PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ÁI THƯỢNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY ĐỂ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN 6 Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ÁI THƯỢNG
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hằng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Ái Thượng
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2017
Mục lục
1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
II- PHẦN NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
3. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
3.1.GIỚI THIỆU BĐTD VỚI HỌC SINH
3.2.CHO HỌC SINH LÀM QUEN VỚI BĐTD VÀ
13
15
15
16
19
20
2
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ
nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo
dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng
tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính
tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác
làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách
PPDH ở nhà trường phổ thông.
Trong những năm gần đây, một trong những vấn đề được Đảng và Nhà
nước quan tâm hàng đầu là đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất
lượng giáo dục. Với phương pháp dạy học mới, người học đóng vai trò trung
tâm, chủ động, tích cực, tự giác trong học tập, Giáo viên (GV) là người tổ chức,
hướng dẫn học sinh (HS) tự khám phá kiến thức mới, dạy cho HS không chỉ
kiến thức mà cả phương pháp học. Trong đó, cốt lõi là phương pháp tự học.
Một thực tế dễ nhận thấy ở HS miền núi là khả năng tư duy, mức độ tiếp
thu kiến thức còn hạn chế, các em chưa hứng thú trong học tập, còn thụ động, ỷ
lại, chưa tự giác, tích cực, chưa có phương pháp học tập hiệu quả.
Đặc biệt là đối tượng HS lớp 6, với đặc điểm tâm lí lứa tuổi của HS tiểu
học: hồn nhiên, trong sáng. Khi bước vào lớp 6, các em có tâm lí lo lắng, bỡ
phương pháp học tập kiểu truyền thống, khảo sát về nhu cầu
ứng dụng bản đồ tư duy vào việc học tập và đánh giá những
mặt mạnh của việc ứng dụng bản đồ tư duy.
4.5. Phương pháp thực nghiệm: dạy một tiết cụ thể.
4
PHẦN HAI: NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Nhà văn Gor.ki từng nói, văn học là nhân học, học văn cũng chính là học
cách làm người. Học văn sẽ giúp các em hình thành, phát triển và hoàn thiện
nhân cách, sự đa dạng, phong phú về mặt tâm hồn. Môn Văn với những câu
chuyện, những bài thơ, những kỹ năng sử dụng Tiếng Việt và Tập làm văn sẽ
giúp các em biết cách giao tiếp, đặc biệt nó sẽ giúp các em biết yêu cái đẹp, cái
hay, cái tốt, biết căm ghét cái xấu xa, cái giả dối. Từ đó bồi đắp thêm tâm hồn
cho các em , bồi đắp thêm tình yêu gia đình, quê hương, đất nước cũng như các
tình cảm khác.
Tất cả điều đó chỉ có thể làm được khi các em yêu thích môn văn. Nhưng,
nếu không có phương pháp học tập hiệu quả ngay từ đầu cấp, sẽ dẫn tới các em
chán nản, thờ ơ với môn văn, như vậy vai trò của môn văn trong nhà trường
THCS sẽ bị lu mờ.
Việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học không phải là mới lạ. Song, với
đối tượng học sinh lớp 6, các em vừa thay đổi môi trường học tập, từ cấp Tiểu
Học lên học ở cấp Trung Học Cơ Sở, số lượng môn học và kiến thức tăng lên.
Nên nhiều học sinh bỡ ngỡ đã không theo kịp sự thay đổi này, dẫn đến học hành
giảm sút so với thời kì học ở bậc Tiểu Học. Vì thế, để nâng cao chất lượng học
tập môn Ngữ Văn, phải gây được hứng thú học tập của HS, bên cạnh việc đổi
mới phương pháp dạy học, thì nhất thiết phải giúp các em có phương pháp học
tập phù hợp, hiệu quả, và sử dụng BĐTD là thiết thực nhất, vì nó phù hợp với
TB
Yếu
Kém
khối 6
SL
%
SL % SL % SL % SL % SL %
6A: 30
16
53,3
2 6,6 5 16,6 14 46,6 6
20
3
10
HS
6B: 30
15
50
1 3,3 6
20 12 40
7 23,3 4 13,3
HS
Tổng :
31
51,6
3
5 11 18,3 24 40 13 21,6 7 11,6
60 HS
Có thể thấy, tỉ lệ HS chưa có phương pháp học tập đúng đắn, chưa hứng
thú với môn văn và tỉ lệ HS yếu kém là rất cao. Đây là một khó khăn lớn đối với
một hệ thống kiến thức. BĐTD có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở
vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa,
bảng phụ,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm BĐTD.
Với những ưu điểm trên, BĐTD sẽ giúp HS:
BĐTD giúp HS học được phương pháp học:
Sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, HS sẽ học được phương pháp học,
tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
BĐTD- giúp HS học tập một cách tích cực: HS học tập một cách tích
cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não. Các em sẽ khắc sâu và nhớ lâu, nắm
vững kiến thức hơn.
BĐTD giúp HS ghi chép có hiệu quả. HS biết chọn lọc thông tin, từ ngữ,
sắp xếp, bố cục để “ghi” thông tin cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sẽ giúp HS dần
dần hình thành cách ghi chép có hiệu quả.
Đối với môn Văn, BĐTD có thể áp dụng được vào cả 3 phân môn:
Với phân môn Tập làm văn, HS có thể sử dụng BĐTD để hệ thống kiến
thức của một kiểu văn bản, một vấn đề hay để lập dàn ý cho một đề văn cụ thể,
kiến thức được hệ thống theo mạch logic, HS sẽ nhớ lâu hơn.
Ví dụ: Khi học tiết Ôn tập văn miêu tả ( tiết 119), GV có thể yêu cầu HS
chuẩn bị trước BĐTD về văn miêu tả với các từ khóa nội dung chính.
Với phân môn Văn học, HS có thể sử dụng BĐTD để hệ thống kiến thức
toàn bài học theo những ký hiệu, màu sắc mình yêu thích, hay để hệ thống một
vấn đề, một nhân vật, một thể loại văn học, phần tổng kết, luyện tập… từ đó
giúp HS khắc sâu nội dung bài học hơn. Ví dụ, sau khi học xong đoạn trích “
Bài học đường đời đầu tiên” ( trích “ Dế Mèn phiêu lưu kí” – Tô Hoài, tiết
73,74) GV có thể hướng dẫn HS vẽ BĐTD phần tổng kết theo những gợi ý về
nội dung và nghệ thuật:
7
HS rất thích thú khi được quan sát trực tiếp, các em rất hào hứng với kỹ
thuật dạy học này.
3.2.2. Các bước vẽ một BĐTD:
Bước 1 : Vẽ chủ đề ở trung tâm.( Từ khóa)
- Bước đầu tiên trong việc tạo ra một BĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm trên
một mảnh giấy .
- Cách vẽ: Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác. Có thể
tự do sử dụng tất cả màu sắc mà HS thích. Không nên che chắn mất hình vẽ chủ
đề vì chủ đề cần được làm nổi bật, dễ nhớ. Có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ
chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
Bước 2 : Vẽ thêm các tiêu đề phụ.
- Bước tiếp theo là vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm.
- Cách vẽ : Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA, hoặc chữ
thường nhưng với cỡ chữ to hơn bình thường nằm trên các nhánh dày để làm nổi
bật. Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm. Tiêu đề phụ nên được vẽ
theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ
dàng.
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.
- Cách vẽ : Chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh. Bất cứ lúc nào có
thể, hãy dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời
gian.
- Mỗi từ khóa - hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên
nhánh. Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa. Chúng ta thay đổi màu sắc
khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn.
Bước 4 : Ở bước cuối cùng này, hãy để trí tưởng tượng của HS bay
bổng.
- HS có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật,
cũng như giúp lưu chúng vào trí nhớ của HS tốt hơn.
Trong quá trình hướng dẫn HS các bước thực hiện, để có thể giúp HS vẽ
BĐTD hiệu quả, tôi đưa ra những gợi ý:
Thời gian kiểm tra bài cũ không nhiều, chỉ khoảng 5 – 7 phút, nên yêu cầu
của GV thường không quá khó, mà thường chỉ yêu cầu HS tái hiện một phần
kiến thức bằng cách đặt câu hỏi, gọi HS lên bảng. Cách làm này vô tình có thể
để nhiều HS rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu bài,
không nắm được bản chất của vấn đề, cũng như chưa hệ thống.
Cần thay đổi cách kiểm tra, đánh giá nhận thức của HS, không chỉ kiểm
tra phần nhớ, mà còn cần kiểm tra cả phần hiểu của các em, nhất là đối tượng
HS như lớp 6, nếu không sẽ hình thành phương pháp học không tốt ở các em.
Sử dụng BĐTD vừa giúp GV kiểm tra được phần nhớ lẫn phần hiểu của
HS đối với bài học cũ. Các BĐTD thường được GV sử dụng ở dạng thiếu thông
tin, yêu cầu HS điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ
của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm. Ví dụ: Khi dạy bài So sánh( tiết
86, tiếp theo), trước khi vào dạy bài mới, GV có thể kiểm tra bài cũ về so sánh
dưới dạng cung cấp các từ khóa, yêu cầu HS điền thông tin kiến thức hoàn thành
BĐTD về so sánh dưới dạng:
10
Điều đặc biệt khi tiến hành kiểm tra bài cũ dạng này nó có nhiêu ưu thế
hơn so với dạng kiểm tra bài cũ truyền thống là:
Nếu kiểm tra bài cũ cách truyền thống, thường GV nêu câu hỏi, HS lên
bảng trả lời, còn HS ở dưới lắng nghe, nhận xét, góp ý. GV chỉ có thế kiểm tra
một, hoặc một số HS, còn những HS khác, sẽ không có thời gian kiểm tra. Với
cách kiểm tra thông minh này, GV có thể kiểm tra được tất cả HS khi yêu cầu
HS lập BĐTD tại chỗ, GV kiểm tra xác xuất một số HS, sau đó cùng các HS ấy
kiểm tra cả lớp. Vì thế, HS sẽ không còn thói quen ỷ lại, mà phải chủ động, tự
giác học, đồng thời phát huy được tính cách trung thực, độc lập ở các em, giúp
các em hoàn thiện nhân cách của mình. Hơn nữa, việc học bằng BĐTD đã giúp
HS có cách ghi nhớ kiến thức nhanh, nhớ lâu, nên khi đã quen cách học này, các
Lưu ý khi đặt câu hỏi cho HS trả lời : GV nên hỏi những câu liên quan
đến sự thông hiểu để HS vận dụng khi làm bài bài kiểm tra. Khi HS trả lời, GV
nên động viên khuyến khích và có thể hỏi tiếp những câu có liên quan đến kiến
thức của bài học cũ để HS vừa học kiến thức mới, vừa ôn tập kiến thức đã học.
3.3.3. Lập BĐTD trong việc củng cố kiến thức:
Có thể sử dụng BĐTD để củng cố một nội dung của bài học hoặc củng cố
cả bài. Sau mỗi bài học, GV hướng dẫn, gợi ý để HS tự hệ thống kiến thức trọng
tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học được vẽ
kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các
em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Ví dụ: Tiết 73,74: Bài học đường đời đầu tiên, GV có thể yêu cầu HS vẽ
BĐTD về nhân vật Dế Mèn để hệ thống kiến thức về nhân vật này.
12
3.3.4. Lập BĐTD trong bài ôn tập:
Trước đây, các tiết ôn tập một số GV cũng đã lập bảng hệ thống, vẽ sơ đồ…và
cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV hoặc của tài liệu, chứ
không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu
đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét.
Với thế mạnh của BĐTD là kiến thức được hệ thống hóa dưới dạng sơ đồ,
các đường nối, là sự diễn tả mạch logic kiến thức hoặc các mối quan hệ, cộng
thêm màu sắc của các đường nối, màu sắc của các đơn vị kiến thức, sẽ giúp HS
nhìn thấy bức tranh tổng thể cả một phần kiến thức đã học.
Vì thế, với các tiết ôn tập, để hệ thống hóa kiến thức một cách dễ dàng,
khoa học, GV có thể sử dụng BĐTD. Có nhiều cách để xây dựng BĐTD:
+ Thông thường, GV cho một số câu hỏi và bài tập để HS chuẩn bị ở nhà.
Tiết ôn tập, GV hướng dẫn HS tự lập BĐTD, sau đó cho HS trao đổi kết quả với
hơn, HS dễ tiếp thu kiến thức và khắc sâu hơn.
3.3.5. Lập BĐTD để tổng hợp kiến thức nhiều bài học.
Dùng BĐTD có thể thể hiện một lượng thông tin nhỏ đến lớn và rất lớn. Vì
thế, GV và HS có thể thể hiện một phần nội dung bài học hoặc kiến thức của
nhiều bài học khác nhau. Ở đây, yêu cầu là các nội dung kiến thức này có điểm
chung với nhau, có mối quan hệ với nhau thông qua từ khóa.
14
Ví dụ: sau khi học xong về cụm tính từ ( tiết 63, Tính từ và cụm tính từ)
HS có thể vẽ BĐTD về các loại cụm từ tiếng Việt để hệ thống kiến thức, có sự
so sánh, nhận diện dễ dàng các cụm từ, giúp việc vận dụng tốt hơn:
3.3.6. Sử dụng BĐTD để ra bài tập về nhà:
Vì làm bài tập ở nhà sẽ có nhiều thời gian hơn và điều kiện để tham khảo
các tài liệu có liên quan hơn nên bài tập mà GV giao cho HS ( hoặc nhóm HS)
trước hết phải gắn với nội dung bài học và trong điều kiện cho phép, phù hợp
với đối tượng HS. Yêu cầu bài tập về nhà cũng cần khó và phức tạp hơn, đòi hỏi
sự đầu tư hơn, tính sáng tạo, tích cực của HS.
15
Ví dụ: Sau khi học xong một thể loại văn học dân gian, GV có thể yêu cầu
HS vẽ lại bản đồ về thể loại văn học dân gian đó, như: truyền thuyết, cổ tích,
truyện ngụ ngôn, truyện cười về khái niệm, ý nghĩa các truyện đã học…Hay sau
khi học xong một tác phẩm văn học, GV giao bài tập về nhà yêu cầu HS vẽ lại
BĐTD bài học đó theo cách trình bày, cách hiểu của mình. GV có thể cung cấp
cho HS các từ khóa, HS về nhà điền thông tin. Sau đó, GV thu, có thể yêu cầu
HS thuyết trình trước lớp, lớp nhận xét, bổ sung, sửa chữa và hoàn thiện nội
dung kiến thức.
1. Kiến thức:
- Nghĩa của cụm danh từ.
- Chức năng ngữ pháp của cụm danh từ.
- Cấu tạo đầy đủ của cụm danh từ.
- Ý nghĩa của phụ ngữ trước và phụ ngữ sau trong cụm danh từ.
2.Kĩ năng:
- Nhận biết cụm danh từ.
- Sử dụng bản đồ tư duy trong nhận biết và ghi nhớ đặc điểm cụm danh từ.
3.Thái độ: Giáo dục HS ý thức tôn trọng và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt
II. PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN:
- Phương Pháp: Vấn đáp, thảo luận nhóm…
- Phương tiện: Lap top, Máy chiếu, bảng phụ, phiếu học tập…
III. CHUẨN BỊ:
1.Giáo viên: Soạn bài, chuẩn bị tài liệu có liên quan
2. Học sinh: soạn bài trước ở nhà
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1.Ổn định lớp:
2.Kiểm tra bài cũ:
Câu 1 : Thế nào là danh từ chung, danh từ riêng ? Cho ví dụ cụ thể ?
Câu 2 : Nêu cách viết danh từ riêng ? Cho ví dụ ?
3. Bài mới : Hoạt động 1: Khởi động:Trong câu, danh từ thường kết hợp với từ
chỉ số lượng phía trước và một số từ ngữ khác ở phía sau để tạo thành cụm danh
từ . Vậy cụm danh từ có những đặc điểm gì ? Bài học hôm nay sẽ giúp các em
hiểu về cụm danh từ .
Hoạt động của Gv-Hs
Hoạt động 2:Hình thành kiến thức.
GọI HS đọc ví dụ/sgk
a. Hai vợ chồng ông lão đánh cá .
- Một túp lều nát trên bờ biển => cụm
danh từ
một túp lều nát / một túp lều nát trên
bờ biển.
Thảo luận nhanh:1p
Tích hợp kĩ năng sống
? Cho DT trung tâm “Học sinh”.
Tìm thêm những từ ngữ bổ nghĩa tạo
thành cụm DT?
. Học sinh / học giỏi
- Học sinh lớp sáu/ học rất giỏi
? So sánh nghĩa của cụm danh từ với
nghĩa của một danh từ?
?Nghĩa của phần nào rõ hơn?
? Nó có cấu tạo như thế nào?
? Khi số lượng của phụ ngữ càng tăng,
càng phức tạp thì nghĩa của cụm từ
như thế nào?
Hs đọc ghi nhớ:
- GọI HS đọc ví dụ 1 phần 2.
? Tìm các cụm danh từ?
? Trong các cụm danh từ đó, từ nào là
danh từ trung tâm? Liệt kê các từ ngữ
phụ thuộc đứng trước và sau danh từ
trong cụm đó?
? Vậy, Cấu tạo của cụm danh từ gồm
mấy phần? Đó là những phần nào?
? Điền chúng vào mô hình cụm danh
từ?
Hs lên bảng điền vào mô hình cụm
danh từ:
nếp
ba
con
trâu
đực
ba
con
trâu
ấy
chín
con
năm
sau
Tất cả
những
em
học
chăm
ấy
sinh
ngoan
*Ghi nhớ (tr.118)
Hs đọc ghi nhớ.
=> Gv lưu ý cấu tạo của cụm danh từ có
thể đầy đủ ba phần,có thể vắng mặt phần
18
trước hoặc phần sau,nhưng phần trung
tâm bao giờ cũng phải có.
người
chồng
lưỡi
con
con
búa
yêu
tinh
trâu
Phần sau
s1
s2
thật xứng
đáng
của cha
ở trên núi
đực
19
Ba
Cả
thúng
gạo
làng
làng
trước chưa áp dụng dạy học bằng BĐTD như sau:
Năm học 2015 – 2016: chưa áp dụng dạy học bằng BĐTD với lớp 6.
Tổng số
HS khối
6
6A: 35
HS
6B: 34
HS
Tổng :64
HS thích
học Văn
SL
%
16
45,7
17
50
33
51,5
Năm học 2015-2016
Giỏi
Khá
60 HS
HS thích học
Văn
Giỏi
SL
%
SL %
Học kì I năm học 2016-2017
Khá
TB
Yếu
SL % SL % SL %
24
80
5
16,6 15
26
86,6
6
50
7
23,3
1
3,3
0
0
15
25
2
3,3
0
0
PHẦN BA: KẾT LUẬN
1. Bài học kinh nghiệm.
Vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho HS tư duy mạch
lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống,
khoa học. Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác
như vấn đáp, gợi mở, thảo luận nhóm… có tính khả thi cao góp phần đổi mới
dễ dàng dưới dạng vừa học vừa chơi.
+ Khi áp dụng, giáo viên cần phải dựa vào nội dung bài học, cơ sở vật
chất của nhà trường, HS, thời gian trong từng tiết học mà lựa chọn hoặc thiết kế
các BĐTD cho phù hợp.
+ BĐTD thực sự hiệu quả đối với phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn,
đối với phân môn Văn học, đối với các văn bản nghệ thuật, tư duy được thể hiện
trong các văn bản này là tư duy hình tượng, nên GV cần có sự cân nhắc, lựa
chọn áp dụng làm sao cho phù hợp, tránh sự suy diễn khô khan.
+ BĐTD chỉ là một trong số các kỹ thuật dạy học tích cực đem lại hiệu
quả cao trong dạy và học, nhưng nó không phải là tuyệt đối, vì thế cần áp dụng
linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực khác.
2. Đề xuất kiến nghị:
GV nên thường xuyên cho HS vẽ BĐTD để hình thành cách học hiệu quả
ở các em. Đây là một phương pháp học rất hiệu quả, nên áp dụng với các môn
học khác, vì thế tổ chuyên môn, nhà trường nên có những tiết dạy áp dụng kỹ
thuật này để GV trao đổi, học hỏi, rút kinh nghiệm, từ đó áp dụng làm sao đạt
hiệu quả cao nhất.
Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân đã áp dụng thành công trong
thời gian dạy học môn Ngữ Văn lớp 6 ở trường THCS Ái Thượng vừa qua, tôi
xin được chia sẻ với các bạn đồng nghiệp. Rất mong rằng sáng kiến kinh nghiệm
này sẽ được áp dụng và phổ biến rộng rãi để chất lượng giáo dục ngày càng
được nâng. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài, chắc chắn sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót và những ý kiến chủ quan, rất mong nhận được sự góp ý,
xây dựng của các cấp quản lý, các đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện
hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Ái Thượng, ngày 20 tháng 3 năm 2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của