông nói riêng.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
2.1. Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ:
Lập bảng so sánh giữa phương pháp dạy học theo sơ đồ hóa và phương pháp sử
dụng Sơ đồ tư duy :
Stt
Tiêu chí so
Dạy học theo sơ đồ
sánh
hóa
yêu cầu cả lớp cùng động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
thực hiện như nhau.
Hình thức, tổ
4
5
chức dạy học
hứng thú học tập cho học sinh.
Chủ yếu dạy học toàn Dạy học cá nhân, dạy học theo
lớp, giáo viên đối diện nhóm…
với cả lớp.
Phương
dạy học
tiện - Giáo viên : Sách giáo - Giáo viên : Ngoài sách giáo khoa,
khoa,
sách
giáo sách giáo viên,bảng đen, phấn trắng,
11
viên,bảng đen, phấn giáo viên còn phải sử dụng máy
* Nguyên tắc :
+ Giáo viên nên chọn những bài các em đã học, có kiến thức đơn giản, dễ nhớ, dễ
vẽ.
+ Giáo viên có thể linh hoạt cho học sinh vẽ theo nhóm vào giấy, vẽ cá nhân vào
vở hoặc gọi 2-3 em lên bảng vẽ.
+ Lưu ý các em không dùng câu, đoạn quá dài, nên thể hiện các ý bằng những cụm
từ ngắn gọn.
12
- Sau khi các em vẽ xong sườn của Sơ đồ tư duy, giáo viên gợi ý cho các em vẽ
chèn thêm những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho
các em chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới các ý
trong sơ đồ.
* Nguyên tắc:
+ Giáo viên lưu ý học sinh khi vẽ Sơ đồ tư duy, các em nên kết hợp dùng màu sắc,
đường nét, ... ngay trong quá trình vẽ để tiết kiệm thời gian.
+ Không nên dùng quá nhiều màu, không dùng những màu sắc quá sặc sỡ, không
quá chú trọng vào đường nét, hình ảnh làm lãng phí thời gian.
- Giáo viên thu một số Sơ đồ tư duy các em vừa vẽ. Cho học sinh quan sát, nhận
xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung. Giáo viên lắng nghe, định hướng cho các em hoàn thiện
sơ đồ tư duy.
* Nguyên tắc:
+ Sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở, vì vậy, giáo viên cần tôn trọng và phát huy sự
sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em. Giáo viên chỉ chỉnh sửa
cho các em chủ yếu về mặt kiến thức. Mặt khác, giáo viên cũng cần khuyến khích, biểu
dương những Sơ đồ tư duy vẽ đảm bảo đầy đủ kiến thức trọng tâm, đẹp, có cách trình
bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét, màu sắc.
+ Nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các Sơ đồ tư duy lại để sau này tiện việc
2.2.3. Các bước sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học
2.2.3.1. Sử dụng Sơ đồ tư duy kiểm tra bài cũ :
- Giáo viên đưa ra một từ khóa (hay một hình ảnh trung tâm) thể hiện chủ đề của
kiến thức cũ mà các em đã học.
- Sau đó giáo viên yêu cầu các em vẽ Sơ đồ tư duy thông qua câu hỏi gợi ý.
- Trên cơ sở từ khóa (hoặc hình ảnh trung tâm) ấy kết hợp với câu hỏi định hướng
của giáo viên, học sinh sẽ nhớ lại kiến thức và định hình được cách vẽ Sơ đồ tư duy theo
yêu cầu.
Khi học sinh vẽ xong, giáo viên cho cả lớp quan sát, gọi một vài em nhận xét, góp
ý sơ đồ rồi giáo viên nhận xét và cho điểm.
* Ví dụ: Khi kiểm tra bài cũ về tác gia Nguyễn Đình Chiểu:
- Giáo viên ghi lên bảng từ khóa trung tâm “Nguyễn Đình Chiểu”.
- Yêu cầu 1 học sinh lên bảng, dựa vào kiến thức đã học vẽ các nhánh cấp 1, cấp
2…
- Học sinh dưới lớp vẽ ra giấy.
- Giáo viên kiểm tra bài của học sinh và chỉnh sửa, bổ sung.
- Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh một Sơ đồ tư duy hoàn chỉnh về tác giả
Nguyễn Đình Chiểu
14
Hình 4: Sơ đồ tư duy về tác gia Nguyễn Đình Chiểu
*Lưu ý:
+ Giáo viên có thể cho cả lớp cùng lập Sơ đồ tư duy trên giấy theo cách hoạt động
cá nhân trong một thời gian nhất định để lôi cuốn tất cả học sinh vào việc ôn kiến thức
đồng thời rèn luyện kĩ năng tạo lập Sơ đồ tư duy và thói quen tư duy cho các em.
+ Hết thời gian quy định, giáo viên chọn sơ đồ của một vài em (có thể vẽ xong
trước, có thể cần lấy điểm,...), chấm, nhận xét và ghi điểm cho các em; biểu dương, khen
ngợi những em vẽ tốt để khích lệ các em nhằm tạo không khí học tập sôi nổi.
- Các nhóm cử đại diện trình bày .
- Giáo viên điều chỉnh, bổ sung và trình chiếu trên máy.
+ Giáo viên chốt lại và hoàn thiện sơ đồ tư duy. Giáo viên kết hợp với các hình
ảnh minh họa, thuyết giảng để học sinh hiểu sâu hơn bài học .
* Ưu điểm :
+ Phát huy được năng lực của học sinh : năng lực làm việc nhóm, năng lực sử
dụng ngôn ngữ, năng lực tư duy, năng lực thẩm mỹ.
+ Giáo viên khai thác được tối đa hiệu quả công nghệ thông tin trong bài giảng.
* Nhược điểm :
+ Đây là hình thức dạy học mà giáo viên tách rời bảng đen, phấn trắng.
+ Giáo viên và học sinh phải chuẩn khá công phu trước mỗi giờ học.
* Ví dụ : Trong bài “Bình Ngô đại cáo”, phần I: tìm hiểu về tác giả Nguyễn Trãi,
giáo viên có thể tổ chức dạy học bài mới về tác giả như sau :
- Tìm từ khóa trung tâm :Giáo viên giới thiệu bài học với nội dung chính là tìm
hiểu về tác giả Nguyễn Trãi.Sau đó, đưa hình ảnh trung tâm lên máy chiếu.
16
- Tìm từ khóa cấp 1: Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào sách Ngữ văn 10, tập 2,
nêu những nét cơ bản về tác giả Nguyễn Trãi. Học sinh trả lời : cuộc đời, sự nghiệp thơ
văn, kết luận.
- Tìm từ khóa cấp 2,3… phần cuộc đời.
Sinh năm 1380, mất 1442
Gia đình có truyền thống yêu nước, văn hóa, văn học.
Quê quán : Thường Tín, Hà Tây.
Trước khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn:5 tuổi mất mẹ, 10 tuổi mất ông ngoại,năm
1400 đỗ Thái học sinh- ra làm quan cho triều Hồ,năm 1407 : giặc Minh xâm lược,
Nguyễn Trãi đi theo Lê Lợi.
ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn; đây được coi là áng thiên cổ hùng văn.
- Giá trị nội dung : Tư tưởng chủ đạo là tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước, thương
dân.
- Giá trị nghệ thuật :đạt tới trình độ nghệ thuật mẫu mực từ xác định đối tượng,
mục đích, bút pháp, kết cấu chạt chẽ, lập luận sắc bén.
3. Nguyễn Trãi – nhà thơ trữ tình sâu sắc.
- Vị trí : Nguyễn Trãi là nhà thơ tiêu biểu cho thơ trữ tình.
- Tác phẩm tiêu biểu :
+ Ức Trai thi tập.
+ Quốc âm thi tập.
-
Giá trị nội dung :
+ Nguyễn Trãi là người anh hùng vĩ đại của dân tộc :
Lý tưởng của người anh hùng : hòa quyện yêu nước và thương dân
Phẩm chất, ý chí người anh hùng :dáng ngay thẳng, cứng cỏi của cây trúc; vẻ
thanh tao, trong trắng của cây mai; sức sống khỏe khoắn của cây tùng.
+ Nguyễn Trãi là con người trần thế :
Đau đớn khi chứng kiến nghịch cảnh éo le của xã hội.
Mơ ước về một xã hội thái bình, thịnh trị.
Dành nhiều tình yêu cho thiên nhiên, đất nước, con người và cuộc sống.
Nguyễn Trãi đề cập tới nghĩa vua tôi, tình cha con và tình bạn.
Nguyễn Trãi gắn bó tha thiết với quê hương.
19
-
24