MỤC LỤC
A. Mở đầu:................................................................................................................2
I. Lý do chọn đề tài………………………………………………………………… 2
II. Mục đích của đề tài……………………………………………………………....3
III. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………………...3
IV. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………......3
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm..………………………………… ……….....4
I. Cơ sở lý luận……………………………………………………………………...4
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm…………………...5
III. Các giải pháp thực hiện………………………………………………………. ..7
III.1. Tổ chức dạy học bằng sơ đồ tư duy…………………………………………..7
III.2. Sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ..………………………………..10
III.3. Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học bài mới………………………………..11
III.4. Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học……………………….. .12
III.5. sử dụng sơ đồ tư duy để ra bài tập về nhà…………………………………...13
III.6. Sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập kiến thức…………………………………...14
IV. Kết quả đạt được……………………………………………………………. ..17
1. Trước khi áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Lịch sử……………..............17
2. Sau khi áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Lịch sử …………………….....17
C. Kết luận và kiến nghị…………………………………………………………...19
I. Kết luận………………………………………………………………………….19
II. Kiến nghị……………………………………………………………………….19
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………....20
1
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Lịch sử là một trong những môn học đặc thù với chuỗi những sự kiện, diễn
biến, là môn học về “quá khứ”, về những gì đã diễn ra. Nhiệm vụ của sử học là
nhận được sự phản hồi, thu được kết quả rất tốt từ phía học sinh. Tuy vậy, đề tài
2
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự quan tâm góp
ý của bạn bè và đồng nghiệp để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu nhằm những mục đích sau:
- Dạy cho học sinh “học cách học”, từ đó giúp học sinh biết sự kiện – hiểu sự
kiện – nhớ sự kiện, trên cơ sở đó có được sự phân tích, tư duy logic, biết khái quát,
đánh giá và rút ra bản chất của sự kiện một cách chính xác nhất.
- Từ việc nắm vững kiến thức giúp các em biết vận dụng linh hoạt vào việc
giải các bài tập, câu hỏi lịch sử.
- Việc sử dụng sơ đồ tư duy tạo cho các em tính chủ động, tích cực, sáng tạo
trong việc chiếm lĩnh tri thức, từ đó các em tâm lý hứng thú khi học Lịch sử. Thông
qua việc dạy học Lịch sử, giáo dục truyền thống yêu nước, yêu CNXH, xác định
động cơ, thái độ đúng đắn trong quá trình học tập, đặc biệt là trong tình hình hiện
nay.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài này có thể áp dụng được với tất cả các khối lớp và trên thực tế tôi đã áp
dụng với cả 3 khối lớp mà tôi được giao giảng dạy, kết quả mang lại rất khả quan.
Trong khuôn khổ của đề tài tôi chỉ giới hạn nghiên cứu trong 4 lớp 12 mà tôi được
phân công giảng dạy: 12A, 12C, 12D, 12E ở trường THPT Tống Duy Tân – Đây là
đối tượng đang chuẩn bị cho kỳ thi THPT quốc gia. Ngoài ra, đề tài cũng chú trọng
đến đối tượng học sinh khá, giỏi giúp các em có được những kiến thức sâu sắc về
Lịch sử phục vụ cho những kì thi sắp tới.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: để có thể hiểu bài, nắm bắt được các kiến
thức cơ bản, hiểu rõ được bản chất sự kiện, đồng thời có thể vẽ được sơ đồ tư duy
thì điều quan trọng là phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ tài liệu nhất là kiến thức sách
năng tư duy và nhìn nhận vấn đề khác nhau của từng người mà sản phẩm tư duy (sơ
đồ tư duy) sẽ có sự khác nhau.
Việc sử dụng sơ đồ tư duy vào trong quá trình dạy học nhất là dạy học Lịch sử
sẽ huy động tối đa tiềm năng của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực và có tác
dụng hỗ trợ cho các phương pháp dạy học khác. Hơn nữa, việc vận dụng sơ đồ tư
duy trong dạy học sẽ giúp học sinh tự tay ghi chép hay tổng hợp một vấn đề, một
chủ đề đã học, đã đọc theo cách hiểu của học sinh dưới dạng sơ đồ tư duy.
Sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử không giống với sơ đồ địa lý phải đòi hỏi
về kích thước phải đúng tỷ lệ, đúng màu sắc mà cho phép các em thỏa sức sáng tạo,
phát triển thẩm mỹ, khả năng tư duy để chiếm lĩnh tri thức. Đây là phương pháp
không chỉ giúp giáo viên truyền thụ kiến thức tốt mà còn giúp học sinh hiểu bài,
nhớ bài, thuộc bài ngay tại lớp; giúp học sinh tránh được sự căng thẳng, mệt mỏi,
nhàm chán trong các tiết học; làm cho tiết học trở nên sôi nổi, học sinh hứng thú vì
phát huy được tính sáng tạo, tư duy logic, tư duy hệ thống của các em. Bên cạnh
đó, đây cũng là phương pháp hiệu quả trong việc phân loại đối tượng học sinh: học
sinh khá, giỏi sẽ phát huy tốt năng lực và khả năng tư duy độc lập của mình, hiểu
và nắm bài rất nhanh; ngược lại học sinh lười học, ngại suy nghĩ có thể sẽ khó hiểu
bài. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên cũng nên lưu ý đến đối tượng
này.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM
Trong trường phổ thông nói chung và ở trường THPT Tống Duy Tân nói riêng
– nơi tôi đang công tác hiện nay, nói đến môn Lịch sử tâm lí chung của tất cả các
em học sinh là rất sợ sệt, ngại học thậm chí ngay cả đối với một bộ phận nhỏ những
em theo học khối C. Hầu hết các em đều cho rằng đây là một môn học khó nhớ,
khô khan, nhiều số liệu, nhiều sự kiện; môn học của "quá khứ", xa với thực tiễn
mà các em đang sống nên rất dễ nhầm lẫn, khó hiểu và không có nhiều thú vị, các
em hầu như không hứng thú với bộ môn lịch sử. Bởi vậy, khi hỏi đến những sự kiện
lịch sử, nhân vật lịch sử dù là cơ bản hay điển hình nhất nhiều khi các em còn lúng
túng, trả lời sai kiến thức cơ bản. Đặc biệt, tư duy lôgic, mối liên hệ giữa các sự
sau đó đưa ra các ý lớn thứ nhất, ý lớn thứ hai, ý lớn thứ ba… Mỗi ý lớn lại có các
ý nhỏ liên quan với nó và tiếp tục với các ý nhỏ hơn… Các đường nhánh không
nhất thiết phải vẽ bằng đường thẳng, các đường cong sẽ cho cảm giác mềm mại và
dễ nhìn hơn.
Để thực hiện việc lập sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử, tôi có thể tóm tắt
thành các bước như sau:
- Bước 1: Học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hoặc các nhân dựa trên yêu
cầu, gợi ý, hướng dẫn của giáo viên.
- Bước 2: Sau khi thực hiện xong, học sinh hoặc đại diện cho nhóm sẽ lên trình
bày về sản phẩm tư duy của mình.
- Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung kiến thức cho nhau để hoàn thiện sơ đồ
tư duy. Giáo viên lúc này đóng vai trò là trọng tài, là cố vấn giúp các em hoàn thiện
sơ đồ tư duy và dẫn dắt vào kiến thức của bài học.
- Bước 4: Củng cố kiến thức bằng sơ đồ tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn
hoặc bằng sơ đồ tư duy mà cả lớp đã hoàn thiện. Khi củng cố kiến thức, giáo viên
hướng dẫn học sinh hệ thống lại kiến thức bằng sơ đồ tư duy.
7
Hình minh họa cấu trúc sơ đồ tư duy [ 11]
Sơ đồ tư duy luôn là một sơ đồ mở. Mỗi học sinh, mỗi nhóm có thể có cách tư
duy để hoàn thiện sơ đồ một cách khác nhau, giáo viên không nên áp đặt ý kiến chủ
quan của mình. Giáo viên chỉ nên góp ý có học sinh về mặt kiến thức, về đường
nét, về màu sắc hoặc về cấu trúc mà thôi. Đặc biệt, nên khuyến khích những sơ đồ
tư duy ngắn gọn, mạch lạc, trọng tâm và dễ hiểu của các em học sinh. Khi ghi chép
trên bảng, giáo viên cũng nên lựa chọn cách ghi chép bằng sơ đồ tư duy cho dễ
hiểu, dễ nhớ.
Ví dụ: Khi dạy bài 1: “Sự hình thành trật tự thế giới mới sau chiến tranh
hoàn thiện sơ đồ tư duy của mình.
9
III.2. Sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ
Thông thường thời lượng kiểm tra bài cũ trong một tiết học chỉ khoảng từ 5
đến 7 phút, vì vậy giáo viên không nên đưa ra những câu hỏi quá khó như phân tích
hoặc chứng minh.... Tuy nhiên, nếu giáo viên chỉ yêu cầu học sinh lên trả lời câu
hỏi, sau đó tùy vào mức độ thuộc bài của học sinh đến đâu sẽ cho điểm đến đó thì
điều này sẽ dễ dẫn đến tình trạng “học vẹt”. Do đó, trong phần kiểm tra bài cũ, giáo
viên không chỉ kiểm tra phần nhớ bài mà phải chú trọng đến cả phần hiểu bài nữa.
Cách làm này sẽ đánh giá được chính xác học sinh, giúp học sinh hiểu bài, nhớ lâu
kiến thức và nâng cao được chất lượng dạy học, giúp các em có thể làm những bài
tập trắc nghiệm khách quan một cách tốt nhất. Sơ đồ tư duy sẽ giúp chúng ta đánh
giá được cả phần nhớ và phần hiểu của học sinh.
Khi sử dụng sơ đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ, tôi thường sử dụng sơ đồ ở
dạng thiếu thông tin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra mối
quan hệ giữa các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm.
Ví dụ: Khi kiểm tra bài cũ bài 4: “Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ”, mục 3:
Sự ra đời và phát triển của tổ chức ASEAN, tôi sử dụng máy chiếu chiếu bản đồ tư
duy với những điểm còn khuyết thiếu và yêu cầu học sinh lên bảng hoàn thành sơ
đồ tư duy mà tôi đưa ra.
[ 9]
10
Tôi đã dùng sơ đồ này cho hai học sinh lên hoàn thành. Sau khi hoàn thành
xong, cho các em về chỗ, tôi mời học sinh bên dưới đứng lên nhận xét câu trả lời
của từng bạn. Rất nhanh, các em đã hoàn thành được sơ đồ tư duy và nhớ lại kiến
kiến, tôi chỉ đóng vai trò là người cố vấn và sửa những lỗi về mặt kiến thức. Cuối cùng
tôi cùng học sinh hoàn thiện được một sơ đồ tư duy kiến thức theo ý muốn của mình.
Khi các em hoàn thiện và nắm được sơ đồ tư duy về chiến dịch Biên giới thu đông
năm 1950, tôi đã cho các em giải quyết các bài tập trắc nghiệm lần lượt theo các mức
11
độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao đối với cả bài 20 (bài 20 học
trong ba tiết, trong đó mục IV – chiến dịch Biên giới thu đông 1950 là mục học trong
tiết cuối cùng). Kết quả cho thấy, hầu hết các em đều trả lời rất nhanh và chính xác các
câu hỏi ở 3 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp. Câu hỏi mức độ vận dụng
cao khoảng hơn 50% số học sinh (chủ yếu là học sinh khá, giỏi) trả lời được. Đặc biệt,
các em đều rất thích và rất hứng thú khi học theo phương pháp này.
Sơ đồ tư duy về chiến dịch Biên giới thu – đông năm 1950 [ 11]
III.4. Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức bài học
Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong củng cố bài học lịch sử là một cách củng cố
bài học dễ nhớ, dễ hiểu và mạch lạc nhất. Sau bài học, giáo viên có thể cho học
sinh thiết kế một sơ đồ tư duy theo cách hiểu của các em. Mỗi em sẽ có một sự
sáng tạo riêng, một màu sắc riêng.
Giáo viên có thể giao cho học sinh vẽ sơ đồ thiếu nội dung kiến thức cụ thể hoặc
đầy đủ lượng kiến thức của bài học vừa được dạy, cho học sinh hoạt động cá nhân hoặc
nhóm. Tuy nhiên, các thông tin còn thiếu này sẽ bao trùm nội dung toàn bài để một lần
nữa khắc sâu kiến thức và lưu ý đến trọng tâm bài học.
Ví dụ: Khi dạy bài 9: “Quan hệ quốc tế trong và sau thời kỳ chiến tranh
lạnh”, đây là bài học trong hai tiết nên việc củng cố lại kiến thức để các em khắc sâu,
đồng thời có sự kết nối giữa các tiết học là điều cần thiết. Sau khi học sinh đã tự thiết
12
III.6. Sử dụng sơ đồ tư duy để ôn tập kiến thức
Việc ôn tập, tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức theo từng phần, từng mục, từng
bài và từng chương hay từng vấn đề là vô cùng quan trọng, cần thiết, nhất là đối với
các em học sinh khối 12. Với phương pháp thi mới – thi trắc nghiệm thì việc học
sinh nhớ kiến thức, hiểu vấn đề, có tư duy lôgic, vận dụng nhanh để nhìn nhận và
hiểu vấn đề là rất quan trọng. Nhiều giáo viên đã từng sử dụng sơ đồ để hệ thống
hóa kiến thức song phương pháp chủ yếu vẫn là thầy cung cấp, thầy tổng hợp còn
trò tiếp thu một cách thụ động. Với thế mạnh là hệ thống hóa được kiến thức dưới
dạng sơ đồ, các đường nối là mạch diễn tả, mạch lôgic kiến thức hoặc các mối quan
hệ nhân quả, quan hệ tương đương, cộng thêm màu sắc của các đường nối, sơ đồ tư
duy sẽ giúp học sinh có cái nhìn tổng thể, tổng quát cả một phần kiến thức đã học,
đặc biệt các em đóng vai trò trung tâm và chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức.
14
Để sử dụng sơ đồ tư duy trong ôn tập kiến thức một cách hiệu quả, giáo viên
cũng có thể sử dụng linh hoạt theo nhiều cách khác nhau. Giáo viên có thể giao bài
tập cho học sinh về nhà, hướng dẫn học sinh cách làm, sau đó đến tiết ôn tập, củng
cố hoặc đến cuối bài, giáo viên cho các em trao đổi với nhau và đối chiếu với sơ đồ
tư duy mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn. Hoặc, giáo viên cũng có thể đưa ra một sơ đồ
tư duy mở, vẽ các nhánh chính và nhánh phụ… Tuy nhiên, giáo viên không cần
thiết phải đưa ra các nhánh vẽ đầy đủ, chính xác, sau đó yêu cầu các em xây dựng
sơ đồ tư duy. Theo nhận thức của các em, sơ đồ tư duy có thể sửa, thêm hoặc bớt
các thông tin với các nhánh phù hợp. Các cá nhân và các nhóm sau khi chuẩn bị và
các em lên bảng trình bày. Các nhóm khác ở nhận xét về cách trình bày và bổ sung
nếu cần thiết… Trong các tiết ôn tập hoặc đối với những bài giảng dạy trong nhiều
tiết, trong phần ôn tập và củng cố bài, thiết nghĩ đây là cách làm tối ưu để các em
khắc sâu kiến thức, nhớ lâu, hiểu kỹ vấn đề. Đây là phương pháp có thể áp dụng ở
bất kỳ cơ sở vật chất của nhà trường, các sản phẩm tư duy có thể viết trên giấy, trên
mảnh bìa, trên bảng hoặc trên phần mềm mind-map.
học sinh thực sự hứng thú với môn Lịch sử không nhiều.
2. Sau khi áp dụng sơ đồ tư duy vào dạy học môn Lịch sử
* Kết quả chung:
- Qua nhiều năm áp dụng sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử đặc biệt
là đối với học sinh khối 12, tôi nhận thấy rằng việc đổi mới phương pháp dạy học
được kết hợp nhuần nhuyễn trong các tiết học sẽ làm cho học sinh thêm hứng thú,
phát huy hết khả năng tư duy sáng tạo, óc thẩm mỹ của các em.
- Việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử đã khiến cho 100% các em
phải động não, phải suy nghĩ và phải tự mình tập trung để lĩnh hội kiến thức. Mỗi
em có cách tư duy, cách hiểu, cách lập luận, cách vẽ khác nhau. Khi quan sát các
bạn trình bày, tự mình đóng góp ý kiến dưới sự tư vấn, hướng dẫn của giáo viên,
các em có thể tự mình hoàn chỉnh một sơ đồ tư duy khoa học, lôgic, dễ hiểu, dễ nhớ
nhất. Điều quan trọng nhất là các em có thể tự ghi chép theo ý mình và ôn tập ở nhà
để có thể nhớ lâu và khắc ghi kiến thức bài học.
- Trong năm học 2016 - 2017, tôi đã sử dụng sơ đồ tư duy vào hai tiết thao
giảng ở khối lớp 12. Kết quả được nhóm, tổ chuyên môn và các thầy cô giáo đi dự
đánh giá cao và hai giờ đó đều được xếp giờ dạy giỏi cấp trường với số điểm rất
cao.
- Đây là đề tài tôi giới hạn nghiên cứu ở khối lớp 12. Trên thực tế, ngoài khối
12, tôi rất tích cực sử dụng và khai thác sơ đồ tư duy vào giảng dạy trên lớp đối với
các lớp tôi được giao giảng dạy ở khối 10, khối 11 và trong quá trình ôn thi học
sinh giỏi, ôn thi THPT quốc gia. Theo thông tin phản hồi cho thấy các em đều rất
thích thú, nắm bài nhanh, hiệu quả làm bài rất tốt nhất là các bài thi trắc nghiệm.
17
* Kết quả cụ thể
- Đề tài đã được tôi áp dụng trong nhiều năm giảng dạy và thu được kết quả
rất tốt. Giờ học Lịch sử trở nên sôi nổi.
- Năm học 2016 - 2017, tôi được phân công giảng dạy 4 lớp 12 (trên tổng số
đoạn lịch sử một cách phù hợp, đảm bảo nguyên tắc vừa sức, tránh tình trạng ôm
đồm, sử dụng một cách bừa bãi gây nhàm chán cho học sinh.
II. KIẾN NGHỊ
Về phía phụ huynh học sinh: Thường xuyên kiểm tra và đôn đốc việc học tập
ở nhà của các em, tạo điều kiện để các em tích cực chuẩn bị, làm các bài tập và
thực hiện các yêu cầu của giáo viên.
Về phía trường: Hỗ trợ và tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho giáo viên trong
việc áp dụng phương pháp này vào trong thực tiễn dạy học.
Về phía ngành: Hỗ trợ thêm về phương tiện thiết bị nhằm phục vụ tốt hơn cho
công tác dạy học của giáo viên.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG Thanh Hoá, ngày 25 tháng 5 năm 2017
Tôi cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Đỗ Thị Hoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
19
1. Sách giáo khoa Lịch sử 12 – Bộ Giáo dục và đào tạo - Nhà xuất bản Giáo
dục.
2. Sách giáo viên - Bộ Giáo dục và đào tạo - Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng – Lịch sử 12 – Phan Ngọc Liên –
Nguyễn Xuân Trường – Nhà xuất bản giáo dục.
4. Sơ đồ tư duy – Tony Buzan – Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
Minh.
5. Phần mềm Mindmap.
6. Bản đồ tư duy – Phương pháp dạy học hiệu quả - Th.s Nguyễn Thị Thanh
Xuân – DNU.