Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng theo pháp luật việt nam - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lề TH MAI HNG

HIệU LựC CủA HợP ĐồNG BảO LãNH VAY VốN NGÂN HàNG
THEO PHáP LUậT VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lề TH MAI HNG

HIệU LựC CủA HợP ĐồNG BảO LãNH VAY VốN NGÂN HàNG
THEO PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS Lấ TH THU THY

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng ................... 16

1.2.1. Về chủ thể tham gia quan hê ̣ hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân .........
hàng 16
1.2.2. Về nội dung của hợp đồng bảo lãnh vay vố n ngân hàng ................... 22
1.3.

Các trƣờng hợp hơ ̣p đồ ng bảo lãnh vay vố n ngân hàng vô
hiệu .... 26

1.4.

Hiêụ lƣ̣c của hơ ̣p đồ ng bảo lãnh trong quan hê ̣với hiêụ lƣ̣c
của hợp đồng tín dụng...................................................................... 29

1.4.1. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng ........................................................ 29
1.4.2. Mối quan hệ hiệu lực giữa hợp đồng bảo lãnh vay vốn với hợp
đồng tín dụng ...................................................................................... 31
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 38
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ HIỆU
LỰC CỦA HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH VAY VỐN NGÂN HÀNG ... 39
2.1.

Các quy định của pháp luật Việt Nam về hiệu lực của hợp
đồng bảo lãnh vay vố n ngân hàng................................................... 40

2.1.1. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng ......... 40


2.1.2. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng .......... 43

BLDS:

Bộ luật dân sự

BLNH:

Bảo lãnh ngân hàng

ICC:

Phòng Thương mại Quốc tế

NHNN:

Ngân hàng Nhà nước

TCTD:

Tổ chức tín dụng

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn

UNCITRAL:

Công ước Liên Hiê ̣p Quố c về Hơ ̣p đồ ng mua
bán hàng hóa quốc tế

URDG:

Khi nói đến các biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung và bảo lãnh
vay vốn ngân hàng nói riêng, thì đây không phải là vấn đề mới và thậm chí
pháp luật nước ta đã có rất nhiều các quy định nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của các ngân hàng cũng như nâng cao hiệu quả của pháp luật về
kinh doanh thương mại, ví dụ như: Bộ luật Dân sự 2005, Luật các tổ chức
tín dụng năm 2010, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về Giao dịch bảo đảm...
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, pháp luật về bảo lãnh vay vốn ngân
hàng đã bộc lộ nhiều thiếu sót làm cho các hợp đồng này không thực hiện
được dẫn đến việc hiểu sai bản chất hoặc kiện tụng giữa các bên, không
đáp ứng được yêu cầu khách quan của nền kinh tế, gây cản trở cho sự phát
triển lành mạnh của môi trường kinh doanh.
Để có cái nhìn tổng thể về cơ sở lý luận và thực tiễn cho hoạt động bảo
lãnh vay vốn đặc biệt là về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân
hàng, từ đó có thể đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh tại
ngân hàng trong điều kiện phát triển hiện nay, tác giả đã lựa chọn đề tài:

1


“Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng theo pháp luật Việt
Nam” nhằm phân tích những đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân
hàng và hiệu lực của hợp đồng này, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện các
biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng trên thực tế, cũng như
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
Với mong muốn nghiên cứu pháp luật về hiệu lực hợp đồng bảo lãnh
vay vốn ngân hàng một cách toàn diện, có hệ thống và phù hợp với thực tiễn
Việt Nam, tôi đã lựa chọn vấn đề “Hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn
ngân hàng theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo lãnh,

rộng hơn nữa về hiệu lực của hợp đồng, trong đó có hợp đồng bảo lãnh vay
vốn ngân hàng.
- Pháp luật về bảo lãnh thực hiện hợp đồng tín dụng, thực trạng và
phương hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học Nguyễn Thị Minh Chi;
TS. Phạm Thị Giang Thu hướng dẫn - Hà Nội, 2004. Luận văn này nghiên
cứu về biện pháp bảo lãnh trong thực hiện hợp đồng tín dụng, tuy có nhiều
sáng kiến về các biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề
này, tuy nhiên tác giả nhận thấy luận văn chưa làm nổi bật tính chất “đối
nhân” theo như Bộ luật Dân sự 2005 quy định.
- Bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong hoạt động ngân hàng: Luận văn
thạc sĩ luật học Nguyễn Thị Thảo; TS. Phạm Công Lạc hướng dẫn - Hà Nội,
2006. Nêu lên quá trình thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong hoạt động của các
ngân hàng, đồng thời nêu lên những khó khăn, vướng mắc và đưa ra những
biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong quá trình thực hiện biện pháp
này. Tuy nhiên, luận văn này chưa nêu rõ về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh
và cũng chưa làm nổi bật hệ quả nếu như hợp đồng này vô hiệu.

3


- Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín
dụng của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2006) - Đề tài nghiên cứu đặc biệt cấp Đại
học Quốc gia. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Lê Thị Thu Thủy
cùng các tác giả tham gia nghiên cứu đã đề cập một cách có hệ thống những
vấn đề lý luận cơ bản về các biện pháp bảo đảm mà cụ thể là các biện pháp
bảo đảm tiền vay bằng tài sản, xác định các nội dung cần thiết khi xác lập hợp
đồng bảo đảm tiền vay, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp
luật về bảo đảm tiền vay.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu ở tầm tiến sỹ và thạc sỹ như
đã nêu trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở cấp độ thấp hơn, được

định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng nói
chung. Luận văn chỉ dừng lại ở một mức độ nghiên cứu nhất định, cụ thể là:
Chỉ nghiên cứu một số vấn đề cơ bản nhất về hợp đồng bảo lãnh vay vốn
ngân hàng và hiệu lực của hợp đồng này. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng
pháp luật Việt Nam về vấn đề hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân
hàng, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật về hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện thành công luận văn này, tác giả đã sử dụng một cách
đồng bộ và tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học. Trước hết đó là
phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin. Ngoài phương pháp
nghiên cứu có tính chất lý luận cơ bản này, tác giả cũng đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu truyền thống khác, nhất là phương pháp phân tích,
tổng hợp, so sánh. Những phương pháp này giúp tác giả tiếp cận các đối
tượng nghiên cứu một cách có cơ sở khoa học, đảm bảo tính hiệu quả của quá
trình nghiên cứu.

5


5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
5.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ vấn đề hiệu lực của hợp đồng
bảo lãnh vay vốn ngân hàng theo pháp luật ở Việt Nam, trên cơ sở đó tìm ra
các biện pháp và giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
5.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, làm rõ đặc điểm của pháp luật về hợp đồng bảo lãnh vay vốn
ngân hàng, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng này và vấn đề vô hiệu của
hợp đồng. Việc nghiên cứu vấn đề này nhằm giúp người đọc nhận thức được

hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục,
nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng bảo lãnh vay
vốn ngân hàng và hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay
vốn ngân hàng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật của Việt Nam về hiệu lực của hợp
đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hiệu lực
của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng ở Việt Nam.

7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH
VAY VỐN NGÂN HÀNG VÀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
BẢO LÃNH VAY VỐN NGÂN HÀNG
Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, việc cho ra đời thiết
chế về giao dịch bảo đảm đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho các
hoạt động tín dụng nói riêng và cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung,
góp phần không nhỏ vào sự ổn định của các quan hệ dân sự, kinh tế, tránh các
tranh chấp phát sinh từ việc không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng không
đúng nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Việc xác định các giao dịch bảo đảm luôn
hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền lợi của các bên có quyền trong giao dịch
này. Áp dụng các biện pháp bảo đảm, bên có quyền không chỉ có quyền theo
hợp đồng buộc bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, mà còn có quyền xử lý tài
sản mà bên có nghĩa vụ dùng để bảo đảm.
Ở nước ta, trước khi Bộ luật Dân sự có hiệu lực, pháp luật Việt Nam

bảo lãnh được sử dụng khá phổ biến trong các giao dịch vay vốn tín dụng.
Biện pháp này đang ngày càng phát huy những ưu thế của mình trong việc
xác lập các giao dịch dân sự và thương mại. Bộ luật Dân sự 2005 với những
thay đổi đáng kể đã tác động rất lớn đến việc thực hiện, xác lập và chấm dứt,
hay nói cách khác là nói đến hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân
hàng, góp phần không nhỏ đáp ứng nhu cầu huy động vốn của các chủ thể
cũng như đảm bảo an toàn cho hoạt động của các tổ chức tín dụng.
1.1. Khái niệm về hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng
Trong khoa học pháp lý cũng như trong pháp luật thực định ở Việt
Nam, giao dịch bảo đảm được định nghĩa là hợp đồng mà theo đó một bên
(gọi là bên bảo đảm) cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo đảm) về
việc sẽ thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ cụ thể đối với bên có quyền, nếu

9


đến hạn mà nghĩa vụ hoặc các nghĩa vụ đó không được người có nghĩa vụ
thực hiện (Bộ luật Dân sự năm 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm). Giao dịch bảo đảm có
nhiều loại khác nhau như: giao dịch cầm cố, giao dịch thế chấp, nhưng phổ
biến nhất vẫn là giao dịch bảo lãnh. Đây cũng là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ
được áp dụng tương đối nhiều trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín
dụng đối với khách hàng.
Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm truyền thống, sớm được sử dụng
rộng rãi, do đó nó được quy định trong nhiều văn bản luật khác nhau như:
Trong Luật La Mã: Bảo lãnh được hiểu là hợp đồng, theo đó bên thứ ba
với mục đích bảo đảm quyền lợi của bên có quyền đã cam kết thực hiện thay
nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ nghĩa vụ của mình. Trách nhiệm của bên thứ ba là trách nhiệm
bổ sung với trách nhiệm của bên có nghĩa vụ và nó chỉ tồn tại khi nghĩa vụ đó

lãnh (là hành vi cam kết của bên bảo lãnh về việc sẽ thực hiện thay nghĩa vụ
của bên có nghĩa vụ nếu nghĩa vụ này bị vi phạm) nhưng mặt khác cũng đề
cập đến giao dịch bảo lãnh giữa các bên liên quan trong đó có nhấn mạnh đến
yếu tố thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch. Theo quy định của BLDS
năm 2005, bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự do
bất kỳ chủ thể nào có năng lực pháp luật và năng lực hành vi cam kết thực
hiện thay nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh (bên có nghĩa vụ) mà không đưa ra
bất kỳ tài sản nào để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, điều này
càng thể hiện rõ hơn trong Nghị định 163/2006/NÐ-CP, theo đó, bên bảo lãnh
và bên nhận bảo lãnh có thể thỏa thuận ký kết hợp đồng cầm cố, thế chấp tài
sản (thuộc sở hữu của bên bảo lãnh) để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh.
Bảo lãnh được phân ra làm hai hình thức dựa vào tính chất và đối tượng
bảo lãnh là: Bảo lãnh đối nhân và bảo lãnh đối vật. Trong đó, bảo lãnh đối
11


nhân được áp dụng chủ yếu với các quan hệ phi tài sản trong dân sự, bảo lãnh
đối vật được áp dụng trong các quan hệ hợp đồng kinh tế và dân sự có yếu tố
tài sản. Trong khi đó, đối tượng của bảo lãnh là sự cam kết bằng uy tín, bằng
lòng tin của bên bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ, tài sản chỉ xuất hiện mang tính chất kèm theo uy tín, lòng tin, do đó
bảo lãnh có cả đặc tính của “đối nhân” và “đối vật”. Khi bên bảo lãnh dùng
tài sản của mình để bảo đảm nghĩa vụ thì có nghĩa rằng, bên bảo lãnh đã đưa
tài sản của mình để thế chấp hoặc cầm cố để bảo đảm nghĩa vụ của bên được
bảo lãnh (bên đi vay) đối với bên nhận bảo lãnh.
Nếu như Bộ luật Dân sự 1995 quy định bên cạnh biện pháp bảo lãnh
không bằng tài sản (không kèm theo tài sản cầm cố, thế chấp) là tín chấp vẫn
có thể kèm theo biện pháp cầm cố, thế chấp tài sản như trước đây là: cầm cố
(hoặc cầm cố – bảo lãnh) hoặc thế chấp (hoặc thế chấp – bảo lãnh) bằng tài

ta thấy, những quy định về hình thức và đối tượng của quan hệ bảo lãnh trong
Bộ luật này hầu như không có gì thay đổi, tuy nhiề n , trong Bô ̣ luâ ̣t dân sự sử
đổ i có phân ra mô ̣t cách ra ̣ch ròi hơn về các hiǹ h thức là bảo lañ h bằ ng uy tiń
hay bảo lañ h bằ ng tài sản, hay nói cách khác là có thiên hướng quy đinh
̣ giố ng
Bô ̣ luâ ̣t Dân sự 1995.
Có ý kiến cho rằng: Việc dùng uy tín, chứ không phải tài sản để bảo
lãnh thực chất chỉ là quan hệ dân sự, chứ không phải quan hệ pháp luật. Nếu
coi đây là quan hệ pháp luật, thì sẽ tạo thành cạm bẫy pháp lý cho những
người liên quan trong giao dịch. Bảo lãnh chỉ khác với cầm cố, thế chấp ở
chỗ, không có tài sản cụ thể được đưa vào để bảo đảm cho nghĩa vụ. Bởi vì,
nếu có một tài sản cụ thể được chỉ đích danh dùng để bảo đảm nghĩa vụ, thì
đó sẽ làm cầm cố hoặc thế chấp. Khẳng định điều này, Luật sư Trần Minh Hải
trong một nghiên cứu của mình đã cho rằng, bảo lãnh bản chất luôn luôn là
bằng tài sản. Bởi vì, để bảo đảm cho một nghĩa vụ tài sản, thì đương nhiên
phải dùng một biện pháp bảo đảm có giá trị bằng tài sản. Khi một bên chấp

13


nhận biện pháp bảo lãnh của bên thứ ba để bảo đảm cho nghĩa vụ là họ đã
nhìn vào túi tiền, nhìn vào tài sản của bên nhận bảo lãnh với ước lượng chắc
chắn về khả năng bên bảo lãnh sẽ phải dùng một phần tài sản để thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh nếu phát sinh [17].
Lại có quan điểm cho rằng: Bảo đảm tiền vay chỉ là việc yêu cầu khách
hàng vay có tài sản hữu hình để đối ứng với món vay của mình. Song thực tế
chứng minh một khoản vay nếu chỉ được bảo đảm bằng tài sản hữu hình thì
đó vẫn chưa phải là khoản vay an toàn. Vốn vay vẫn có thể bị chiếm dụng nếu
tài sản sử dụng làm vật bảo đảm không có tính khả mại, hoặc về một lí do nào
đó về mặt pháp lý, vốn vay vẫn bị chôn vào tài sản. Vì vậy, bảo đảm tiền vay

để bảo lãnh cho người vay vốn. Tài sản của bên bảo lãnh chỉ bị xử lý khi đã
đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện các cam
kết đã thỏa thuận với bên nhận bảo lãnh.
Từ những sự phân tích trên, ta có thể rút ra định nghĩa về hợp đồng bảo
lãnh như sau: “Hợp đồng bảo lãnh là sự thỏa thuận giữa ba bên chủ thể (bên
nhận bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh) hoặc giữa hai bên (bên
nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh), theo đó bên bảo lãnh (tổ chức, cá nhân) cam
kết với bên có quyền (ngân hàng cho vay) về việc thực hiện nghĩa vụ thay cho
bên được bảo lãnh (khách hàng vay vốn) trong trường hợp khách hàng không
trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho bên nhận bảo lãnh”.
Như vâ ̣y, so sánh với khái niê ̣m về bảo lañ h đã nêu ở mô ̣t số Quố c gia
cũng như Công ước quốc tế , thì quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về bảo lañ h cũng có những điể m chung phù hơ ̣p với thông lê ̣ quố c tế về viê ̣c
dùng uy tín để bảo lãnh , tuy nhiên , ở nước ta còn có luật chuyên ngành là
Luâ ̣t Ngân hàng , Luâ ̣t các tổ chức tiń du ̣ng và những văn bản dưới luâ ̣t trực
tiế p điề u chỉnh về bảo lañ h trong liñ h vực ngân hàng , theo đó, người bảo lañ h
phải cam kết dùng tài sản của mình để bảo lãnh cho người được bảo lãnh , đây
là nội dung chủ yếu sẽ được phân tích trong luận văn này.

15


1.2. Đặc điểm của hợp đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng
1.2.1. Về chủ thể tham gia quan hê hợp
đồng bảo lãnh vay vốn ngân hàng
̣
Bảo lãnh là một hình thức bảo đảm gián tiếp nhưng được sử dụng khá
phổ biến. Nó mang ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng và khuyến khích
đầu tư. Khi bảo lãnh cho một khoản vốn vay, bên bảo lãnh phải ý thức được
trách nhiệm của mình đối với khoản vay. Vì mặc dù, để chấp nhận cung cấp

người bảo lãnh sẽ phải thực hiện thay bằng tài sản của mình.
Tóm lại, bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm có những đặc điểm chung
của biện pháp bảo lãnh trong giao dịch dân sự, đồng thời cũng có điểm đặc thù
xuất phát từ đặc trưng, tính chất của hoạt động ngân hàng. Đặc điểm này quyết
định tới việc xây dựng pháp luật về bảo lãnh trong hoạt động của ngân hàng.
Hiểu đúng bản chất pháp lý của quan hệ bảo lãnh là cơ sở để thiết lập
cơ cấu chủ thể của một hợp đồng bảo lãnh. Về mặt lý thuyết, hợp đồng bảo
lãnh thông thường được ký kết bởi ba bên: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh
(chủ yếu là TCTD) và bên được bảo lãnh, các chủ thể này phải đảm bảo một
trong các tiêu chí sau:
- Có uy tín,
- Phải chứng minh được năng lực tài chính để đảm bảo thực hiện nghĩa
vụ thay cho bên được bảo lãnh khi đến hạn mà bên được bảo lãnh không thực
hiện được nghĩa vụ.
Chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh bao gồm ba bên trong quan hệ nghĩa
vụ chính là TCTD – bên nhận bảo lãnh, khách hàng – bên được bảo lãnh và
bên bảo lãnh (bên thứ ba). Tuy nhiên, việc tham gia ký kết của bên được bảo
lãnh không phải là điều kiện bắt buộc để thiết lập quan hệ hợp đồng bảo lãnh,
bởi lẽ, cam kết bảo lãnh của bên bảo lãnh cần phải được nhìn nhận như là cơ
sở ban đầu để xác lập hợp đồng bảo lãnh. Nếu bên nhận bảo lãnh không chấp
nhận thì quan hệ bảo lãnh không thể được xác lập. Về vấn đề này, pháp luật
Nhật Bản cũng có quy định tương tự “Nghĩa vụ bảo lãnh được hình thành

17


trên cơ sở hợp đồng bảo lãnh. Các bên của hợp đồng bảo lãnh là người bảo
lãnh và chủ nợ của người mắc nợ khác” [50, tr.427].
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự và Nghị định 163/2006/NĐ-CP về
giao dịch bảo đảm, có thể xác định được các điều kiện như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status