Trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, con người luôn chiếm vị trí hàng đầu,
bởi vì chỉ có con người lao động và sáng tạo thì mới có thể thực hiện được mục
tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ là một bộ phận cơ bản trong hệ
thống GDTC nhân dân, trong đó các bài tập thể dục thể thao (TDTT) là một biện
pháp quan trọng nhằm đem lại sức khoẻ cho mọi người và thể chất cường tráng
cho thế hệ mai sau. Trong dự thảo nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có
viết “Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng cả bề rộng lẫn chiều sâu,
làm cho TDTT thực sự trở thành một phương tiện đại chúng, góp phần bảo vệ và
tăng cường sức khoẻ cho nhân dân, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội
của đất nước”. Muốn phát triển phong trào TDTT thì không thể thiếu được vai trò
GDTC trong nhà trường ở các cấp học.
Những năm cuối thế kỷ XX, cách mạng khoa học và công nghệ đạt tới đỉnh
cao của sự phát triển, đòi hỏi con người phải có trí tuệ cao. Trí tuệ phát triển càng
cao, thì đòi hỏi thể chất, nền tảng của trí tuệ, cũng được phát triển một cách tương
xứng. Việc nâng cao sức khoẻ con người, là vấn đề trọng tâm, cốt lõi của mọi mô
hình phát triển của các quốc gia, các chế độ chính trị xã hội. Vì vậy, Đảng và nhà
nước ta luôn luôn coi trọng phát triển thế hệ trẻ theo hướng “ Cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.
Đây là quan điểm phát triển con người toàn diện trong giai đoạn cách mạng
hiện nay. Những năm qua ở nước ta công tác giáo dục thể chất trong các nhà
trường đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Ở tất cả các cấp học, một chương trình giáo
dục thể chất đã được biên soạn thống nhất, với nhiều nội dung cơ bản đã được đưa
vào giảng dạy. Đội ngũ giáo viên giảng dạy thể dục đông về số lượng, chất lượng
cũng được nâng cao.
Để giáo dục con người phát triển toàn diện, mỗi học sinh, sinh viên trước hết
phải có sức khoẻ. Sức khoẻ là cơ sở tiếp thu khoa học kỹ thuật, sau khi ra trường
1
góp phần xây dựng đất nước, cở sở của sức khoẻ là phát triển các tố chất thể lực.
Nhiệm vụ của GDTC trong các nhà trường một mặt trang bị cho sinh viên tiếp thu
lực chung cho nam sinh viên của trường theo đặc thù các chuyên ngành đào tạo.
Thông qua đó nâng cao được chất lượng công tác giảng dạy môn GDTC nói riêng
và chất lượng đào tạo chung của nhà trường.
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài tiến hành giải quyết các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng công tác giảng dạy môn giáo dục thể chất
tại trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà nội.
Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao thể lực
chung cho sinh viên trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà nội.
3
!"#$%&
''(()*+,-./012345/6+,75
!8/1+9:--4;0<=4,=(>-<7'
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập và
làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, mỗi người cần phải học
tập và làm theo những chuẩn mực và tấm gương đạo đức của Người. Trong lĩnh
vực thể dục thể thao, quan điểm “Dân cường thì quốc thịnh” của Người càng có ý
nghĩa sâu sắc và thiết thực. Tấm gương rèn luyện thân thể của Người là một thực
tiễn sinh động, một bài học quí báu để mỗi người trong chúng ta có thể góp phần
mình vào công cuộc xây dựng một dân tộc, một đất nước giàu về vật chất, văn
minh về văn hóa, mạnh mẽ về tinh thần. Đó cũng là một trong những hành động
thiết thực nhằm thực hiện mục tiêu của công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ
cộng hoà ra đời, nhưng dân tộc ta, Đảng ta đứng trước muôn vàn khó khăn thử
thách; giặc ngoài thù trong cùng với giặc đói, giặc dốt, giặc lụt đe doạ chính quyền
cách mạng non trẻ. Giữa lúc công việc bộn bề, nhiều vấn đề cấp bách phải giải
quyết, nhưng chỉ gần 5 tháng sau Lễ tuyên ngôn độc lập, ngày 30 tháng Giêng năm
1946, Người ký Sắc lệnh số 14 về việc lập Nha Thể dục Trung ương trực thuộc Bộ
nước… Dân cường thì quốc thịnh. Tôi mong đồng bào ai cũng gắng tập thể dục”
.
Ngay trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu
nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn có sự quan tâm sâu sắc tới lĩnh vực
quan trọng này. Tại Thủ đô kháng chiến Việt Bắc, ngành TDTT các hoạt động
TDTT vẫn được duy trì. Hồ Chí Minh vẫn luyện tập thường xuyên đồng thời rất
quan tâm đến việc rèn luyện sức khỏe của cán bộ, chiến sĩ.
Đối với thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, muốn
làm chủ nhân tương lai của đất nước phải rèn luyện đạo đức cách mạng; học tập
văn hóa, kỹ thuật chuyên môn, đồng thời phải rèn luyện sức khỏe và thể chất, “có
5
khỏe mạnh mới đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ vào những công việc
ích nước lợi dân”. Từ năm 1958, Người đã chỉ đạo Ủy ban Thể dục Thể thao Trung
ương phát động Phong trào Thể dục, vệ sinh trong học sinh, sinh viên toàn miền
Bắc. Để rèn luyện sức khỏe, sẵn sàng tham gia cách mạng, Người đã chỉ đạo việc
tổ chức phong trào tập luyện 5 môn thể thao vũ trang kết hợp Chạy, nhảy, bơi, bắn,
võ với khẩu hiệu Khỏe để sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Phong trào thi
đua rèn luyện trong các lực lượng vũ trang Vai trăm cân, chân ngàn dặm sẵn sàng
vượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu đã có sự quan tâm sâu sắc của Người,
Đảng và Nhà nước và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Trong những năm kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, khắp các địa phương trên miền Bắc các hoạt động thể dục
thể thao vẫn được duy trì thường xuyên. Khẩu hiệu Khỏe để lao động, chiến đấu,
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã trở thành nếp sống, đi vào cuộc sống sinh hoạt của
đông đảo các tầng lớp nhân dân ngay cả trong những ngày ác liệt của cuộc chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai.
GDTC trong Nhà trường là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hội
chủ nghĩa (XHCN). GDTC có tác dụng tích cực đối với sự hoàn thiện cá tính, nhân
cách, những phẩm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất của học sinh nhằm đào tạo
con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn an ninh, quốc phòng.
định, Thông tư về TDTT, ở từng giai đoạn cách mạng theo yêu cầu nhiệm vụ và
tình hình cụ thể của đất nước
Nghị quyết Đại hội Đảng III viết “… Công tác giáo dục phải được phát triển
theo quy mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nước
nhà, có giác ngộ XHCN, có văn hoá và có khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ nhằm
phục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hoá của nhân dân
lao động…”.
7
Đại hội Đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV, 1976 cũng nêu rõ: “…
Cần nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hoá chương
trình khoa học kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường giáo dục
chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng, bồi
dưỡng kỹ năng lao động và năng lực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, coi trọng đúng
mức giáo dục thẩm mỹ, TDTT và tập luyện quân sự…” [3]
Bước sang thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần thứ
VI đã ghi rõ: “…Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng,
từng bước đưa việc rèn luyện thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân ta,
trước hết là thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học…”
Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm 1996 đã
khẳng định: “…Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sự
trở thành quốc sách hàng đầu…”
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) đã ghi rõ: “…
Việc dạy và học TDTT trong trường học và bắt buộc…” [31]
Để cụ thể hoá các quan điểm chỉ đạo trên, Đảng cộng sản Việt Nam luôn có
những Chỉ thị, Nghị quyết kịp thời đề ra chủ trương đẩy mạnh tiến trình phát triển.
Qua những giao đoạn cách mạng, căn cứ vào những yêu cầu, tình hình và nhiệm vụ
cụ thể, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chỉ thị như:
- Chỉ thị 106/CT-TW ngày 02/10/1958 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
công tác TDTT và Chỉ thị 180/CT-TW ngày 26/08/1970 của Ban bí thư Trung
ương Đảng về tăng cường công tác TDTT trong những năm tiếp theo là một bước
36/CT-TW
- Thông tư số 2896/GDTC ngày 04/05/1995 về việc hướng dẫn chỉ thị
133/TTg
9
- Chương trình mục tiêu “Cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ,
phát triển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao học sinh và sinh viên trong nhà trường
các cấp”
Đến nay, hệ thống tổ chức, quản lý GDTC đã được hình thành và phát triển
trong nhà trường các cấp từ trung ương đến địa phương, khẳng định vị thế quan
trọng của công tác GDTC trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước ta.
'?'@01:-A=4-=(>3B3!8/1=4
/438/C'
1.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung công tác GDTC trong các trường Đại
học.
Công tác GDTC trong trường học chiếm một vị trí quan trọng đối với quá
trình đào tạo đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhằm thực hiện mục tiêu trên, công
tác GDTC trong trường học các cấp phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Giáo dục đạo đức XHCN, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ
luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và
rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc.
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và
phương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số
môn thể thao thích hợp. Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương
tiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các
hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội.
- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể một
cách hài hoà, cân đối, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những tật xấu
trong cuộc sống nhằm sử dụng thời gian vào những công việc có ích, có hiệu quả
Cao đẳng ở nước ta hiện nay.
Chăm lo cho thế hệ trẻ về mọi mặt, là trách nhiệm của toàn xã hội, nhằm đào
tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước. Sự chăm lo về nhiều mặt, trong đó
có mặt quan trọng và tất yếu là chăm lo về sức khoẻ và thể lực, bởi vì sự cường
11
tráng về thể chất, không những là nhu cầu về bản thân mà còn là vốn quý để tạo
những tài sản vật chất và tinh thần cho xã hội.
Ý thức được điều này, từ lâu, ở nước ta đã đưa ra vấn đề GDTC là quốc sách
và duy trì GDTC đại học là bắt buộc đối với sinh viên.
Theo đánh giá của các nhà chuyên môn hiện nay, sức khoẻ, thể lực của sinh
viên trong các trường Đại học Cao đẳng đã khá hơn nhiều so với kết quả điều tra
trước đây. Điều đó đã được chứng minh thông qua đánh giá hiệu quả GDTC sinh
viên bằng đánh giá TĐTL chung và kết quả nhiều công trình nghiên cứu điều tra
tình hình sức khoẻ, thể lực sinh viên.
Theo tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải và Vũ Bích Huệ
[36] thì sinh viên nước ta đến năm 1998, ở lứa tuổi 18 – 22 có chiều cao đứng ở
nam là: 165,16cm, ở nữ là 154,81. So với năm 1996, thì chiều cao đứng của sinh
viên cùng lứa tuổi ở nam là 163,97 cm đến nữ là 153,2 cm. Kết quả đánh giá phát
triển các chỉ tiêu tố chất thể lực cho thấy sinh viên hiện nay TĐTL chung tốt hơn
trước đây. Nằm sấp co duỗi tay ở nữ sinh viên (1998), đạt từ 8 đến 13 lần, cao
hơn hẳn năm 1993, lúc đó nữ sinh viên chỉ đạt từ 4 – 7 lần.
Kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá thể lực sinh viên trường Đại học
Mỏ - Địa chất ( 1989) của Hoàng Công Dân cho thấy, ở Nam chiều cao đứng là từ
157, 0 cm đến 164,5 cm, ở nữ chiều cao đứng từ 152,0 cm đến 153,0 cm và năm
1999 ở nam chiều cao đứng là 163 cm đến 165 cm, ở nữ là 154 cm đến 156 cm.
[27]
Theo Hoàng Thái Sinh (2001) trong đề tài “Đánh giá tiềm năng thể chất và
giải pháp nâng cao thể lực sinh viên Đại học Huế” đã đưa ra kết quả nghiên cứu
một số chỉ tiêu thể lực của sinh viên Đại học Huế năm 1998 là cao hơn năm 1985 :
Chiều cao đứng của nam sinh viên Huế năm 1985 là 162,30cm, nữ là 152,31 cm,
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay. Sức khoẻ, thể lực của sinh viên là
con em dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa chắc chắn còn thấp hơn một mức so
với vùng đồng bằng thành phố, nhất là con em đồng bào dân tộc ít người. Vì vậy,
13
năng lực thể lực của sinh viên đang ở dạng tiềm ẩn, cần có biện pháp thích hợp để
phát huy sự nỗ lực thể chất, nhằm nâng cao trình độ thể lực chung cho họ.
'Q'-RS01HT6+9-4;0RU'
1.3.1. Các quan điểm về phương tiện giáo dục thể lực.
Giáo dục thể lực chung là quá trình nhằm phát triển toàn diện các tố chất thể
lực cũng như khả năng chức phận khác nhau, không đặc trưng cho một hoạt động
riêng biệt nào và tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của quá trình giáo
dục thể lực chuyên môn nhằm phát triển toàn diện năng lực thể chất và làm phong
phú vốn kỹ năng kỹ xảo của VĐV.
Các môn thể thao đều đòi hỏi phát triển toàn diện các tố chất thể lực, cùng
với những tố chất chuyên môn ưu thế phù hợp với đặc điểm từng môn thể thao,
quan hệ giữa các thành tố cơ bản cấu thành năng lực thế lực trong từng môn thể
thao có những nét riêng. Khi đề cập đến giáo dục các tố chất vận động thấy rằng
trong hoạt động chung của con người thì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng và có
mối tương quan chặt chẽ với các tố chất thể lực cơ bản. Các tố chất luôn hiện diện
trong mối tương tác lẫn nhau (không có biểu thị riêng tuyệt đối). Việc nghiên cứu
quan hệ mang tính đặc trung đó của tố chất thể lực trong cá môn thể thao được
nhiều tác giả nghiên cứu như Philin, Novicov và Matveev, Lê Bửu, Nguyễn Thế
Tuyền; Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn…Những năm gần đây khi nghiên cứu sâu
hơn về tố chất thể lực theo 3 dạng cơ bản sức nhanh, sức mạnh, sức bền, phát hiện
có những môn thể thao nằm giữa các loại trên, tức là những môn mang đặc trưng
của 1 loại tố chất chủ đạo nhưng liên quan đến tố chất khác.
Đa số các nhà chuyên môn cho rằng, tố chất thể lực chung phải được phát
triền toàn diện và lâu dài trong suốt quá trình tập luyện.Tuy nhiên với đặc thù của
lứa tuổi sinh viên (18-22 tuổi), các tố chất thể lực phải phát triển theo đặc điểm
riêng, từng tố chất thể lực được phát triển dựa theo tuổi sinh học thời kỳ nhạy cảm,
15
D.Harre (1996) [40], Novicov, L.P Matveev (1990) [44], V.P Philin (1996)
[45], cho rằng: Dù bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đào tạo vận động viên,
công tác huấn luyện thể lực chung được coi là then chốt, bởi thể lực chung cùng
với thể lực chuyên môn được coi là nền tảng của việc đạt thành tích cao…
Theo quan điểm của Gozolin (1986)[30], Nabatnhicova (1985) [41]: Việc
giáo dục tố chất thể lực chung phải là một quá trình liên tục, nhiều năm trong
suốt quá trình đào tạo VĐV. Tùy thuộc vào mục đích của từng giai đoạn huấn
luyện mà tỷ trọng giữa giáo dục thể lực chung và thể lực chuyên môn được xác
định cho phù hợp.
Quá trình giáo dục thể lực là sự phù hợp của các phương tiện (bài tập thể
chất) cũng như các phương pháp sử dụng, trong quá trình giáo dục phải phù hợp
với các quy luật phát triển của đối tượng.
Quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung là một quá trình tác động liên
tục, thường xuyên và theo kế hoạch được sắp xếp hợp lý bằng những bài tập
TDTT nhằm phát triển các mặt chất lượng và khả năng vận động. Quá trình ấy
tác động mạnh mẽ tới hệ thần kinh, cơ bắp cũng như tới các cơ quan nội tạng
của con người. Thông thường, các tố chất thể lực được chia thành 5 loại cơ bản:
Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động
(khả năng khéo léo).
Khi đề cập đến vấn đề thể lực, thì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng và
mang tính trọng tâm. Hoạt động cơ bắp được thể hiện ở 3 phương diện:
- Sự co cơ (phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ và
thiết diện cơ)
- Sự trao đổi chất (tức là các quá trình sản sinh năng lượng)
- Sự dẫn truyền kích thích (hoạt động thần kinh cơ)
Theo tác giả Gozolin (1986)[30], V.P Philin (1996)[45] cho rằng, ba
phương diện trên luôn có mối tương quan với khả năng hoạt động của tố chất thể
16
lực. Đặc biệt, chúng luôn có mối tương quan chặt chẽ với 3 tố chất thể lực cơ bản:
của khả năng vận động, biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất, đồng thời
còn nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng với
các năng lực vận động của người tập nâng cao các yếu tố tâm lý trước hoạt động
đặc trưng của mỗi môn thể thao.
1.3.2. Các cơ sở sinh lý các tố chất thể lực trong hoạt động TDTT
Hoạt động thể lực, nhất là hoạt động thể lực trong TDTT, rất đa dạng và
phức tạp, phụ thuộc vào công suất hoạt động, cơ cấu động tác và thời gian gắng
sức. Mỗi loại hoạt động đòi hỏi cơ thể phải thể hiện khả năng hoạt động thể lực
của mình về mặt nào đó như cử tạ, ném đẩy, chạy bền. Hoạt động thể lực có thể
phát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực. Các mặt khác nhau đó
của khả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất thể lực hay tố chất vận động.
Có 5 tố chất vận động chủ yếu của con người là: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền,
khéo kéo và độ dẻo. Trong bất kỳ hoạt động thể lực nào, các tố chất thể lực cũng
không biểu hiện một cách đơn độc mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau. Đồng thời,
trong phần lớn các môn thể thao hoặc một vài tố chất được thể hiện rõ rệt nhất
quyết định kết quả hoạt động chung.
HK)KRV5/F<K/'
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn
nhất. Sức nhanh như một tố chất thể lực, nó thể hiện ở dạng đơn giản và ở dạng
phức tạp. Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm:
- Thời gian phản ứng
- Thời gian của một động tác đơn
- Tần số của một hoạt động cục bộ
18
Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao
phức tạp khác nhau như chạy 100m, tốc độ đấm trong môn Quyền anh.
Sức nhanh là tố chất tổng hợp của cả 3 yếu tố cấu thành, là thời gian phản
ứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động. Yếu tố quyết định của tất cả
các dạng sức nhanh là độ linh hoạt của các quá trình thần kinh và tốc độ co cơ.
Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh
gọi là ATP aza.
Cơ sở sinh lý của phát triển sực mạnh là tăng cường số đơn vị vận động
tham gia vào hoạt động, đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơ
nhóm II có khả năng phì đại cỡ lớn. Có nhiều cơ chế sinh lý trong đó có những cơ
chế quan trọng nhất gồm có:
- Tăng số lượng đơn vị vận động được động viên trong các cơ chủ vận.
- Ức chế hoạt động của các cơ đối kháng
- Truyền đến cơ những xung động thông qua hệ thần kinh giao cảm
- Lực tăng cơ tối đa phụ thuộc vào số lượng sợi cơ.
Các yếu tố thần kinh trung ương điểu khiển sự co cơ và sự phối hợp hoạt
động giữa các cơ trước tiên và khả năng chức năng của nơron vận động, tức là mức
độ phát xung động với tần số cao.
Trong quá trình tập luyện sức mạnh, các yếu tố thần kinh trung ương được
điều chỉnh dần, nhất là khả năng phối hợp giữa các nhóm cơ của thần kinh trung
ương, các yếu tố này làm tăng cường sức mạnh chủ động tối đa đáng kể.
HK)KRV5/F<KT9
Sức bền là năng lực chống lại mệt mỏi của cơ thể trong vận động kéo dài.
Những vấn đề quan trọng nhất của sức bền là:
- Năng lực làm việc của hệ thống tim mạch.
20
- Quá trình trao đổi chất (đủ ôxy và thiếu ôxy)
- Khả năng tiết kiệm năng lượng
- Các phẩm chất tâm lý chuyên môn.
Sức bền có ý nghĩa đặc biệt đối với thành tích thi đấu của nhiều môn thể
thao, là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt với khả năng chịu đựng lượng vận động của
người tập.
Phát triển tốt sức bền là tiền đề cần thiết cho khả năng hồi phục nhanh chóng
sau các lượng vận động lớn. Căn cứ vào các yêu cầu thi đấu sức bền được phân
thành: Sức bền cơ sở và sức bền chuyên môn.
- Sức bền cơ sở là năng lực của người tập nhằm chống lại mệt mỏi trong các
hiện về khả năng về sức mạnh ở cấu trúc động tác, làm tăng khả năng tiết kiệm
năng lượng.
Năng lực mềm dẻo được phân thành hai loại: Mềm dẻo thụ động và mềm
dẻo tích cực.
- Mềm dẻo thụ động: Độ dẻo có được là nhờ tác động của ngoại lực là trọng
lực của cơ thể
- Mềm dẻo tích cực: Độ dẻo được tạo nên bởi sự gắng sức, nỗ lực của chính
bản thân người tập.
Năng lực mềm dẻo kém phát triển sẽ làm hạn chế kết quả tập luyện, thể hiện
thời gian học và hoàn thiện kỹ năng, động tác bị kéo dài, thậm chí kỹ thuật động
tác không hoàn thiện được. Thiếu mềm dẻo các năng lực về sức nhanh, sức mạnh,
sức bền và khả năng phối hợp vận động bị hạn chế. Điều đó có nghĩa là tốc chất
mềm dẻo ảnh hưởng trực tiếp đến sự thể hiện tiềm năng của nhiều tố chất thể lực
cơ bản.
22
Phương pháp chính để phát triển năng lực mềm dẻo là phương pháp kéo
giãn cơ và dây chằng. Người ta thường sử dụng phương pháp này dưới các hình
thức sau:
- Kéo giãn trong thời gian dài. Duy trì sự kéo giãn các nhóm cơ và dây
chằng trong nhiều giây tới khi có cảm giác đau dần tới hạn chịu đựng. Thông
thường mỗi bài tập kéo giãn cần duy trì từ 10-20 giây và lặp lại bài tập đó 3-4 lần.
- Tăng sự đàn hồi khi kéo giãn tới khi đạt được mức tối đa, bằng các động
tác lăng đơn giản. Ví dụ: Lăng chân phía trước, phía sau, phía bên hoặc đè ép theo
dạng đàn hồi cho tới khi các nhóm cơ bị kéo giãn được biên độ lớn nhất.
- Kết hợp các động tác kéo giãn bằng đá lăng với việc dừng lại ở vị trí cao
nhất của đá lăng. Ví dụ: Lăng chân phía bên từ 6-8 lần sau dừng lại ở vị trí cao
nhất từ 3-5 giây lặp lại bài tập đó từ 5-6 lần
Phát triển độ dẻo có thể bằng các bài tập tay không, với dụng cụ hoặc trên
các dụng cụ thể dục. Tăng biên độ động tác ngoài ngoại lực, còn vận dụng nội lực
của chính cơ bắp người tập. Tố chất này cũng phát triển có hiệu quả nếu sử dụng
ra. Cần sử dụng các phương tiện tập luyện, nhằm phát triển chức năng của các cơ
quan phân tích, các cơ quan phân tích là một phần của hệ thống thần kinh cơ được
gọi là một bộ phần của “thực thể sinh lý” của khả năng phối hợp vận động.
Cần sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao yêu cầu về phối hợp vận động
của các bài tập thể chất. Sau đây là một số biện pháp chính:
- Đa dạng hóa việc thực hiện động tác. Ví dụ: Có thể thay đổi các giai đoạn
của động tác;
- Thay đổi điều kiện bên ngoài. Thực hiện động tác trong điều kiện nâng cao
độ khó của môi trường;
- Phối hợp các kỹ thuật kỹ xảo với nhau;
24
- Thực hiện động tác với yêu cầu thời gian. Ví dụ: phải thực hiện động tác
trong một thời gian ngắn nhất (tuy nhiên phải đảm bảo độ chính xác)
- Thay đổi việc thu thập thông tin. Việc thu nhận và xử lý các thông tin về
thị giác, thính giác, xúc giác, thăng bằng và cảm giác cơ bắp có ý nghĩa đặc biệt
nhằm điều khiển vận động.
Các phương pháp phát triển năng lực phối hợp vận động rất phong phú, có
thể phối hợp chúng với nhau hoặc thực hiện một cách có trọng điểm từng phương
pháp. Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căn cứ vào đặc điểm của
từng năng lực cần phát triển. Cần thường xuyên nâng cao mức độ khó về phối hợp
vận động của các bài tập vì chỉ có nâng cao kích thích đối với cơ thể mới tạo được
trình độ thích ứng cao hơn.
'P'@016;3C1:A3=(>3BZ;4/+,:
8,G
Trường đại học dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội được thành lập tháng
6 năm 1996. Do mở rộng mục tiêu đào tạo sang lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ,
Trường được đổi tên thành Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội kể
từ tháng 5 năm 2006. Trường là một tổ chức hợp tác của những người lao động trí
óc, tự nguyện góp sức, góp vốn để xây dựng và phát triển Trường bền vững, vì
mục đích đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, không vì mục đích lợi nhuận.