ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THỦY
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. PHAN THỊ THANH THỦY
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân
tôi. Nội dung được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được thu thập, tổng
hợp từ các tài liệu có liên quan. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội
đồng Khoa học nhà trường, Khoa Đào tạo sau đại học và Ban Giám hiệu Đại học Quốc
gia Hà Nội.
Hà Nội,
tháng năm 2015
Ngƣời thực hiện
năm 2015
Ngƣời thực hiện
Nguyễn Thị Thủy
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC THI PHÁP
LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH....................................................................7
1.1. Khái quát về đăng ký kinh doanh........................................................................7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của đăng ký kinh doanh ..........................................7
1.1.2. Đối tượng đăng ký kinh doanh................................................................11 1.1.3.
Hình thức, quy trình đăng ký kinh doanh ...............................................11 1.1.4. Nội
dung đăng ký kinh doanh .................................................................13 1.1.5. Đặc
trưng cơ bản pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam............14
1.2. Cơ sở lý luận và vai trò của hoạt động đăng ký kinh doanh .............................15
1.2.1. Cơ sở lí luận, bản chất và hiệu lực của hoạt động đăng ký kinh doanh..15
1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của đăng ký kinh doanh ................................................20
1.3. Pháp luật về đăng ký kinh doanh và cơ quan đăng ký kinh doanh ...................22
1.3.1. Pháp luật về đăng ký kinh doanh ............................................................22
1.3.2. Cơ quan đăng ký kinh doanh ..................................................................23
1.4. Thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh........................................................23
1.4.1. Khái niệm và đặc điểm của thực thi pháp luật ........................................23
1.4.2. Thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh..............................................26
trên địa bàn Thành phố Hà Nội ................................................................................74
3.1.1. Đáp ứng bối cảnh kinh tế xã hội .............................................................74
3.1.2. Tiếp thu sự phát triển của công nghệ thông tin khoa học kỹ thuật .........75
3.1.3. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực .........................................................76 3.1.4.
Yêu cầu hoàn thiện bộ máy quản lý ........................................................76
3.1.5. Yêu cầu sự hoàn thiện của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các
văn bản hướng dẫn thi hành ..............................................................................77
3.1.6. Đáp ứng đòi hỏi của các doanh nghiệp ...................................................77
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh
trên địa bàn Thành phố Hà Nội ................................................................................78
3.2.1. Đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý .......................................78
3.2.2. Hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi
hành ...................................................................................................................78
3.2.3. Hoàn thiện về cơ chế nhân sự .................................................................79 3.2.4.
Hoàn thiện hệ thống công nghệ thông tin đăng ký kinh doanh ..............80 3.2.5. Nâng
cao hiệu quả công tác hậu kiểm.....................................................80
3.2.6. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của cơ quan thực thi pháp luật về đăng ký
kinh doanh .........................................................................................................81
3.2.7. Một số giải pháp khác: ............................................................................82
Tiểu kết chƣơng 3....................................................................................................83
KẾT LUẬN ..............................................................................................................84 TÀI
LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................85
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BPMC
Bộ phận một cửa
Thành Phố
TTHC
Thủ tục hành chính
UBND
Uỷ ban nhân dân
LDN
Luật Doanh nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH, BẢNG
CÁC BẢNG:
Nội dung
Bảng 1.1
Bảng 1.2
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5
KH&ĐT TP Hà Nội
Trang
50
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) là hoạt động pháp lý khai sinh ra doanh
nghiệp, hoạt động này có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với chính doanh nghiệp
được khai sinh mà còn với chủ thể cấp giấy khai sinh cho doanh nghiệp đó. Bởi vậy, trong
những hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, vấn đề quản lý hoạt động
ĐKKD luôn luôn được chú trọng.
Ngày 29/11/2005 Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực, cộng đồng doanh
nghiệp đã có sự phát triển mạnh mẽ. Số lượng doanh nghiệp thành lập tăng kéo theo sự gia
tăng nhanh chóng về khối lượng công việc của đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) cũng
như yêu cầu quản lý nhà nước về ĐKDN. Trước yêu cầu ngày càng tăng của khối
lượng công việc ĐKKD cũng như những hạn chế của quy định cũ, ngày 26/11/2014,
Luật Doanh nghiệp năm 2014 [16] được Quốc Hội thông qua. Với việc Luật Doanh nghiệp
năm 2014 được thông qua, các quy định pháp luật đối với hoạt động ĐKKD có nhiều thay
đổi cần được đưa ra xem xét và kiến giải.
Hiện nay việc thực thi pháp luật về ĐKKD doanh nghiệp nói chung có nhiều
cải thiện nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập.
Cụ thể là: Hệ thống văn bản pháp luật về ĐKDN chưa đồng bộ; có nhiều chủ thể có thẩm
quyền thành lập và đăng ký các loại hình doanh nghiệp khác nhau; có sự chồng chéo
trong quản lý đối với ĐKDN giữa các loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp trong nước,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước đối với
ĐKDN còn nhiều tồn tại. Chính vì vậy việc thực thi pháp luật đối với ĐKDN đã và đang
gặp rất nhiều khó khăn với nhiều lý do cả khách quan và chủ quan.
Thực tế hiện nay tình trạng doanh nghiệp vi phạm các quy định của Luật
lực, hiệu quả thực thi pháp luật đối với doanh nghiệp và ĐKDN.
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhanh chóng thành lập, gia nhập thị
trường, hạn chế doanh nghiệp vi phạm Luật doanh nghiệp, hướng tới mục đích đảm
2
bảo sự phát triển bền vững của cộng đồng của doanh nghiệp, đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội, việc
nghiên cứu công tác thực thi pháp luật ĐKKD trên địa bàn TP Hà Nội để tìm ra những ưu
điểm, hạn chế của pháp luật cũng như việc thực thi pháp luật của Sở KH&ĐT TP Hà
Nội đối với ĐKDN với mục đích hoàn thiện pháp luật tăng cường hiệu quả việc thực thi
có vai trò vô cùng quan trọng, mang tính cấp thiết. Xuất phát từ các lý do nêu trên, là cán
bộ đang công tác tại Phòng ĐKKD số 2 - Sở KH&ĐT TP Hà Nội, tôi chọn nghiên cứu
đề tài: "Thực thi pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn Hà Nội" để làm đề tài
luận văn thạc sỹ luật kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua việc nghiên cứu, tổng kết vấn đề pháp luật về ĐKKD
nói chung đã được một số tác giả tiến hành. Có một số công trình nghiên cứu về pháp
luật ĐKKD có thể kể ra như: Luận văn thạc sĩ "Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh
vực đăng ký kinh doanh trên địa bàn TP Hà Nội". Luật văn thạc sĩ Luật học. Người thực
hiện: Phạm Thị Thu Hường, Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Bình (Khoa Luật
2006). Luận văn này khái quát chung về TTHC và cải cách TTHC trong ĐKKD trên địa
bàn Hà Nội; Luận văn thạc sĩ luật "Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam thực
trạng và phương hướng hoàn thiện". Người thực hiện: Trần Thị Tố Uyên. Người hướng
dẫn: PGS.TS Dương Đăng Huệ năm 2005. Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận về ĐKKD
và pháp luật về ĐKKD: khái niệm, đặc điểm, vai trò và ý nghĩa của ĐKKD; nội dung
của việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động ĐKKD. Phân tích những quy định hiện
hành của pháp luật về ĐKKD, chỉ ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân. Qua đó
đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐKKD ở Việt
Chỉ tập trung nghiên thực thi pháp luật về ĐKKD trên địa bàn TP Hà Nội đối
với đăng ký các loại hình doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp 2005 (được thay thế bởi Luật Doanh nghiệp năm 2014) và các văn bản hướng
dẫn thi hành. Đề tài không nghiên cứu vấn đề ĐKKD đối với doanh nghiệp trong khu
công nghiệp, khu chế xuất… do các cơ quan có thẩm quyền khác đăng ký thành lập và hoạt
động theo các luật chuyên ngành.
4
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý luận về thực thi pháp luật về ĐKKD trên địa bàn TP Hà
Nội;
- Phân tích thực trạng thực thi pháp luật về ĐKKD trên địa bàn TP Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện thực thi pháp luật về ĐKKD trên địa
bàn TP Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để triển khai các mục đích ở trên, tác giả sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề chung về thực thi pháp luật về
ĐKKD; Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về ĐKKD trên địa bàn TP. Hà
Nội để thấy những điểm còn hạn chế, chưa hợp lí; Phân tích, đánh giá thực trạng vi
phạm, thực tiễn xử lý vi phạm về thực thi pháp luật về ĐKKD tại TP. Hà Nội, xác định
nguyên nhân của nó. Nghiên cứu, tìm hiểu quy định pháp luật về ĐKKD của một số
quốc gia trên thế giới để rút ra bài học cho Việt Nam; Đề xuất các phương hướng, giải
pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thực thi pháp luật về ĐKKD trên cơ sở nghiên
cứu điển hình của Hà Nội.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống của khoa
học pháp lý như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp đối chiếu, thống kê, diễn
Về mặt từ ngữ, từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên [15] đã giải thích thuật
ngữ "kinh doanh" theo hai nghĩa: thứ nhất "kinh doanh có nghĩa là mở mang thêm", và
nghĩa thứ hai "tổ chức sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời".
Dưới góp độ pháp lý: "Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi" (16; Điều 4)
Hành vi kinh doanh có các dấu hiệu như sau:
Hành vi phải mang tính chất nghề nghiệp. Tính chất nghề nghiệp được thể hiện
ở các đặc điểm chủ thể thực hiện hành vi khi tham gia thương trường theo sự phân
công lao động xã hội; các hành vi được tiến hành thường xuyên, ổn định, đều đặn; có
tính chất chuyên nghiệp cao và mang lại nguồn thu nhập chính cho người thực
hiện hành vi;
Hành vi phải thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh chính mình để
tiến hành hoạt động kinh doanh, tự quyết định và chịu trách nhiệm trước mọi vấn đề liên
quan.
Hành vi có mục đích sinh lợi.
Bên cạnh đó có cách hiểu kinh doanh là để kiếm tiền theo một nghĩa rộng hơn.
Ví như kinh doanh để mang lại lợi ích cho cộng đồng (hay kinh doanh xã hội).
7
1.1.1.2. Đăng ký kinh doanh và hậu quả pháp lý của đăng ký kinh doanh
Để thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường, chủ thể phải tiến hành hoạt
động ĐKKD với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
ĐKKD là thủ tục gia nhập thị trường của doanh nghiệp, theo đó có thể nhìn
nhận dưới các góc độ sau:
Về phương diện kinh tế-xã hội: ĐKKD là thủ tục đầu tiên của doanh nghiệp phải
thực hiện để tham gia vào thị trường, trong hoạt động ĐKKD, việc thành lập doanh
nghiệp và các lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp được thông tin rộng rãi, công khai
doanh nghiệp, nó sẽ tạo điều kiện để để Nhà nước có thể thực hiện các hoạt động quản lý
tiếp theo của mình khi doanh nghiệp đi vào sản xuất, kinh doanh.
Về phương diện chính trị-pháp lý: ĐKKD được hiểu là quyền tự do kinh doanh,
một bộ phận của quyền tự do dân chủ của nhân dân. Tuy nhiên quyền này phải được
hiểu là tự do trong khuôn khổ, dân chủ tập trung và bình đẳng trước pháp luật. Quyền
ĐKKD cũng đồng thời là nghĩa vụ phải thực hiện. Quyền tự do kinh doanh của công
dân có nội hàm bao gồm cả quyền tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh và tự
do ĐKKD. Bất cứ tổ chức nào có đủ điều kiện để kinh doanh đều có thể đăng ký với nhà
nước để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà không ai có quyền ngăn cản trái
phép.
Theo góc nhìn của pháp luật doanh nghiệp, ĐKDN được hiểu là việc ghi nhận về
mặt pháp lý sự ra đời và cập nhập những thay đổi pháp lý trong suốt vòng đời của
doanh nghiệp. ĐKKD bao gồm nội dung về ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình
doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. ĐKKD bao gồm đăng
ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung ĐKKD [7; Khoản 1, Điều 3].
Khái niệm ĐKDN nêu trên chỉ đề cập đến việc đăng ký của các loại hình doanh nghiệp
(vốn trong nước) được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005. Không
đề cập đến việc ĐKDN có vốn đầu tư nước ngoài theo Luật Đầu tư, các loại hình doanh
nghiệp khác thành lập và hoạt động theo các Luật chuyên ngành khác nhau (doanh
nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất,
tổ chức tài chính tín dụng, chứng khoán, bảo hiểm..)
Hậu quả pháp lý của ĐKKD: có hai hậu quả pháp lý đối với hành vi ĐKKD
là:
Doanh nghiệp được cấp GCN ĐKKD: Để được cấp GCN ĐKKD, doanh
9
nghiệp phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau đây:
- Ngành, nghề ĐKKD không bị cấm đầu tư kinh doanh;
tiên để tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp.
Thứ ba, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đăng ký gia nhập thị trường đều phải thực
hiện theo một khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: 1) ĐKKD, 2) Đăng ký mã số thuế
(nay đã gộp vào một) và 3) Đăng ký giấy phép khắc dấu (nay là công bố mẫu con dấu).
Hiện nay, theo quy định pháp luật hiện hành đã có sự điều chỉnh và sẽ đề cập cụ thể ở phần
sau.
Thứ tư, để thành lập 1 trong 4 loại hình doanh nghiệp (công ty TNHH, công ty
cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh) thì nhà đầu tư sẽ thực hiện thủ
tục ĐKDN với cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp dự định đặt trụ sở chính.
1.1.2. Đối tƣợng đăng ký kinh doanh
Đối tượng của ĐKKD theo Luật Doanh nghiệp gồm có (1) Doanh nghiệp tư
nhân; (2) Công ty cổ phần; (3) Công ty hợp danh; (4) Công ty trách nhiệm hữu hạn
(gồm công ty TNNH một thành viên và công ty TNNH hai thành viên trở lên)
1.1.3. Hình thức, quy trình đăng ký kinh doanh
a. Hình thức đăng ký kinh doanh
Theo tính chất ĐKDN, có các hình thức đăng ký doanh nghiệp như sau:
- Đăng ký thành lập mới các loại hình doanh nghiệp;
- Đăng ký thay đổi các loại hình doanh nghiệp;
- Đăng ký chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp.
b. Quy trình đăng ký kinh doanh
STT
Ngƣời thực hiện
Nội dung công việc thực hiện
- Tiếp nhận: kiểm tra mục lục hồ sơ ĐKDN và tiếp
nhận vào Hệ thống
1
4
Lãnh đạo
Phòng
báo sửa đổi bổ
sung hồ sơ)
Văn thư Phòng - Phô tô đóng
5
6
dấu, vào số
Đ
K
K
D
- Chuyển
giao cho
BPMC
7
- Trả hồ sơ và
kết quả ĐKDN
Bộ
phận
một
cửa
Với quy trình ĐKKD như trên, ta thấy có một số đặc
ả
điểm như sau:
n
Thứ nhất, quy trình được triển khai qua nhiều bước khác nhau.
Chiểu theo quy
g
định của phòng ĐKKD - Sở KH&ĐT Hà Nội, quy trình gồm 7 bước.
1
.
1
Quy trình này là tương đối nhiều bước và tiêu tốn nhiều thời gian.
Thứ hai, có nhiều nhân sự tham gia vào quy trình đăng ký.
Điểm quy trình ĐKKD của TP. Hà Nội ta thấy rằng nhân sự phục
vụ cho quy trình này bao gồm: Cán bộ tiếp nhận, trưởng phòng,
cán bộ thụ lý, cán bộ văn thư. Việc tham gia của nhiều nhân sự
Q
cũng làm cho tiến trình đăng ký có thể bị trì hoãn và kéo dài.
u
y
Đăng ký thành lập doanh nghiệp mới: đối với doanh nghiệp tư nhân; công ty
TNHH một thành viên; công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần
và công ty hợp danh. ĐKDN đối với các công ty được thành lập trên cơ
sở chia, tách, hợp nhất và đối với công ty nhận sáp nhập;
-
Đăng ký chuyển đổi loại hình doanh nghiệp: công ty TNHH một thành viên
thành công ty TNHH hai thành viên trở lên và ngược lại, doanh nghiệp tư nhân
thành công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty trách nhiệm hữu hạn thành
công ty cổ phần và ngược lại;
-
Đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN: Thay đổi nội dung ĐKDN (tên doanh
nghiệp, địa chỉ trụ sở chính , vốn điều lệ /vốn đầu tư , người đại diện theo ủy
quyền/thành viên/cổ đông công ty ); thay đổi người đại diện theo pháp luật ; thay
đổi chủ doanh nghiệp tư nhân /chủ sở hữu công ty ; thay đổi thông tin
đăngkýthuế;
-
Đăng ký bổ sung, cập nhật thông tin ĐKDN và đăng ký thuế;
-
Đăng ký thành lập mới và đăng ký thay đổi nội dung hoạt động các đơn vị
phụ thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh
doanh);
ĐKKD), tuy nhiên, vấn đề thực thi nhìn chung cũng giống như các quy định pháp luật
khác còn chưa đề cao tính pháp chế. Thực trạng chung này làm ảnh hưởng rất lớn đến
chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đã
đề ra [14].
Thứ hai, QLNN về ĐKKD được phân cho cơ quan quản lý về KH&ĐT trực
thuộc Chính Phủ. So với các quốc gia ở Châu Á-Thái Bình Dương, Châu Phi và Trung
Đông, đây là đặc điểm tương đồng khi các quốc gia ở các khu vực này việc QLNN về
ĐKKD được giao cho Chính phủ. Tuy nhiên, ở những khu vực khác như Châu Âu và
Châu Mĩ, việc QLNN bên cạnh việc giao cho Chính phủ còn được giao cho Ủy ban
thương mại (Chamber of Commerce), theo mô hình hợp tác công tư (Public Private
Partnership), Tòa án tư pháp (Court of Justice) và các cơ quan khác [40].
Thứ ba, thẩm quyền quản lý được phân công và phân cấp cho nhiều cơ quan. Hiện
nay, cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động ĐKKD được phân công cho nhiều cơ quan khác
nhau.
Ở Trung ương: Bộ KH&ĐT được giao chức năng QLNN đối với hoạt động
ĐKKD. Bộ KH&ĐT đã tổ chức quản lý bằng việc tổ chức 02 Cục bao gồm: Cục
Quản lý ĐKKD và Cục Phát triển doanh nghiệp:
Cục Quản lý ĐKKD: giúp Bộ trưởng Bộ KH&ĐT QLNN về ĐKKD;
Cục Phát triển doanh nghiệp: giúp Bộ trưởng Bộ KH&ĐT thực hiện chức
năng QLNN về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và phát triển doanh nghiệp nhà nước.
14
Tại địa phương: Các phòng ĐKKD được thành lập tại tất cả các tỉnh thành
trong cả nước [47].
Đặc trưng này của Việt Nam cũng có thể được bắt gặp được ở các quốc gia khác
trên thế giới. Cụ thể: tại Châu phi và Trung Đông: 83% tập quyền và 17% phân quyền;
tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương: 70% tập quyền và 30% phân quyền; tại Châu
Âu: 67% tập quyền, 33% phân quyền; tại Châu Mĩ: 86% tập quyền, 14% phân quyền [40].