1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
LÊ MẠNH HÙNG
LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO
SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẮC NINH - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
LÊ MẠNH HÙNG
LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO
SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Chuyên ngành
CĐ:
Cao đẳng
CNXH:
Chủ nghĩa xã hội
CSVC:
Cơ sở vật chất
ĐH:
Đại học
GD&ĐT:
Giáo dục và Đào tạo
GDTC:
Giáo dục thể chất
GV:
Giảng viên
RLTT:
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU ĐO LƯỜNG
ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
cm
centimet
m
met
sl
số lần
s
giây
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU..................... 6
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI GDTC VÀ THỂ THAO TRONG NHÀ TRƯỜNG. ............... 6
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT
TRONG TRƯỜNG HỌC. ........................................................................ 9
1.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung công tác GDTC trong các
trường Đại học. ......................................................................................... 9
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN ...................... 47
3.1. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ CHẤT TẠI VIỆN
ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI. ........................................................................ 47
3.1.1. Đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên GDTC của Viện Đại
học Mở Hà Nội. ..................................................................................... 47
3.1.2. Thực trạng nội dung, chương trình giảng dạy và phương pháp
tổ chức giảng dạy của Viện Đại học Mở Hà Nội. ................................... 47
3.1.3. Đánh giá thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ công tác GDTC
của Viện Đại học Mở Hà Nội. ................................................................ 49
3.1.4. Thực trạng sử dụng các bài tập phát triển thể lực chung cho
sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội. ....................................................... 51
3.1.5. Đánh giá thực trạng trình độ TLC cho sinh viên Viện Đại học
Mở Hà Nội. ............................................................................................ 52
3.2. LỰA CHỌN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO SINH VIÊN VIỆN ĐẠI
HỌC MỞ HÀ NỘI. ............................................................................... 58
3.2.1. Căn cứ và nguyên tắc lựa chọn bài tập phát triển thể lực chung
cho sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội.................................................. 58
3.2.2. Tổ chức thực nghiệm. ................................................................... 67
3.2.3. Đánh giá hiệu quả của bài tập đã lựa chọn trên đối tượng
nghiên cứu của hai nhóm ĐC và TN ...................................................... 69
3.2.4. Bàn luận kết quả nghiên cứu......................................................... 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................... 80
1. Kết luận: ................................................................................................. 80
2. Kiến nghị. ................................................................................................ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 82
PHỤ LỤC.................................................................................................... 86
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 3.7.
Phân loại thể lực chung từng chỉ tiêu của sinh viên theo tiêu
chuẩn đánh giá thể lực HS-SV .....................................................55
Bảng 3.8.
Kết quả phân loại thể lực sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội
theo tiêu chuẩn đánh giá thể lực HS-SV.......................................56
Bảng 3.9.
Kết quả phỏng vấn việc cần thiết đưa các bài tập phát triển thể
lực chung cho sinh viên trường Viện Đại học Mở Hà Nội (n=38) 60
Bảng 3.10.
Lựa chọn các bài tập phát triển thể lực theo mức độ ưu tiên (n=38). ...62
Bảng 3.11.
Kết quả kiểm tra thể lực trước thực nghiệm .................................69
Bảng 3.12.
Kết quả phân loại thể lực nam và nữ sinh viên trước thực
nghiệm của hai nhóm ĐC và TN. .................................................77
Bảng 3.13.
PHẦN MỞ ĐẦU
Giáo dục thể chất (GDTC) là bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục
quốc dân, là hình thực hoạt động cơ bản có định hướng của thể dục thể thao
(TDTT) trong xã hội, trong nhà trường. GDTC là bộ phận hữu cơ có mục tiêu
giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), đồng thời là một mặt của giáo dục toàn diện
cho học sinh, sinh viên (HSSV) nhằm đào tạo thế hệ trẻ có năng lực, có phẩm
chất, có sức khỏe, là những con người “phát triển về trí tuệ, cường tráng về
thể chất, phong phú về tinh thần và trong sáng về đạo đức”. Đó là mục tiêu
của Đảng, Nhà nước, Bác Hồ mong muốn đối với thế hệ trẻ trong tương lai.
Để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất (GDTC) theo
tinh thần chỉ thị 36/CT-TW, nghị quyết TW II (khóa VIII), chỉ thị 133/TTg
ngày 14 tháng 3 năm 1995 và hướng dẫn số 17/CV-VPTC của Tổng cục
TDTT, Bộ GD&ĐT đã tiến hành tổng kết đánh giá đúng mức những cố gắng
và thành tích đã đạt được đồng thời chỉ rõ những mặt tồn tại, thiếu sót trong
công tác GDTC và thể thao. [2][3][4]
Với chỉ thị 36/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác
TDTT trong giai đoạn mới đã nêu “Thực hiện GDTC trong tất cả các trường
học, tổ chức hướng dẫn và vận động đông đảo nhân dân tham gia rèn luyện
thân thể hàng ngày”. GDTC trong trường học là thực hiện mục tiêu phát triển
thể chất cho học sinh sinh viên (HSSV) góp phần vào việc đào tạo con người
phát triển toàn diện, thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước. [4]
Giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ là một bộ phận cơ bản trong hệ
thống GDTC nhân dân, trong đó các bài tập thể dục thể thao (TDTT) là một
biện pháp quan trọng nhằm đem lại sức khoẻ cho mọi người và thể chất
cường tráng cho thế hệ mai sau. Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX có viết “Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng cả bề rộng lẫn
chiều sâu, làm cho TDTT thực sự trở thành một phương tiện đại chúng, góp
2
3
được thực hiện theo chương trình quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào
tạo. Tuy nhiên, do điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều hạn chế,
chưa dồi dào, đa số các địa điểm học tập đều phải đi thuê và vị trí của các khoa
nằm cách xa nhau trong khu vực Hà Nội nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến
công tác dạy và học của thầy và trò trong nhà trường và đặc biệt là công tác
GDTC. Tính tích cực và chủ động rèn luyện thân thể của phần lớn sinh viên
còn kèm, nên thể lực chung của sinh viên còn yếu và cần có sự tác động phù
hợp trong các giờ học nội - ngoại khóa thông qua hệ thống bài tập và tổ chức
hoạt động GDTC nhằm từng bước cải thiện thể chất cho sinh viên nhà trường.
Ở Việt Nam mấy chục năm trở lại đây đã có các công trình điều tra cơ
bản nhằm đưa ra các quy luật về sự phát triển thể chất, thể lực tiêu biểu cho
học sinh và vận động viên của tác giả: Lê Bửu và cộng sự (1970); Lưu Quang
Hiệp (1994, 1998, 2000); Dương Nghiệp Chí (2003)...
Vấn đề nghiên cứu thể lực chung cho sinh viên trong các trường đã được
rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Nghiêm Xuân Thúc (1999),
Nguyễn Văn Toán (2001), Vũ Đức Thu (2001-2006)...Những công trình trên
có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao, phát triển thể lực cho các trường THCN
và dạy nghề. Song chưa có công trình nào đi sâu lựa chọn bài tập phát triển
thể lực chung cho sinh viên Khoa Kinh tế - Viện Đại học Mở Hà Nội.
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn đóng góp một phần vào
sự phát triển của Nhà trường, nâng cao chất lượng giảng dạy GDTC cho sinh
viên, chúng tôi mạnh dạn tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Lựa chọn bài tập phát triển thể lực chung cho sinh viên Khoa Kinh tế
- Viện Đại học Mở Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn công
tác giảng dạy giờ học GDTC và thực trạng phát triển thể lực chung của sinh
viên Khoa Kinh tế - Viện Đại học Mở Hà Nội. Đề tài nghiên cứu với mục
đích lựa chọn và áp dụng các bài tập nhằm phát triển thể lực chung cho sinh
vào thực tế giảng dạy tại Viện đại học Mở Hà nội.
5
- Đánh giá hiệu quả của bài tập đã lựa chọn trên đối tượng nghiên cứu.
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI GDTC VÀ THỂ THAO TRONG NHÀ TRƯỜNG.
Thể dục thể thao trong nhà trường vừa là một môn học vừa là một mặt
của giáo dục toàn diện, là một bộ phận của Thể dục, thể thao cho mọi người.
Nó bao gồm Giáo dục thể chất bắt buộc (2 tiết một tuần với học sinh phổ
thông; 150 tiết đối với học sinh sinh viên Đại học, Cao đẳng, Trung học
chuyên nghiệp và dạy nghề) và các hoạt động thể thao ngoại khóa (tự nguyện)
ngoài giờ học (trong nhà trường hoặc ngoài nhà trường) [21]. Giáo dục thể
chất bắt buộc được gọi là giờ thể dục chính khóa hoặc giờ thể dục nội khóa.
Nhiệm vụ và mục tiêu của Thể dục thể thao trường học là nâng cao sức
khỏe, đảm bảo sự phát triển bình thường của cơ thể học sinh; phát triển các tố
chất thể lực và kỹ năng vận động cơ bản của con người; hình thành thói quen rèn
luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và rèn luyện đạo đức, ý chí cho người học. Phát
triển Thể dục thể thao trường học có tầm quan trọng đặc biệt trong việc chuẩn bị
nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những vấn đề nói trên được quy định tại chương II luật Thể dục, thể
thao (Quốc hội khóa 11 thông qua năm 2006) và quy định tại điều 7 Nghị
định 122/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và
thể thao nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam. Phát triển phong
trào Thể dục thể thao quần chúng với mạng lưới cơ sở rộng khắp; Đào tạo
bồi dưỡng đội ngũ vận động viên thành tích cao…Đẩy mạnh hoạt động Thể
dục thể thao ở trường học, tiến tới đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên
Thể dục chuyên trách và lớp học thể dục đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng
cao chất lượng GDTC; Xem đây là một mục tiêu chí công nhận trường chuẩn
quốc gia…Tăng đầu tư của Nhà nước cho việc phát triển TDTT ở trường học,
8
ở nông thôn và miền núi…”.[4]
Trong chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2020
(Ban hành theo Quyết định số 2198/QĐ-TTg ngày 03 tháng 12 năm 2010 của
Thủ tướng Chính phủ) đã nêu rõ về mục tiêu và nhiệm vụ như sau: Mục tiêu
“Chiến lược phát triển thể thao Việt Nam đến năm 2020 nhằm xây dựng phát
triển nền thể dục, thể thao nước nhà để nâng cao sức khỏe nhân dân, góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và tăng tuổi thọ của người dân Việt Nam vì sự
nghiệp dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển”; Nhiệm vụ phát triển
GDTC và hoạt động thể thao trường học: Tăng cường chất lượng dạy và học
thể dục chính khóa: “cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng
kết hợp với thể dục, thể thao với hoạt động giải trí, chú ý nhu cầu tự chọn của
học sinh…”. Phát triển hoạt động thể dục, thể thao ngoại khóa: “Xây dựng các
mô hình câu lạc bộ thể dục, thể thao trường học; khuyến khích học sinh dành
2-3 giờ/ tuần để tham gia hoạt động thể thao ngoại khóa trong các câu lạc
bộ, các lớp năng khiếu thể thao…”.[23]
Tháng 12/2011, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày
01 tháng 12 năm 2011 về công tác TDTT, trong đó xác định mục tiêu và giải
pháp nâng cao chất lượng công tác GDTC và thể thao trong nhà trường đến
1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC THỂ
CHẤT TRONG TRƯỜNG HỌC.
1.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung công tác GDTC trong các
trường Đại học.
Giáo dục thể chất là bộ phận hữu cơ trong mục tiêu giáo dục toàn diện
đối với lực lượng lao động tương lai của đất nước đó là lực lượng có trí thức
phẩm chất, tinh thần và sức khỏe. GDTC trong nhà trường các cấp được hiểu
là: “quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể
chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con
người”. [15]
Đảng và Nhà nước luôn luôn nhất quán về mục tiêu công tác GDTC và
10
thể thao trường học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán
bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hóa xã hội, phát triển hài hòa, có
thể chất cường tráng, đáp ứng nhu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả
năng tiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Căn cứ vào mục tiêu nêu trên GDTC và thể thao
trường học phải giải quyết 3 nhiệm vụ:
- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tập
thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh,
tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất và
bảo vệ nước nhà.
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và
phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số
môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các
phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và
tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội.
- Góp phần duy trì và củng cố sức khỏe, nâng cao trình độ thể lực cho sinh
với đặc điểm sân bãi, đội ngũ cán bộ giảng dạy từng trường Đại học và phù
hợp điều kiện thời tiết ở từng khu vực.
Có thể nhận thấy: Nội dung học tập chính khóa phong phú, song thời
gian học 2 tiết thể dục/ 1 tuần là quá ít. Do đó, muốn đạt hiệu quả giáo dục
cao, cần phối hợp tốt các hình thức GDTC với nhau, đặc biệt cần có nhiều
biện pháp hữu hiệu để nâng cao trình độ chuẩn bị thể lực cho sinh viên.
Nhằm thực hiện mục tiêu trên, công tác GDTC trong trường học các cấp
phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Thời gian tham gia học tập lý thuyết cũng như thực hành theo thời khóa
biểu của chương trình
- Kiểm tra trình độ thể lực,thực hiện được các yêu cầu tiêu chuẩn cấp 4
của tổ hợp “Sẵn sàng và bảo vệ tổ quốc” và nâng cao thành tích thể thao.
- Thực hiện được các bài tập và yêu cầu kiểm tra,kiểm tra lý luận giáo
12
dục thể chất theo chương trình quy định.
1.2.2 Tầm quan trọng của công tác GDTC trong trường học
Công tác GDTC trong trường học chiếm một vị trí quan trọng đối với
quá trình đào tạo đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. [5].
- Giáo dục đạo đức XHCN, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ
luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, tinh thần tự giác học tập
và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc.
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và
phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một
số môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các
phương tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và
tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội.
Các bài tập thể lực được xây dựng phải phù hợp với mục đích, nhiệm vụ
của quá trình huấn luyện, giảng dạy.
Bài tập thể lực được sử dụng để giải quyết nhiệm vụ giáo dục thể chất đáp
ứng nhu cầu thể chất và tinh thần của con người. Vậy, có thể nói bài tập thể lực
chuyên môn là những động tác vận động đặc thù, được lựa chọn và sắp xếp theo
một trình tự hợp lý nhằm phát triển một số tố chất thể lực nào đó. Những động
tác này được các nhà chuyên môn sáng tạo ra một cách có chọn lọc phù hợp với
các nguyên tắc của công tác huấn luyện thể lực cho người tập, nhờ đó mà nhiệm
vụ trong công tác huấn luyện được giải quyết một cách tốt nhất.
Để có thể điều khiển tốt việc sử dụng một cách có trọng điểm các bài tập
phải xác định rõ nhiệm vụ cơ bản trong từng giai đoạn huấn luyện và phải chú
ý tới thời gian ảnh hưởng tối ưu của từng bài tập. Muốn làm được điều đó
trong quá trình huấn luyện cho người tập cần phải nắm vững các vấn đề sau.
1.3.1. Nội dung bài tập thể lực:
Nội dung bài tập thể lực bao gồm các thành phần tạo nên các bài tập đó
14
và các quá trình cơ bản xảy ra trong cơ thể do việc thực hiện bài tập đó tạo
nên. Các quá trình này quyết định tác dụng đối với người tập. Các quá trình
xảy ra trong cơ chế rất phức tạp và đa dạng, có thể được xem xét từ các góc
độ khác nhau như: tâm lý, sinh lý, sinh hoá… Về mặt sinh lý học nội dung bài
tập thể lực là biến đổi trong hoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài
tập làm cho cơ thể chuyển sang một chức năng hoạt động cao hơn so với lúc
yên tĩnh. Nhờ vậy mà có thể hoàn thiện được những khả năng chức phận của
cơ thể. Người ta còn tính cả những biến đổi trước và sau khi thực hiện bài tập,
tuỳ theo đặc điểm bài tập, những biến đổi sinh lý có thể đạt mục đích khá lớn,
Ví dụ: thông khí phổi có thể tăng lên 30 lần, lượng ôxy tăng lên 20 lần, lưu
lượng phút của máu tăng lên 10 lần, kèm theo các quá trình hồi phục và thích
nghi của cơ thể trong và sau lúc thực hiện bài tập. Vì vậy, bài tập thể chất
với mức hoạt động vận động đó đòi hỏi.
Nội dung thay đổi thì hình thức bài tập cũng thay đổi, ví dụ: sức mạnh
hoặc sức bền thay đổi thì biên độ và tần số động tác cũng có thể thay đổi.
Hình thức cũng có ảnh hưởng đến nội dung. Hình thức chưa hoàn thiện
của bài tập sẽ cản trở sự biểu hiện các khả năng tối đa của cơ thể ngược lại,
hình thức hoàn thiện sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả (tối ưu) các năng
lực thể chất. Tính độc lập tương đối của hình thức bài tập thể hiện ở chỗ các
bài tập có nội dung khác nhau có thể hình thức bên ngoài tương tự như nhau
đồng thời các bài tập có nội dung về cơ bản giống nhau lại có thể có những
hình thức khác nhu. [52].
1.3.3. Lượng vận động
Lượng vận động là mức độ tác động của bài tập lên cơ thể người tập.
Lượng vận động bao gồm LVĐ bên trong và LVĐ bên ngoài.
Lượng vận động bên trong là mức độ biến đổi các chức năng của cơ thể
do bài tập gây nên; Lượng vận động bên ngoài là LVĐ do bài tập tác động lên
cơ thể. LVĐ bên ngoài bao gồm: khối lượng vận động và cường độ vận động
Cường độ của lượng vận động
Cường độ vận động được xác định thông qua độ lớn của từng kích thích
16
hoặc thông qua công sản sinh ra khi thực hiện một loạt các bài tập nhất định
trên đơn vị thời gian. Việc quy định cường độ vận động trong thực tế huấn
luyện rất khó khăn phức tạp, trước hết chúng ta cần phân biệt cường độ vận
động và mật độ vận động.
Cường độ vận động liên quan tới các bài tập. Trong đa số các môn thể
thao có thể thực hiện với mức độ dùng sức, tần số động tác và các tốc độ thực
hiện động tác khác nhau. Độ lớn của cường độ quyết định phương hướng ảnh
hưởng của bài tập đối với người tập.
Một bài tập thể lực có thể thực hiện với các cường độ khác nhau. Bởi