Phương thức lãnh đạo của huyện uỷ đối với chính quyền cấp huyện ở mê linh hà nội hiện nay luận văn cao học - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ MINH KIÊN

PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA HUYỆN ỦY
ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN
Ở MÊ LINH - HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ MINH KIÊN

PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA HUYỆN ỦY
ĐỐI VỚI CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN
Ở MÊ LINH - HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chính trị học

:

Nhà xuất bản

TNCS

:

Thanh niên cộng sản

TW

:

Trung ương

XHCN

:

Xã hội chủ nghĩa


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cách mạng dân tộc dân chủ cũng như trong công cuộc đổi mới,
vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội
ngày càng không ngừng được củng cố và nâng cao. Có được kết quả đó trước

quả cao. Từ sự lãnh đạo của Huyện ủy, huyện Mê Linh đã đạt được nhiều
thành tựu đáng phấn khởi trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương.
Song thực tiễn lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền huyện cũng
còn một số vấn đề cần được làm rõ bởi không phải lúc nào các nghị quyết của
Huyện ủy cũng được Ủy ban nhân dân huyện triển khai, tổ chức thực hiện
một cách có hiệu quả. Tình trạng làm thay, bao biện nhiệm vụ chính quyền
tạo nên tâm lý ỷ lại, hạn chế tính năng động của cơ quan chính quyền vẫn
đang xảy ra. Có những vấn đề Huyện ủy can thiệp quá sâu vào hoạt động của
chính quyền.
Trong bối cảnh đó, cần có sự nghiên cứu về phương thức lãnh đạo của
Huyện ủy đối với chính quyền nói chung và đối với huyện Mê Linh nói riêng
để góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Đáp ứng yêu
cầu đó, tác giả chọn vấn đề: “Phương thức lãnh đạo của Huyện uỷ đối với
chính quyền cấp huyện ở Mê Linh - Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn
Thạc sỹ Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phương thức lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ giữa Đảng với Nhà
nước từ lâu đã được các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học chú
trọng nghiên cứu. Với nhiều ngành khoa học khác nhau, vấn đề Đảng cầm
quyền, Đảng lãnh đạo được nghiên cứu với những khía cạnh khác nhau.


3

Dưới góc độ Chính trị học, đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả
nghiên cứu về vấn đề này.
- Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu về phương thức lãnh đạo
của Đảng ở tầm vĩ mô như: “Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền: Nội dung
và phương thức cầm quyền của Đảng” của GS.TS. Nguyễn Văn Huyên (chủ

gia, Hà nội, 2005; “Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính
trị Việt Nam hiện nay” của PGS.TS. Nguyễn Hữu Đổng (chủ biên), NXB Chính
trị quốc gia, Hà nội, 2010; “Hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc điểm, xu hướng và
giải pháp”, của Vũ Hoàng Công, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002;
Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2011): Đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền:
Nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà
nội; Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên) (2010): Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân - Lý luận và
thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về phương thức lãnh đạo của
Đảng đối với Nhà nước; của Tỉnh ủy đối với chính quyền tỉnh.
“Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Tâm
(Luận văn thạc sỹ chính trị hoc);
“Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ với Uỷ ban nhân dân tỉnh từ
thực tiễn Tiền Giang” của Xuân Tế - Ngọc Chung (Tạp chí Xây dựng Đảng
tháng 9-2006);
“Đổi mới phương thức lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với chính quyền tỉnh
Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay”của Phạm Thị Thúy (Luận văn thạc sỹ).
- Các văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, IX, X, XI;
các văn kiện đại hội đảng bộ huyện Mê Linh lần thứ V, VI,VII, VIII; báo cáo
tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, NXB Chính trị
quốc gia, Hà nội, 2005;
- Một số văn bản của Thành ủy Hà Nội; Huyện ủy, UBND huyện Mê Linh:


5

+ Thành ủy Hà Nội: Chương trình số 01-Ctr/TU ngày 18/8/2011 về
nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng và chất

nước, đề tài làm rõ những thành tựu và hạn chế về sự lãnh đạo của Huyện uỷ
đối với chính quyền cấp huyện ở Mê Linh, từ đó gợi mở một số giải pháp đổi
mới sự lãnh đạo của Huyện uỷ đối với cơ quan chính quyền trong tình hình
hiện nay nhằm tăng cường vai trò và hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Huyện
uỷ đối với chính quyền cấp huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ tập trung làm rõ những
nhiệm vụ sau:
- Làm rõ lý luận về Đảng lãnh đạo Nhà nước trên quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và nội
dung phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền cấp huyện.
- Làm rõ thực trạng về phương thức sự lãnh đạo của Huyện ủy đối với
chính quyền cấp huyện ở Mê Linh
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đổi mới
phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền cấp huyện ở Mê
Linh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền
cấp huyện ở Mê Linh (đối với Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân huyện).
4.2. Giới hạn nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với
chính quyền cấp huyện ở Mê Linh dưới góc độ chính trị học từ năm 2008
đến nay.


7

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

càng đúng thì kết quả cảng cao, cùng một kết quả nhưng có thể có nhiều
phương pháp khác nhau. Chủ thể hành động có thể xây dựng và sử dụng
phương pháp thích hợp. Còn hình thức được hiểu là “cái bên ngoài cái chứa
đựng nội dung” [34, tr. 809], hình thức là biểu hiện ra bên ngoài của nội dung.
Như vậy, phương thức là hình thức của phương pháp mà chủ thể thực
hiện một hoạt động (nhận thức hoặc thực tiễn) cụ thể theo mục tiêu đã được
xác định. Qua phân tích trên có thể thấy, phương thức là sự kết hợp giữa
phương pháp để tiến hành một công việc, nội dung, hoạt động cụ thể với
những hình thức thích hợp nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể đặt ra. Nhờ có
phương thức mà các hoạt động được tiến hành theo một trật tự, một lôgíc nhất
định nhằm đạt được hiệu quả cao nhất mà chủ thể hoạt động mong muốn.
- Lãnh đạo
Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học
về tổ chức - nhân sự. Từ ngàn xưa, hoạt động của con người luôn gắn liền với
tính cộng đồng xã hội. Cộng đồng xã hội dù ở quy mô nào cũng đòi hỏi phải
được tổ chức và được quản lý. Chính vì vậy, quan hệ lãnh đạo và chịu sự lãnh


9

đạo là quan hệ chính yếu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Cho
nên, vấn đề lãnh đạo và quản lý đã trở thành đối tượng nghiên cứu, bàn luận
của các nhà tư tưởng, các nhà chính trị. Thông thường, khi nói đến lãnh đạo,
người ta hay nghĩ đến vai trò của những cá nhân đầy quyền lực, tác động
mạnh mẽ vào tổ chức mà người đó đứng đầu và thường là trên phạm vi quốc
gia. Cách hiểu trên đây thiên về hướng đồng nhất sự lãnh đạo nói chung với
vai trò lãnh đạo của các vĩ nhân, thường được thể hiện trong các học thuyết
trước học thuyết Mác.
Mặc dù các học thuyết chính trị xã hội khác nhau có nêu ý niệm về
lãnh đạo, nhưng nó chỉ thực sự được mổ xẻ vào những thế kỷ gần đây, nhất là

các tầng lớp nhân dân thực hiện cho bằng được các nội dung ấy.
Khái niệm “Đảng cầm quyền” chỉ xuất hiện khi đã giành chính quyền,
nó dùng để chỉ vai trò của Đảng khi Đảng đã trực tiếp lãnh đạo, xây dựng Nhà
nước. Chính quyền Nhà nước lúc này hoàn toàn đặt dưới sự lãnh đạo của
Đảng. Khái niệm “Đảng lãnh đạo” có nội dung rộng hơn khái niệm “Đảng
cầm quyền”. Khi đã lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền, Đảng trở
thành Đảng cầm quyền, tức là Đảng thông qua Nhà nước để thực thi quyền
lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Từ khi có chính quyền, Đảng sử
dụng Nhà nước để thực hiện ý chí chính trị của mình, nghĩa là Nhà nước phải
thể chế hoá tất cả quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
Tuy nhiên, thuật ngữ “Đảng cầm quyền” biểu đạt rõ hơn tính chất toàn diện,
tuyệt đối và trực tiếp sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
Hiện nay, ở nước ta đang dùng cả hai khái niệm “Đảng lãnh đạo” và
“Đảng cầm quyền” và đều được hiểu là tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức xã hội và toàn thể quốc gia - dân tộc đều đặt dưới sự lãnh đạo của một
Đảng chính trị duy nhất là Đảng cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo toàn bộ
hệ thống chính trị và cả xã hội nhưng Đảng cũng là một bộ phận của hệ thống
chính trị. Đảng có các tổ chức đảng nằm ngay trong các cơ quan Nhà nước,
các cương vị chủ chốt trong bộ máy Nhà nước ở các cấp phần lớn là đảng
viên và cán bộ đảng. Như vậy, Đảng không chỉ kêu gọi, định hướng chung mà


13

các tổ chức Đảng và đảng viên được Đảng giao nhiệm vụ, đồng thời được
nhân dân trao cho quyền sử dụng các quyền lực Nhà nước để quản lý xã hội.
Song, Đảng cầm quyền không có nghĩa là Đảng làm thay cơ quan Nhà nước,
càng không phải là “đảng trị”. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng cương
lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng
công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành

cảnh cụ thể với những đối tượng cụ thể, trong những điều kiện cụ thể, do đó,
nó luôn có sự thay đổi khi tình hình cách mạng đã thay đổi. Ví dụ như phương
thức lãnh đạo của Đảng khi còn đấu tranh giành chính quyền khác với phương
thức lãnh đạo khi đã có chính quyền… Nhưng cho dù phương thức lãnh đạo
có sự thay đổi như thế nào thì cũng chỉ nhằm đưa tới giành thắng lợi, đạt được
mục tiêu mà nội dung lãnh đạo đã đề ra. Do vậy, thực chất của phương thức
lãnh đạo là “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Phương thức lãnh đạo đúng, đạt hiệu
quả lãnh đạo cao sẽ trở thành nghệ thuật lãnh đạo. Do đó có thể thấy phương
thức lãnh đạo là một hình thức biểu hiện của trình độ khoa học và nghệ thuật
lãnh đạo cách mạng của Đảng.
Trong hoạt động của Đảng ta, thuật ngữ “phương thức” được dùng đầu
tiên trong Nghị quyết Hội nghị cán bộ miền bắc Đông Dương về cuộc vận
động thi đua ái quốc ngày 25-5-1948. Song ý nghĩa thuật ngữ đã được thể
hiện ngay từ cuốn “Đường cách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc viết năm 1927
với tên gọi “cách tổ chức”. Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI
ngày 29-3-1989, thuật ngữ phương thức lãnh đạo được sử dụng với nội dung
đầy đủ, có thể đề cập theo các khía cạnh khác nhau:
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các thành tố trong hệ thống
chính trị: Nhà nước, đoàn thể nhân dân, tổ chức xã hội
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh vực của đời sống:
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan Nhà nước: lập
pháp, hành pháp, tư pháp


15

- Phương thức lãnh đạo trong nội bộ hệ thống đảng
Phương thức lãnh đạo của Đảng bao hàm những nguyên tắc, yêu cầu
chung đồng thời có những hình thức cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực, từng

Đảng các cấp) sử dụng các hình thức, phương pháp, biện pháp rất đa dạng: sử
dụng các thể chế, các tổ chức bộ máy của Nhà nước, tổ chức và bộ máy của
của các tổ chức xã hội, các hoạt động của bản thân tổ chức Đảng và đảng
viên, thông qua các cá nhân, những người có uy tín trong xã hội (trí thức nhân
sĩ, chức sắc tôn giáo, dân tộc…). Thước đo sự đúng đắn của phương thức lãnh
đạo là sự hoạt động đồng bộ và có hiệu quả của các chủ thể chính trị, của cả
hệ thống chính trị, là hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước, là năng suất và chất
lượng công tác, lao động… được thể hiện ở tiến độ phát triển kinh tế - xã hội
và ở sự đối chiếu với yêu cầu mục tiêu của nội dung lãnh đạo. Uy tín chính trị
của Đảng, sự gắn bó giữa nhân dân với Đảng cũng chính là biểu hiện kết quả
của phương thức lãnh đạo của Đảng.
1.1.2. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta
về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Vào khoảng giữa thế kỷ XIX, loài người đã xuất hiện những nhà tư
tưởng chính trị lỗi lạc nhất của thời đại. Đó là C.Mác và Ph.Ăngghen. Một
trong những phát kiến vĩ đại nhất của các ông là học thuyết duy vật biện
chứng về lịch sử. Các ông đã chỉ rõ “Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày
nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”. Cuộc đấu tranh ấy dẫn tới sự xác lập và
lần lượt thay thế nhau của các Nhà nước: chủ nô, phong kiến, tư sản…
Với quan điểm khoa học lịch sử, C.Mác đã chứng minh quyền lãnh đạo
lịch sử đã chuyển sang tay giai cấp vô sản bởi những lực lượng sản xuất xã
hội, đã phát triển lên đến mức mà giai cấp tư sản không có thể chế ngự được
nữa, chỉ còn đợi đến lúc giai cấp vô sản đoàn kết lại, đoạt lấy những lực lượng
sản xuất đó để thiết lập nên một chế độ đem lại cho mỗi thành viên của xã hội
khả năng tham gia không những vào công việc sản xuất, mà cả vào việc phân


17



tiến hành công nghiệp hoá, điện khí hoá toàn quốc; thực hiện dân chủ xã hội
chủ nghĩa...
Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, Lênin đấu tranh không khoan nhượng với
các quan điểm tư sản, kịch liệt phê phán chủ nghĩa xét lại, cơ hội “tả”,
“khuynh”, giáo điều,... trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, bảo
vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác. Sự phát triển sáng tạo học thuyết Mác
của Lênin đã làm cho chủ nghĩa cộng sản khoa học trở thành hệ thống lý luận
thống nhất của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa Mác đã gắn liền với tên tuổi của Lênin
và chủ nghĩa xã hội khoa học, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân được gọi là
chủ nghĩa Mác – Lênin. Với bản chất khoa học và cách mạng, ngày nay chủ
nghĩa Mác – Lênin đã, đang tiếp tục được vận dụng, bổ sung và phát triển
trong thực tiễn đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các
dân tộc trên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Vấn đề Đảng cộng sản cầm quyền nói chung và nội dung, phương thức
cầm quyền (hay phương thức lãnh đạo) của Đảng nói riêng là một trong
những nội dung quan trọng được chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Chỉ đến đầu
thế kỷ XX, trong những điều kiện mới, kế thừa những di sản tư tưởng, quan
điểm cơ bản của Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã phát triển và có những
luận điểm sâu sắc về vấn đề cầm quyền của Đảng
Ngay từ trước cách mạng thág Mười Nga (năm 1917), Lênin đã cho
rằng, Đảng Bônsêvích Nga “bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng đứng ra nắm toàn
bộ chính quyền”. Trong thời kỳ lãnh đạo giành chính quyền và xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước Nga, Lênin đã nhiều lần sử dụng trong các bài nói, bài
viết của mình các thuật ngữ, khái niệm như “đảng cầm quyền”, “đảng chấp
chính”, “đảng nắm chính quyền”, “đảng lãnh đạo”… Theo ông, Đảng cầm
quyền có nghĩa là Đảng lãnh đạo nhà nước hay đảng lãnh đạo nhà nước khi đã




20

chấp hành Trung ương, mà phải nâng cao uy quyền của Hội đồng Bộ trưởng
dân uỷ…” (5,t.45,tr.136-137). Từ đó, Lênin khẳng định nếu cứ lãnh đạo Đảng
bằng cách đó thì sớm muộn cũng đi tới chỗ diệt vong. Vì vậy, để khắc phục
sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan Đảng và Nhà nước
cần phải phân định rõ ràng nhiệm vụ của Đảng với nhiệm vụ của chính quyền
Xôviết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ Xôviết và các
cơ quan Xôviết, còn về Đảng thì nắm quyền lãnh đạo chung.
Cùng với việc phân định rõ chức năng, quyền hạn bộ máy của Đảng và
bộ máy của Nhà nước, Lênin cũng chỉ ra rằng, Đảng cộng sản Nga cầm quyền
tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà còn lãnh đạo cả xã hội và việc
nhất thể hoá một số bộ phận hoặc cán bộ lãnh đạo của Đảng và chính quyền
sẽ không ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của cả Đảng và chính quyền.
Theo Lênin, điều quan trọng là phải nhận thức sâu sắc rằng, Đảng có chức
năng lãnh đạo còn nhà nước có chức năng quản lý hành chính. Như vậy,
Lênin đã khẳng định rất rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Lãnh
đạo là công việc có những cách thức khác với quản lý. Quản lý của nhà nước
mang tính chất hành chính, có lúc cần thiết phải sử dụng cả sự cưỡng bức, còn
lãnh đạo không thể có cưỡng bức. Lãnh đạo của Đảng cần đến uy tín và có
sức thuyết phục cao, từ đó mới giữ vững được vai trò cầm quyền của mình.
Theo Lênin, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện chủ yếu
và trước hết ở việc Đảng xác định mục tiêu mang tính chất định hướng trong
các chủ trương, đường lối, cương lĩnh, nghị quyết của mình. Đồng thời Đảng
cũng phải xác định cả nhiệm vụ cho Đảng và Nhà nước. Trong các nhiệm vụ
ấy, cần phải xác định rõ đâu là nhiệm vụ cấp thiết, đâu là nhiệm vụ mấu chốt.
Và Đảng. đảng chỉ cần định ra các phương hướng, nhiệm vụ chung về các
mặt và nguyên tắc chung về tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước không
nên đề ra các nhiệm vụ quá chi tiết, nội dung giải quyết công việc quá cụ thể.

Đảng cầm quyền trong bộ máy nhà nước, mọi hoạt động của Nhà nước mới



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status