Sử dụng sơ đồ để củng cố bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học phần văn bản văn xuôi môn ngữ văn lớp 11 - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT CẨM THUỶ 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

SỬ DỤNG SƠ ĐỒ ĐỂ CỦNG CỐ BÀI HỌC NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ TRONG DẠY HỌC PHẦN VĂN BẢN VĂN
XUÔI MÔN NGỮ VĂN LỚP 11

Người thực hiện:
Chức vụ:
SKKN thuộc môn:

Hồ Thị Ly
Giáo viên
Ngữ văn

1


THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC

Nội dung
1.Mở đầu
-Lý do chọn đề tài
-Mục đích nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu
-Phương pháp nghiên cứu
-Những điểm mới của Sáng kiến
2.Nội dung

5
6
6
6
7
7
7
7
7
7
8
9
9
10
10
11
11
13
13
13
14

2


1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài:
Tác phẩm văn học - một bài thơ, một áng văn, một thiên truyện là một
công trình nghệ thuật, thể hiện những nghiền ngẫm, tìm tòi của nhà văn, nhà thơ
về cuộc sống, về con người được diễn tả bằng những hình thức nghệ thuật ngôn

nhà. Chính vì lẽ đó, sau tiết học, nhiều học sinh vẫn chưa nắm vững kiến thức cơ
bản và chưa vận dụng được vào thực tế bài làm của mình.
Bên cạnh đó, nhìn lại chương tình sách giáo khoa Ngữ văn 11-Học kỳ 1 ta
thấy chương trình đã dành một phần lớn dung lượng cho việc học văn bản văn
xuôi. Thực tế là đã có 17 trên 70 tiết là văn bản văn xuôi (trong đó chủ yếu là
truyện ngắn 1930-1945). Tuy nhiên, một vấn đề nảy sinh là cho dù học sinh có
đọc văn bản thì cũng không nắm vững nội dung cũng như đặc sắc nghệ thuật của
3


tác phẩm. Từ đó, học sinh lúng túng trong việc vận dụng kiến thức cơ bản để
làm phần thi đọc hiểu trong yêu cầu của đề thi mới.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, để giúp học sinh nắm vững kiến thức
văn bản văn xuôi và vận dụng nó trong làm văn, tôi đã đã tìm tòi, nghiên cứu và
thực nghiệm khá thành công. Sau đây, tôi xin trình bày một trong những kinh
nghiệm mà tôi đã thực hiện trong 2 năm học gần đây đạt được hiệu quả cao, đó
là:
“Sử dụng sơ đồ để củng cố bài học nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy
học phần văn bản văn xuôi môn Ngữ văn lớp 11”.
1.2. Mục đích nghiên cứu: Đề tài này nhằm mục đích giúp học sinh:
+Xác định được vai trò quan trọng của phần củng cố bài học
+Biết lập sơ đồ củng cố bài học phần văn bản văn xuôi lớp 11 và vận dụng đối
với các văn bản khác
+Nắm vững kiến thức bài học thông qua sơ đồ đã củng cố
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Củng cố bài học phần văn bản văn xuôi lớp 11(học kỳ 1) thông qua sơ đồ
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Để tổ chức được các hình thức củng cố và luyện tập sáng tạo cho học
sinh, tôi đã vận dụng các phương pháp trong dạy học văn theo tinh thần đổi mới
như sau:

trình, sách giáo khoa, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học,
coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn, bổ sung những thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh.....”.
Cùng với việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là đổi mới sách
giáo khoa phổ thông phù hợp với mục tiêu giáo dục quy định trong luật giáo
dục. Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi
mới phương pháp dạy học. Đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định
trong Nghị quyết trung ương 4 khóa VII (Tháng 01 năm 1993), Nghị quyết trung
ương 2 khóa VIII (Tháng 12 năm 1996) được thể chế hóa trong luật giáo dục
(2005) được cụ thể hóa các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt là chỉ thị
số 14 (Tháng 4 năm 1999). Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm,
đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh”.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ – BGD&ĐT ngày 05/5/2006 xác định rõ:
“Môn Ngữ văn ở cấp PTTH nhằm giúp học sinh: Có những kiến thức phổ
thông, cơ bản, hiện đại hệ thống về văn học và Tiếng Việt bao gồm: Kiến thức
về các tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại cơ bản của văn học Việt Nam và một
số tác phẩm, đoạn trích văn học nước ngoài. Những hiểu biết về lịch sử văn học
và một số vấn đề lí luận văn học cần thiết... (cách tiếp nhận và tạo lập). Hình
thành và phát triển các năng lực ngữ văn với yêu cầu cao hơn cấp THCS bao
gồm: Năng lực sử dụng Tiếng Việt (thể hiện bốn kĩ năng cơ bản: đọc, viết, nghe,
nói), năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ, thẩm mĩ, năng lực tự học, năng lực
thực hành ứng dụng.”
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới ra đề thi THPT quốc gia từ năm 2014 của Bộ GD
và ĐT trong đó tăng cường kiểm tra kiến thức cơ bản của học sinh thông qua phần
đọc- hiểu mà theo PGS TS Đỗ Ngọc Thống, Phó Vụ Trưởng Vụ GD Trung học,
Bộ GD&ĐT, để đồng bộ trong đổi mới căn bản toàn diện việc dạy học môn Văn

STT
1
2
3
4
5
6

Tác giả,Tác phẩm
Hai đứa trẻ - Thạch Lam
Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân
Hạnh phúc của một tang gia – Vũ Trọng
Phụng
Chí Phèo – Nam Cao
- Cha con nghĩa nặng (Trích) – Hồ Biểu Chánh
- Vi hành - Nguyễn ái Quốc
- Tinh thần thể dục - Nguyễn công Hoan
Vĩnh biệt cửu trùng đài (Trích Vũ Như Tô) Nguyễn Huy Tưởng

Số tiết theo PPCT
3
3
3
3
2
3

Nhìn vào cấu trúc chương trình Ngữ văn 11 –Học kỳ 1 ta nhận thấy,thời lượng
dành cho phần văn bản văn xuôi cũng khá nhiều.Như vậy mục đích của người
biên soạn là nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về các thể loại văn xuôi cho học

yếu quan tâm đến việc rèn cho học sinh kỹ năng mà chưa chú ý đến việc khắc
sâu kiến thức cho học sinh.Chính vì lẽ đó, mà nhiều giáo viên còn chưa chú
trọng đến việc củng cố bài học cho học sinh sau mỗi tiết dạy của mình.Trong khi
đó kiến thức của phần văn bản thơ thì nhiều (có 17/70 tiết).Học sinh lại chủ yếu
phải sử dụng phần kiến thức này để tham dự kỳ thi THPT Quốc gia khi mà bản
thân các em chưa thực sự vững vàng
2.3. Giải pháp và tổ chức thực hiện
a. Giải pháp
* Về nội dung
Có thể nói, các hình thức củng cố luyện tập trong dạy học tác phẩm văn chương
không thể giống các hình thức củng cố luyện tập trong một giờ học bình thường.
Thực tế, giờ dạy học tác phẩm văn chương không chỉ đem tới thông tin mà
thường kích thích để “bùng nổ thông tin” theo nhiều kiểu, nhiều dạng, nhiều góc
độ. Giờ dạy học tác phẩm văn chương đã có thể kết thúc nhưng những vấn đề về
hình tượng văn học vẫn tiếp tục lung linh phát triển và “nổ vỡ lặng im” trong
7


tâm hồn các em. Chính trong phần củng cố luyện tập, nhiều học sinh đã có
những phát hiện khá lí thú, độc đáo và sáng tạo. Thiết nghĩ trong xu thế đổi mới
phương pháp dạy học văn, cần phải trả giờ văn chương lại cho bản chất giao tiếp
nghệ thuật, định hướng sư phạm cải tiến phải tạo nhiều thời gian cho học sinh
tiếp xúc với bài văn trước, trong và sau khi học để “cuộc giao tiếp im lặng thực
sự diễn ra trong giao tiếp văn chương”.
Đa dạng các hình thức củng cố và luyện tập sáng tạo cho học sinh trong
giờ văn còn để kích thích những rung động tâm hồn, niềm hứng khởi sáng tạo và
khát khao mạnh mẽ của học sinh trước sức hấp dẫn kì diệu mà thế giới nghệ
thuật gợi nên.
Kết thúc phần củng cố luyện tập nhưng suy nghĩ về tác phẩm không đóng
lại mà những vấn đề xung quanh tác phẩm còn mở ra để tạo được “dư âm”, “dư

tác phẩm.
8


Có nhiều hình thức và biện pháp thực hiện thao tác củng cố bài học, ở đây
tôi chỉ xin được nêu ra một số thao tác tiêu biểu sau:
- Tiến hành đọc diễn cảm toàn bộ đoạn trích, tác phẩm
- Tìm hiểu nội dung.
- Nhận xét nghệ thuật.
- Tập so sánh, khái quát lập bảng biểu sơ đồ để khái quát kiến thức cho nội dung
bài học
b. Tổ chức thực hiện:
Sử dụng sơ đồ để củng cố bài học trong giờ học phần văn bản văn xuôi môn
Ngữ văn 11
Trên thực tế dạy học cho thấy học sinh có nắm vững mở rộng và khái quát
được kiến thức hay không một phần lớn phụ thuộc vào bước củng cố của tiết
học. Nếu thầy coi nhẹ bước này, học sinh sẽ không thể nhớ lâu, rất khó vận dụng
vào việc làm các bài tập . Ngược lại thầy coi trọng, kiến thức sẽ đọng lại và ám
ảnh mãi trong các em, tạo nên mối liên hệ kích thích tìm tòi trong sự vận dụng
làm các bài tập ở phần luyện tập được tốt hơn.
Để củng cố bài học đạt được hiệu quả cao chúng ta có thể vận dụng nhiều
cách khác nhau như: Đặt câu hỏi mang tính khái quát để học sinh tổng quát lại
giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật cũng như ý nghĩa của bài học… Song tôi thiết
nghĩ có một biện pháp đạt hiệu quả cao hơn cả đó là dùng bảng phụ có tính Tổng
hợp – so sánh. Cái khó của biện pháp này là thầy cần phải dành thời gian nghiên
cứu kĩ lưỡng để mỗi bài học đưa ra được một sơ đồ có tính Tổng hợp – so sánh,
khái quát toàn bộ kiến thức của bài học. Và để thực hiện được cách làm này thì
giáo viên cần chuẩn bị trước vào bảng phụ hoặc thiết kế vào máy (nếu có), chỉ
đến bước củng cố mới đưa ra sử dụng. Để phát huy tối đa tác dụng của bảng phụ
này thầy có thể dùng kết hợp các biện pháp: hỏi – đáp, diễn giảng, thảo luận,

-Khung cảnh phố
huyện khi đoàn tàu
qua
9


Nghệ thuật:
-Truyện không có cốt truyện đặc biệt là sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình
-Giọng văn nhẹ nhàng điềm tĩnh,lời văn bình dị tinh tế
*Văn bản Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 11-Cơ bản )

Chữ người tử tù
Tình huống
truyện:
-Cuộc gặp gỡ
khác thường giữa
Huấn Cao và
Quản Ngục
-Tình huống vừa
bất ngờ vừa éo le,
góp phần thể hiện
tư tưởng chủ đề
tác phẩm

Nhân vật Huấn
Cao:
-Con người tài hoa
-Con người có khí
phách hiên ngang
-Con người có thiên

-Bút pháp điêu luyện sắc sảo khi dựng cảnh,dựng người
-Ngôn ngữ giàu hình ảnh,vừa cổ kính,vừa hiện đại
*Văn bản Hạnh phúc của một tang gia (Trích :Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng
(Ngữ văn 11-Cơ bản)

Hạnh phúc của một tang gia
Ý nghĩa nhan đề:
-Hạnh phúc: Vui
sướng.
-Tang gia: Đau buồn
->Tạo ra mâu thuẫn
trào phúng và góp
phần thể hiện tư
tưởng chủ đề tác

Niềm hạnh phúc
của tang gia:
-Niềm vui chung:
Cái chúc thư đi vào
thời kỳ thực hành
-Niềm vui riêng:
+Cụ cố Hồng: Khoe
sự già cả của mình

Cảnh đám tang:
-Hình thức:ta,tây,
tàu lẫn lộn
-Người đưa đám:
Khoảng 300
người,phần nhiều

- Quá trình thức tỉnh
Cuộc gặp gỡ với thị Nở: Đã thức
tỉnh Chí Phèo gợi dậy ở anh khát
vọng hoàn lương
Bi kịch bị cự tuyệt

Giá trị hiện thực và giá trị nhân
đạo
-Giá trị hiện thực: Hình ảnh nông
thôn Việt Nam trước cách mạng
tháng Táng qua bức tranh thu nhỏ
của làng Vũ Đại
-Giá trị nhân đạo:
+Đồng cảm,xót thương với nhân
vật Chí Phèo.
+Tố cáo xã hội thực dân phong
kiến.
+Khẳng định ngợi ca phẩm chất
tốt đẹp của Chí Phèo

Nghệ thuật
-Nghệ thuật xây dựng và điển hình hóa nhân vật
-Nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật
-Ngôn ngữ sống động,giọng điệu phong phú,có sự đan xen nhiều loại ngôn ngữ
-Cốt truyện hấp dẫn,kết cấu độc đáo,đầy kịch tính và biến hóa bất ngờ
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua việc tổ chức thực hiện củng cố bài học trong giờ học văn bản văn xuôi
chương trình SGK Ngữ văn 11-học kỳ 1 trong năm học 2015-2016 và 2016-2017 tôi
nhận thấy :
- Đa số học sinh nắm vững kiến thức cơ bản và vận dụng tốt vào việc làm phần đọc –

100% TB
(22,2%) (75,6%) (3,2%) trở lên
11A7
43
0
10
20
13
0
76,7%TB
(23,3%) (46,5%) (30,2%)
trở lên
*Lưu ý: Lớp 11A2: Thực hiện việc củng cố bài học theo sơ đồ
Lớp 11A7: Không thực hiện việc củng cố bài học theo sơ đồ
2. Bài kiểm tra học kỳ II – Năm học 2016 – 2017
Tổng
số
48

Điểm
Ghi chú
Lớp
0-2
3- 4
5-6
7-8
9-10
11A5
0
0

+ Kết thúc phần củng cố những suy nghĩ về tác phẩm không đóng lại mà
những vấn đề xung quanh tác phẩm còn mở ra. Vì vậy phương pháp này cần
được vận dụng một cách linh hoạt thường xuyên đề cập đến những vấn đề mà
học sinh quan tâm và có hứng thú tránh sự nhàm chán.
+ Phát huy tính sáng tạo cho học sinh qua các hình thức củng cố trong
giờ dạy học văn là rất quan trọng cần thiết nhưng giáo viên phải biết định hướng
sự tiếp nhận văn học của học sinh. Dù sáng tạo hay đến mấy, độc đáo đến mấy
vẫn phải tuân thủ tính giới hạn, dựa trên lôgíc và cấu trúc đặc trưng của hình
tượng văn học, ý đồ sáng tạo, tư tưởng của nhà văn và mục tiêu giáo dục.
+ Tổ chức các hình thức củng cố luyện tập sáng tạo cho học sinh còn phải
tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu riêng của mỗi bài học và phù hợp với từng đối
tượng học sinh, tránh sự lặp lại đơn điệu hoặc áp dụng một cách máy móc. Vì
thế cùng với việc lựa chọn khả năng thích hợp đối với từng đối tượng là yêu cầu
vận dụng linh hoạt, uyển chuyển các hình thức, việc làm mới hi vọng tạo ra
hứng thú sáng tạo của học sinh. Để làm tốt khâu này thì người giáo viên cần
phải có một kĩ năng trong việc vận dụng phương pháp dạy học.
- Kiến nghị:
Trên đây là toàn bộ những nội dung sáng kiến kinh nghiệm mà cá nhân tôi
đã tiến hành thực nghiệm trong hai năm học 2015-2016 và 2016-1017, chắc hẳn
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Chính vì vậy, rất mong ý kiến đóng góp bổ
sung của các đồng nghiệp, để sáng kiến có giá trị tốt hơn đối với công tác giảng
dạy, công tác hướng dẫn học sinh ôn tập kiến thức cơ bản nhằm chuẩn bị những
điều kiện tốt nhất để bước vào kỳ thi THPT Quốc gia.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Thanh Hóa, ngày 16 tháng5 năm 2017

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết,không sao chép nội dung của
người khác

13

loại
(Ngành GD cấp
huyện/tỉnh; Tỉnh...)

Kết quả
đánh giá
xếp loại
(A, B, hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

Sở GD và ĐT

C

2015

Sở GD và ĐT

C

2016

bài học nhằm nâng cao hiệu
quả trong dạy học phần văn
bản thơ môn Ngữ văn lớp
2.


-Ứng dụng CNTT: Không
2. Học sinh: Đọc, soạn bài
D. Tiến trình lên lớp:
1. Ổn định tổ chức lớp:
2. Kiểm tra bài cũ:
Hoạt động 1(T :5p)
Trình bày đặc trưng của ngôn ngữ báo chí
3. Bài mới.
Một trong những mảng sáng tác nổi tiếng của Nam Cao là viết về đề tài
người nông dân trước cách mạng tháng tám ... chúng ta có thể kể đến hàng loạt
các tác phẩm như một bữa no , lang rận , trẻ con không được ăn thịt chó ...
nhưng điển hình hơn cả vẫn là tác phẩm chí Phèo . bài học hôm nay chúng ta sẽ
đi tìm hiểu về tác phẩm này .
Hoạt động của GV và HS
Nội dung kiến thức
Hoạt động 1:
I. Tìm hiểu chung
Thời gian :10 phút .
- các tên truyện :
Mục đích : Học sinh tìm hiểu tên
+ . Cái lò gạch cũ : Chưa nói lên được
truyện , nắm được cơ bản về cốt
hết nội dung tư tưởng chủ đề của truyện .
truyện .
+ > Đôi lứa xứng đôi : Hiểu sai lệch về
Hỏi: Phần tiểu dẫn nêu nội dung gì? mục đích nội dung tư tưởng chủ đề của
Hỏi: Em có suy nghĩ gì về việc đổi
truyện .
tên của tác phẩm?
+ . Chí Phèo : Khái Quát hơn và nói lên

- Tuổi thơ bơ vơ, bất hạnh, hết đi ở cho
nhà này đến nhà khác.
GV :Vì sao Chí Phèo phải đi ở tù?
“Trời run rủi, Chí được một anh thả
HS : trả lời
ống lươn nhặt về nhưng anh ta không
nuôi mà cho một bà góa mù. Bà góa mù
nuôi không nổi nên bác phó cối. Tuổi thơ
bơ vơ, hết đi ở nhà này lại đến nhà
khác.”
- Lớn lên: Làm canh điền cho nhà bá
Kiến
- Bản tính: hiền lành, lương thiện, có
ước mơ giản dị, có lòng tự trọng.
GV :Hỏi: ở tù về Chí Phèo là người
+ Chí Phèo là anh canh điền "hiền lành
như thế nào?
như đất làm việc quần quật cho nhà bá
HS : trả lời
Kiến”.
+ Chí Phèo có ước mơ giản dị "có gia
GV :Em có suy nghĩ gì?
đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày
HS : trả lời
thuê, vợ dệt vải".
+ Khi bị bà Ba quỷ quái gọi lên bóp
chân, Chí Phèo "chỉ thấy nhục chứ sung
sướng gì".
* Sau khi ra tù
- Lý do vào tù

- Tính cách
+ Trạng thái: triền miên trong những cơn
say rượu, không tỉnh táo
+ Mối quan hệ và hành động
+>Đến nhà bá Kiến lần thứ nhất
Mục đích: ăn vạ. Hành động: gây gổ,
chửi bới, rạch mặt ăn vạ. Kết quả: Một
bữa no, 5 hào, nghề rạch mặt ăn vạ
-> Thành tên cố cùng, liều thân, chấp
nhận rạch mặt chỉ vì tiền.
+> Đến nhà bá Kiến lần hai
Mục đích xin đi ở tù, hù dọa bá Kiến.
Hành động đến nhà đội Tảo chửi bới, đòi
nợ. Kết quả: 5 đồng, 5 sào vườn
-> Thành tên lưu manh, trở thành tay
sai của bá Kiến. Hắn trượt dài trên con
đường tha hóa, lưu manh hóa
+> Với dân làng Vũ Đại
Chí Phèo là một tên côn đồ, độc ác, hung
hãn, một “con quỷ dữ” ai ai cũng sợ.
“Hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập
nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao
nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước
mắt của bao nhiêu người lương thiện.
- GV hỏi: Với dân làng Chí Phèo đã Hắn biết đâu vì hắn làm tất cả những
có những hành động nào? Trong con việc ấy trong khi người hắn say; hắn say
mắt của người dân thì Chí Phèo là thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai
ai?
hắn làm.”
=> Chí Phèo còn bị tha hóa cả về nhân

sắc của tác phẩm. Hình tượng Chí Phèo
có ý nghĩa điển hình - tiêu biểu cho một
bộ phận cố nông bị lưu manh hóa trước
Cách mạng tháng Tám.

TIẾT 53

II. Đọc - Hiểu văn bản
Hoạt động 1:
1. Nhân vật Chí Phèo.
Thời gian :40 phút .
b. Quá trình thức tỉnh
Mục đích : Học sinh tìm hiểu về * Cuộc gặp gỡ với thị Nở
nhân vật Chí Phèo .
Thị Nở là người đàn bà xấu xí, ngẩn
Hỏi: Việc gặp gỡ Thị Nở có ý nghĩa ngơ, ế chồng. Chí Phèo say rượu đi về
như thế nào đối với cuộc đời Chí
gặp thị Nở gánh nước rồi ngủ quên ngoài
Phèo?
bờ sông. Chúng ngủ với nhau dưới một
HS : trả lời
đêm trăng.
* Diễn biến tâm trạng sau đêm gặp thị
Hỏi: Tác giả miêu tả tâm trạng của
Nở
Chí như thế nào khi gặp gỡ Thị Nở? - Cơ thể có sự thay đổi: Miệng đắng,
HS : trả lời
người bủn rủn, thấy sợ rượu.
- Tâm lí có sự thay đổi: bâng khuâng, mơ
hồ buồn

tâm hồn Chí cứ thế thực sự hồi sinh:
+ Hắn nhớ lại bà Ba bắt hắn bóp chân,
hắn chỉ thấy nhục, hắn nhận rõ sự xấu xa
của mụ.
+ Hắn lại lo lắng cho tương lai “không
thể sống bằng liều lĩnh”. Nghĩa là hắn
bắt đầu ý thức cần phải thay đổi cuộc
sống của mình.
+ Và hắn bỗng khát khao được làm
lương thiện. " Trời ơi hắn thèm làm
lương thiện, hắn muốn làm hoà với mọi
người biết bao"
-> Sự chăm sóc ân cần của thị Nở đã
thức tỉnh linh hồn, thức tỉnh cái bản tính
lương thiện hàng ngày bị che lấp ở Chí.
- Chi tiết bát cháo hành vừa là chi tiết
hiện thực thúc đẩy biến cố tâm hồn Chí
vừa là chi tiết thấm đẫm triết lí trữ tình,
giàu giá trị nhân văn sâu sắc.

Hỏi: Bi kịch bị cự tuyệt làm người
được thể hiện như thế nào?
HS : trả lời
Hỏi: Em có suy nghĩ gì về bi kịch bi
cự tuyệt quyền làm người của Chí
Phèo?
HS : trả lời

* Bi kịch bị cự tuyệt
- Nguyên nhân:

được nhân phẩm. Chí đã nhận ra cuộc
sống mới nhưng không thể trở về được
và đó cũng là lúc Chí nhận thấy mình
cũng không thể quay về sống kiếp sống
thú vật nữa. Miêu tả cái chết của Chí
Phèo, Nam Cao đã cho thấy ẩn sâu trong
Hết tiết 53
tâm hồn những người nông dân tưởng
chừng đã hoàn toàn bị tha hoá vẫn là ý
thức về giá trị làm người là khát khao
lương thiện điều ấy còn mạnh hơn cả cái
chết.
=> Hình tượng Chí Phèo đạt tới nghệ
thuật điển hình xuất sắc về số phận của
người nông dân bị tha hoá, của con
người bị lưu manh hoá. Nó thay Nam
Cao cất tiếng nói tố cáo xã hội vô nhân
đạo, chừng nào còn áp bức bất công thì
còn những con người như Chí Phèo. Thể
hiện tư tưởng nhân đạo, bênh vực quyền
sống của con người.
TIẾT 54
2. Giá trị của tác phẩm
Hoạt động 2:
a. Giá trị hiện thực
Thời gian :40 phút .
+ Dân không quá hai nghìn, xa phủ, xa
Mục đích : Học sinh tìm hiểu giá trị tỉnh.
tác phẩm
+ Có tôn ti trật tự nghiêm ngặt: bá Kiến

đầy đủ nội dung trên. Nhưng nó mới mẻ
và sâu sắc. Đó là:
+ Phát hiện miêu tả phẩm chất tốt đẹp
của người nông dân ngay cả khi họ bị xã
hội thực dân nửa phong kiến tàn ác biến
thành thú dữ.
- GV hỏi: Nêu một số nét nghệ
+. Nam cao không đi vào cảnh sưu thuế
thuật đặc sắc của truyện ngắn Chí mà đi vào bi kịch tinh thần: con người bị
huỷ hoại nhân hình nhân tính , bị cự
Phèo?
tuyệt quyền làm người .
- HS hoạt động độc lập trả lời
3. Một vài nét về nghệ thuật .
- Xây dựng những nhân vật điển hình
- GV chốt kiến thức
vừa có ý nghĩa tiêu biểu vừa sống động,
có cá tính độc đáo và nghệ thuật miêu tả
tâm lí nhân vật sắc sảo.
- Kết cấu truyện mới mẻ, tưởng như tự
do nhưng lại rất chặt chẽ, logic
- Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến
hóa giàu kịch tính.
- Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện
lại gần gũi tự nhiên: Giọng điệu đan xen
biến hóa, trần thuật linh hoạt
+ Nam Cao đã tạo ra giọng điệu trần
thuật độc đáo:
* Kết hợp giữa đối thoại và độc thoại
(Đoạn đối thoại giữa Chí Phèo, Thị Nở,

- Quá trình thức tỉnh
Cuộc gặp gỡ với thị Nở: Đã thức
tỉnh Chí Phèo gợi dậy ở anh khát
vọng hoàn lương
Bi kịch bị cự tuyệt

Giá trị hiện thực và giá trị nhân
đạo
-Giá trị hiện thực: Hình ảnh nông
thôn Việt Nam trước cách mạng
tháng Táng qua bức tranh thu nhỏ
của làng Vũ Đại
-Giá trị nhân đạo:
+Đồng cảm,xót thương với nhân
vật Chí Phèo.
+Tố cáo xã hội thực dân phong
kiến.
+Khẳng định ngợi ca phẩm chất
tốt đẹp của Chí Phèo

Nghệ thuật
-Nghệ thuật xây dựng và điển hình hóa nhân vật
-Nghệ thuật miêu tả và phân tích tâm lý nhân vật
-Ngôn ngữ sống động,giọng điệu phong phú,có sự đan xen nhiều loại ngôn ngữ
-Cốt truyện hấp dẫn,kết cấu độc đáo,đầy kịch tính và biến hóa bất ngờ
22


2.Hướng dẫn về nhà:
-Học bài cũ và chuẩn bị bài mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status