Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng theo pháp luật việt nam - Pdf 36

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lề TH MAI HNG

HIệU LựC CủAHợP ĐồNG BảO LãNH VAYVốN NGÂN HàNG
THEO PHáP LUậT VIệT NAM

LUN VN THC S LUT
HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lề TH MAI HNG

HIệU LựC CủAHợP ĐồNG BảO LãNH VAYVốN NGÂN HàNG
THEO PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT
HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS Lấ TH THU THY

H NI - 2015


1.2.

Đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng................... 16

1.2.1. Về chủ thể tham gia quan hê h ̣ ợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân......... 16
hàng
1.2.2. Về nội dung của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hang ................... 22
1.3.

Các trƣờng hợp hơp đồng bảo lanh vay vốn ngân hàng vhiệu .... 26 ô

1.4.

Hiêu lƣc của hơp đồng bảo lãnh trong quan hê ̣với hiêu lƣc
của hợp đồng tín dụng...................................................................... 29

1.4.1. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng........................................................ 29
1.4.2. Mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng bảo lãnh vay vốn với hợp
đồng tín dụng ...................................................................................... 31
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 38
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ HIỆU
LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH VAY VỐN NGÂN HÀNG... 39
2.1.

Các quy định của pháp luật Việt Nam về hiệu lực của hợp
đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng................................................... 40

2.1.1. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng ......... 40



DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
B LDS :

Bộ luật dân sự

BLNH:

Bảo lãnh ngân hàng

ICC:

Phòng Thương mại Quốc tế

NHNN:

Ngân hàng Nhà nước

TCTD:

Tổ chức tín dụng

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn
UNCITRAL:

Công ước Liên Hiêp Quốc
về Hơp đồng
̣


lưu thông và thúc đẩy nguồn vốn trong xã hội. Đặc biệt, các quan hệ bảo đảm tiền
vay trong ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo nguồn
vốn hoạt động của ngân hàng. Các biện pháp bảo đảm này tạo cơ sở để ngân
hàng có thể thu hồi vốn vay và bảo đảm sự an toàn trong hợp đồng vay vốn, hạn
chế hiện tượng phá sản ngân hàng.
K h i n ó i đ ến các b i ện p h áp b ảo đ ả m t i ền v a y n ó i ch u n g v à b ảo l ãn h
vay vốn ngân hàng nói riêng, thì đây không phải là vấn đề mới và thậm chí p
h áp l u ật n ư ớc t a đ ã có rất n h i ều cá c q u y đ ị n h n h ằ m n ân g c ao h i ệu q u ả h o ạ
t đ ộ n g củ a cá c n g ân h àn g cũ n g n h ư n ân g cao h i ệu q u ả củ a p h áp l u ậ t v ề kinh
doanh thương mại, ví dụ như: Bộ luật Dân sự 2005, Luật các tổ chức tín dụng
năm 2010, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về Giao dịch bảo đảm... T u y n h i ên , t
ro n g q u á t rì n h t h ự c h i ện , p h áp l u ậ t v ề b ảo l ãn h v a y v ố n n g ân h à n g đ ã b ộ c l ộ
n h i ề u t h i ế u s ó t l à m c h o c á c h ợ p đ ồ n g n à y k h ô n g t h ực h i ệ n được dẫn đến
việc hiểu sai bản chất hoặc kiện tụng giữa các bên, không đ á p ứ n g đ ư ợ c yê u
c ầ u k h á c h q u a n c ủ a n ề n k i n h t ế , g â y c ả n t r ở c h o s ự p h á t triển lành mạnh của
môi trường kinh doanh.
Để có cái nhìn tổng thể về cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoạt động bảo
lãnh vay vốn đặc biệt là về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân
hàng, từ đó có thể đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh tại
ngân hàng trong điều kiện phát triển hiện nay, tác giả đã lựa chọn đề tài:

1


"Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng theo pháp luật Việt
Nam" nhằm phân tích những đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân
hàng và hiệu lực của hợp đồng này, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các
biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng trên thực tế, cũng như
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
Với mong muốn nghiên cứu pháp luật về hiệu lực hợp đồng bảo lãnh

sản bảo đảm của bên đi vay nợ.
- Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận
án Tiến sĩ Lê Minh Hùng, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010. Nghiên cứu về chế
định hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng, so sánh chế định hợp đồng của Việt
Nam với các nước trên thế giới để đưa ra những bất cập của pháp luật nước ta
khi quy định về vấn đề này, tác giả thấy đây chính là cơ sở để nghiên cứu sâu
rộng hơn nữa về hiệu lực của hợp đồng, trong đó có hợp đồng bảo lãnh vay
vốn ngân hàng.
- Pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín dụng, thực trạng và
phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học Nguyễn Thị Minh Chi;
TS. Phạm Thị Giang Thu hướng dẫn - Hà Nội, 2004. Luận văn này nghiên
cứu về biện pháp bảo lãnh trong thực hiện hợp đồng tín dụng, tuy có nhiều
sáng kiến về các biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề
này, tuy nhiên tác giả nhận thấy luận văn chưa làm nổi bật tính chất "đối
nhân" theo như Bộ luật Dân sự 2005 quy định.
- Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động ngân hàng: Luận văn
thạc sĩ luật học Nguyễn Thị Thảo; TS. Phạm Công Lạc hướng dẫn - Hà Nội,
2006. Nêu lên quá trình thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong hoạt động của các
ngân hàng, đồng thời nêu lên những khó khăn, vướng mắc và đưa ra những
biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong quá trình thực hiện biện pháp này.
Tuy nhiên, luận văn này chưa nêu rõ về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh và
cũng chưa làm nổi bật hệ quả nếu như hợp đồng này vô hiệu.

3


- Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín
dụng của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2006) - Đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp Đại
học Quốc gia. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Lê Thị Thu Thủy
cùng các tác giả tham gia nghiên cứu đã đề cập một cách có hệ thống những

biệt luận văn phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về hiệu lực của hợp đồng
bảo lãnh vay vốn ngân hàng trên thực tế, từ đó tìm ra các bất cập và nêu ra kiến
nghị hoàn thiện pháp luật phù hợp về vấn đề này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để phù hợp với yêu cầu và phạm vi hạn hẹp của một luận văn thạc sỹ
luật học, tác giả không có tham vọng nghiên cứu một cách toàn diện các quy
định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng nói
chung. Luận văn chỉ dừng lại ở một mức độ nghiên cứu nhất định, cụ thể là: Chỉ
nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất về hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân
hàng và hiệu lực của hợp đồng này. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng pháp
luật Việt Nam về vấn đề hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng,
luận văn đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về
hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công luận văn này, tác giả đã sử dụng một cách
đồng bộ và tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học. Trước hết đó là
phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài phương pháp
nghiên cứu có tính chất lý luận cơ bản này, tác giả cũng đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu truyền thống khác, nhất là phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh. Những phương pháp này giúp tác giả tiếp cận các đối
tượng nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học, đảm bảo tính hiệu quả của quá
trình nghiên cứu.

5


5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ vấn đề hiệu lực của hợp đồng
bảo lãnh vay vốn ngân hàng theo pháp luật ở Việt Nam, trên cơ sở đó tìm ra

vốn ngân hàng theo pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, phân tích thực tiễn thi hành pháp luật Việt Nam về hiệu lực
của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng dựa trên thực tế các vụ án kinh tế từ
Toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân Tối cao.
Thứ ba, đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng và đảm bảo hiệu lực của
hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng bảo lãnh vay
v ố n n g ân h àn g v à h i ệu l ự c củ a h ợp đ ồ n g b ảo l ãn h v a y v
ố n n g ân h àn g .
Chương 2: Thực trạng pháp luật của Việt Nam về hiệu lực của hợp
đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hiệu lực
của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng ở Việt Nam.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH
VAY VỐN NGÂN HÀNG VÀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
BẢO LÃNH VAY VỐN NGÂN HÀNG
Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, việc cho ra đời thiết
chế về giao dịch bảo đảm đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho các
hoạt động tín dụng nói riêng và cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung,
góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các
tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không

được thực hiện khi lựa chọn khách hàng, các biện pháp ngân hàng áp dụng
trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay và các biện pháp được tiến hành
trong trường hợp phát sinh nợ quá hạn. Thực chất, đó là những biện pháp
phòng ngừa rủi ro tín dụng, là cơ sở pháp lý cũng như cơ sở kinh tế cho việc
thu hồi các khoản vay [38].
Cùng với các biện pháp bảo đảm bằng tài sản như cầm cố, thế chấp,
bảo lãnh được sử dụng khá phổ biến trong các giao dịch vay vốn tín dụng.
Biện pháp này đang ngày càng phát huy những ưu thế của mình trong việc
xác lập các giao dịch dân sự và thương mại. Bộ luật Dân sự 2005 với những
thay đổi đáng kể đã tác động rất lớn đến việc thực hiện, xác lập và chấm dứt, hay
nói cách khác là nói đến hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng,
góp phần không nhỏ đáp ứng nhu cầu huy động vốn của các chủ thể cũng như
đảm bảo an toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng.
1.1. Khái niệm về hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng
Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định ở Việt
Nam, giao dịch bảo đảm được định nghĩa là hợp đồng mà theo đó một bên (gọi
là bên bảo đảm) cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo đảm) về việc sẽ
thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ cụ thể đối với bên có quyền, nếu

9


đến hạn mà nghĩa vụ hoặc các nghĩa vụ đó không được người có nghĩa vụ
thực hiện (Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm). Giao dịch bảo đảm có
nhiều loại khác nhau như: giao dịch cầm cố, giao dịch thế chấp, nhưng phổ
biến nhất vẫn là giao dịch bảo lãnh. Đây cũng là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ
được áp dụng tương đối nhiều trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín
dụng đối với khách hàng.
Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm truyền thống, sớm được sử dụng

hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo
lãnh), nếu đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về
việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình [31, Điều 361].
Theo quy định này, khái niệm bảo lãnh một mặt đề cập đến hành vi bảo
lãnh (là hành vi cam kết của bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện thay nghĩa vụ
của bên có nghĩa vụ nếu nghĩa vụ này bị vi phạm) nhưng mặt khác cũng đề
cập đến giao dịch bảo lãnh giữa các bên liên quan trong đó có nhấn mạnh đến
yếu tố thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch. Theo quy định của BLDS
năm 2005, bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự do bất
kỳ chủ thể nào có năng lực pháp luật và năng lực hành vi cam kết thực hiện
thay nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh (bên có nghĩa vụ) mà không đưa ra bất kỳ
tài sản nào để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, điều này càng thể
hiện rõ hơn trong Nghị định 163/2006/NÐ-CP, theo đó, bên bảo lãnh và bên nhận
bảo lãnh có thể thỏa thuận ký kết hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản (thuộc sở
hữu của bên bảo lãnh) để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của bên
bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh.
Bảo lãnh được phân ra làm hai hình thức dựa vào tính chất và đối tượng
bảo lãnh là: Bảo lãnh đối nhân và bảo lãnh đối vật. Trong đó, bảo lãnh đối
11


nhân được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi tài sản trong dân sự, bảo lãnh
đối vật được áp dụng trong các quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự có yếu tố
tài sản. Trong khi đó, đối tượng của bảo lãnh là sự cam kết bằng uy tín, bằng
lòng tin của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ, tài sản chỉ xuất hiện mang tính chất kèm theo uy tín, lòng tin, do đó
bảo lãnh có cả đặc tính của "đối nhân" và "đối vật". Khi bên bảo lãnh dùng tài
sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ thì có nghĩa rằng, bên bảo lãnh đã đưa tài

bảo đảm này hoàn toàn bằng không, "nó" không thuộc về quan hệ tài sản, cũng
chẳng phải là quan hệ nhân thân phi tài sản, điều này không giống với bảo
lãnh, bởi lẽ trong quan hệ về bảo lãnh, người ta vẫn hiểu là bảo lãnh phải dựa
trên cơ sở tài chính để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.
So sánh với Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) về biện pháp bảo lãnh thì ta
thấy, những quy định về hình thức và đối tượng của quan hệ bảo lãnh trong
Bộ luật này hầu như không có gì thay đổi, tuy nhiền, trong Bô ̣ luâṭ dân sự sử
đổi có phân ra môṭ cach rac h ̣ ròi hơn về cac hinh thức là bao lanh bằng uy tin
hay bảo lãnh bằng tài sản, hay nói cách khác làcóthiên hướng quy điṇh giống
Bô ̣ luâṭ Dân sự 1995.
Có ý kiến cho rằng: Việc dùng uy tín, chứ không phải tài sản để bảo
lãnh thực chất chỉ là quan hệ dân sự, chứ không phải quan hệ pháp luật. Nếu
coi đây là quan hệ pháp luật, thì sẽ tạo thành cạm bẫy pháp lý cho những
người liên quan trong giao dịch. Bảo lãnh chỉ khác với cầm cố, thế chấp ở chỗ,
không có tài sản cụ thể được đưa vào để bảo đảm cho nghĩa vụ. Bởi vì, nếu có
một tài sản cụ thể được chỉ đích danh dùng để bảo đảm nghĩa vụ, thì đó sẽ làm
cầm cố hoặc thế chấp. Khẳng định điều này, Luật sư Trần Minh Hải trong một
nghiên cứu của mình đã cho rằng, bảo lãnh bản chất luôn luôn là bằng tài sản.
Bởi vì, để bảo đảm cho một nghĩa vụ tài sản, thì đương nhiên phải dùng một
biện pháp bảo đảm có giá trị bằng tài sản. Khi một bên chấp

13


nhận biện pháp bảo lãnh của bên thứ ba để bảo đảm cho nghĩa vụ là họ đã
nhìn vào túi tiền, nhìn vào tài sản của bên nhận bảo lãnh với ước lượng chắc
chắn về khả năng bên bảo lãnh sẽ phải dùng một phần tài sản để thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh nếu phát sinh [17].
Lại có quan điểm cho rằng: Bảo đảm tiền vay chỉ là việc yêu cầu khách
hàng vay có tài sản hữu hình để đối ứng với món vay của mình. Song thực tế

bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên vay vốn (bên được bảo
lãnh) nếu khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không trả được một phần hay
toàn bộ nợ vay (bao gồm nợ gốc, lãi và tiền phạt quá hạn) cho bên nhận bảo
lãnh. Đây là quan hệ đối nhân, theo đó, bên bảo lãnh sử dụng uy tín của mình
để bảo lãnh cho người vay vốn. Tài sản của bên bảo lãnh chỉ bị xử lý khi đã đến
hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện các cam kết đã
thỏa thuận với bên nhận bảo lãnh.
Từ những sự phân tích trên, ta có thể rút ra định nghĩa về hợp đồng bảo
lãnh như sau: "Hợp đồng bảo lãnh là sự thỏa thuận giữa ba bên chủ thể (bên
nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh) hoặc giữa hai bên (bên
nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh), theo đó bên bảo lãnh (tổ chức, cá nhân) cam
kết với bên có quyền (ngân hàng cho vay) về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho bên
được bảo lãnh (khách hàng vay vốn) trong trường hợp khách hàng không trả
được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho bên nhận bảo lãnh".
Như vâỵ , so sanh với khai niêm về bao lanh đã nêu ở môṭ số Quốc gia
cũng như Công ước quốc tế , thì quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về bao lanh cung có những điểm chung phù hơp với thông lê ̣quốc tế về viêc ̣
dùng uy tín để bảo lãnh , tuy nhiên , ở nước ta còn có luật chuyên ngành là
Luâṭ Ngân hang , Luâṭ cac tổ chức tin dung và những văn ban dưới luâṭ trưc
tiếp điều chỉnh vềbảo lãnh trong linh vưc ngân hàng , theo đó, người bảo lãnh
phải cam kết dùng tài sản của mình để bảo lãnh cho người được bảo lãnh , đây
là nội dung chủ yếu sẽ được phân tích trong luận văn này.

15


1.2. Đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng
1.2.1. Về chủ thể tham gia quan hê h ̣ ợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng
Bảo lãnh là một hình thức bảo đảm gián tiếp nhưng được sử dụng khá
phổ biến. Nó mang ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng và khuyến khích

khả năng tài sản của người bảo lãnh, vì trong trường hợp nghĩa vụ tài sản
không được người được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ, thực hiện không đúng,
người bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay bằng tài sản của mình.
Tóm lại, bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm có những đặc điểm chung
của biện pháp bảo lãnh trong giao dịch dân sự, đồng thời cũng có điểm đặc thù
xuất phát từ đặc trưng, tính chất của hoạt động ngân hàng. Đặc điểm này quyết
định tới việc xây dựng pháp luật về bảo lãnh trong hoạt động của ngân hàng.
Hiểu đúng bản chất pháp lý của quan hệ bảo lãnh là cơ sở để thiết lập cơ
cấu chủ thể của một hợp đồng bảo lãnh. Về mặt lý thuyết, hợp đồng bảo lãnh
thông thường được ký kết bởi ba bên: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh (chủ
yếu là TCTD) và bên được bảo lãnh, các chủ thể này phải đảm bảo một
trong các tiêu chí sau:
- Có uy tín,
- Phải chứng minh được năng lực tài chính để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ thay cho bên được bảo lãnh khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực
hiện được nghĩa vụ.
Chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh bao gồm ba bên trong quan hệ nghĩa vụ
chính là TCTD - bên nhận bảo lãnh, khách hàng - bên được bảo lãnh và bên
bảo lãnh (bên thứ ba). Tuy nhiên, việc tham gia ký kết của bên được bảo lãnh
không phải là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp đồng bảo lãnh, bởi lẽ,
cam kết bảo lãnh của bên bảo lãnh cần phải được nhìn nhận như là cơ sở ban
đầu để xác lập hợp đồng bảo lãnh. Nếu bên nhận bảo lãnh không chấp nhận thì
quan hệ bảo lãnh không thể được xác lập. Về vấn đề này, pháp luật Nhật Bản
cũng có quy định tương tự "Nghĩa vụ bảo lãnh được hình thành

17


trên cơ sở hợp đồng bảo lãnh. Các bên của hợp đồng bảo lãnh là người bảo
lãnh và chủ nợ của người mắc nợ khác" [50, tr.427].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status