ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 36

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG

PHẠM QUỲNH ANH

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành
Mã ngành

: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
: D850101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS. Phạm Thị Hồng Phương

HÀ NỘI, 2016


2

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan bản đồ án tốt nghiệp này là công trinh nghiên cứu thực sự
của cá nhân em, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát thực tế
dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Phạm Thị Hồng Phương – Giảng viên khoa
Môi trường – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.
Các số liệu được sử dụng trong đồ án là trung thực, được cung cấp bởi các

tháng

năm 2016

Sinh viên thực hiện đồ án

Phạm Quỳnh Anh


4

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
PHỤ LỤC


5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND

Ủy ban nhân dân

Bộ NNPTNT

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn



8

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Vốn được mệnh danh là “lá phổi” của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng
trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta.
Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một
yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến
đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống.
Là một quốc gia đất hẹp người đông, Việt Nam hiện nay có chỉ tiêu rừng vào
loại thấp, chỉ đạt mức bình quân khoảng 0,14 hecta rừng, trong khi mức bình quân
của thế giới là 0,97 ha/người. Việt Nam có tổng diện tích đất nông nghiệp trên 13
triệu ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là trên 10 triệu ha, rừng trồng trên 3 triệu
ha, độ che phủ rừng 39.5%. Phân bố diện tích cho 3 loại rừng như sau: Rừng sản
xuất khoảng 8 triệu ha, rừng phòng hộ khoảng 6 triệu ha, rừng đặc dụng khoảng 2.3
triệu ha với 32 vườn quốc gia và 120 khu bảo tồn thiên nhiên [10].
Diện tích rừng của Thủ đô Hà Nội năm 2010 có gần 29.171, 3 ha tổng diện
tích rừng, trong đó rừng sản xuất 13.982,9 ha, rừng phòng hộ 5.034,2 ha, rừng đặc
dụng 10.154,2 ha. Diện tích rừng hiện có của Thủ đô Hà Nội không lớn nhưng gắn
với các điểm di tích văn hóa lịch sử, danh lam thắng cảnh, các khu du lịch…
Rừng nói chung và rừng phòng hộ nói riêng giữ vai trò rất quan trọng đối với
cuộc sống của con người như cung cấp lâm sản, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo
tồn đa dạng sinh học, du lịch cảnh quan, góp phần vào bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
cũng như an ninh biên giới quốc gia,…
Trong những năm qua diện tích rừng phòng hộ trên cả nước đang bị suy giảm
nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng rừng, làm ảnh hưởng tới chức năng
phòng hộ môi trường và tính đa dạng sinh học của rừng. Một phần nguyên nhân dẫn

2. Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố
Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quán lý rừng phòng hộ trên
địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn và sự ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến rừng trồng.
- Thực trạng phân bố diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Sóc Sơn
- Các yếu tố ảnh hưởng đến rừng phòng hộ.

9


10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm và vai trò của hệ sinh thái rừng phòng hộ
1.1.1. Khái niệm
Có nhiều cách định nghĩa rừng khác nhau nhưng hầu hết đều định nghĩa dựa
vào phạm vi không gian, hệ thống sinh vật và cảnh quan địa lý:
Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối quan hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi
không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển (Morozov 1930). Rừng chiếm
phần lớn bề mặt trái đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý.
Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các
cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của của
mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau với hoàn cảnh bên
ngoài (M.E.Tcachenco 1952).
Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cư bản của sinh

Đối với khí hậu
Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua việc giảm lượng nhiệt
chiếu từ mặt trời xuống trái đất, do rừng có độ che phủ lớn, rừng còn có vai trò quan
trọng trong việc duy trì và điều hòa lượng cacbon trên trái đất do vậy rừng có tác
dụng trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu.
Các loại thực vật sống có khả năng tích trữ lượng cacbon trong khí quyển, vì
sự tồn tại của thực vật rừng cũng như hệ sinh thái rừng có vai trò rất quan trọng
trong việc chống lại hiện tượng nóng dần lên của trái đất. Theo thống kê thì trong
đất (tính đến độ sâu 30m) cacbon trong sinh khối và trong toàn bộ hệ sinh thái rừng
là 638 Gt (Giga), lượng cacbon này lớn hơn nhiều so với lượng cacbon có trong khí
quyển, do đó trong Nghị định thư Kyoto nêu lên các giải pháp quan trọng trong tiến
trình cắt giảm khí nhà kính là tăng cường hoạt động trồng rừng, tái trồng rừng và
quản lý bền vững các hệ sinh thái.
Mối quan hệ giữa rừng và biến đổi khí hậu rất phức tạp. Các khu rừng một mặt
có thể làm giảm biến đổi khí hậu bằng cách hấp thu cacbon, mặt khác rừng có thể
góp phần làm biến đổi khí hậu khi suy thoái hoặc phá hủy.
Phát triển công ngiệp cùng với việc gia tăng dân số, vấn đề về sản xuất và chỗ
ở ngày càng được quan tâm. Đất đai không sinh thêm, muốn có chỗ ở và làm việc
con người phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất lâm nghiệp sang đất ở trực
tiếp chuyển đổi mục đích của rừng, điều này đồng nghĩa với việc tài nguyên rừng
đang suy giảm và kéo theo hậu quả nặng nề. Theo FAO ( Tổ chức lương thực thế
giới) tính đến hết tháng 2/2011, cả thế giới đã mất hơn 13 triệu ha rừng, chủ yếu là
do chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, rừng chỉ chiếm 31% diện tích các châu lục
toàn cầu với tổng diện tích chưa đầy 4 tỷ ha rừng. Báo cáo đánh giá lần thứ tư của
11


12

IPCC công bố năm 2007 cho thấy 20% lượng chất thải gây hiệu ứng nhà kính của


12


13

Hình 1.1. Hình ảnh suy thoái rừng
Hiện nay, nguồn tài nguyên đất đặc biệt là đất rừng đang bị suy giảm do đó
cần phải có biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn đất và rừng để bảo vệ và
phát huy tối đa tiềm năng của nguồn tài nguyên này.


Đối với tài nguyên nước
Một vai trò không kém phần quan trọng của rừng là điều hòa nguồn nước,
giảm dòng chảy bề mặt, tăng lượng nước ngầm, hạn chế hiện tượng lắng đọng, dòng
”ong, ”ong hồ. Tăng lượng nước vào mùa khô, hạn chế nước vào mùa lũ. Một số
nhà khoa học cho rằng lưu lượng nước chảy bề mặt giảm đi ở những nơi có đất rừng
so với những khu vực đất trống đồi trọc đặc biệt là đất nông nghiệp. Thông tin này
được chứng minh bởi các công trình nghiên cứu khác nhau có sử dụng hàng loạt kỹ
thuật khác nhau. Nghiên cứu ở Việt nam cho rằng lưu lượng dòng chảy mặt tại
những nơi có rừng thấp hơn từ 2,5 đến 27 lần so với các khu vực canh tác nông
nghiệp. Thêm vào đó rừng tự nhiên có tác dụng tốt hơn so với rừng trồng trong việc
dòng chảy mặt nguyên nhân là do rừng trồng có lớp thảm mục ít và đã bị cơ giới
hóa. Đây là yếu tố quan trọng của rừng trong việc ngăn chặn và làm giảm tác động
của các cơn lũ. Rừng còn là một nhà máy xử lý nước thải và cung cấp không khí
trong lành khổng lồ. Rừng Sóc Sơn giữ một nhiệm vụ quan trọng là giảm tải ô
13


14

sách đỏ Việt Nam thuộc diện rất nguy cấp như hoàng đàn rủ, hoàng đàn, bách vàng,
bách tán Đài Loan; một số cây thuốc quý như ba gạc hoa đỏ, sâm vũ diêp, tam thất
hoang; các loài thực vật đặc hữu của Việt Nam như giác đế Tam Đảo, sao lá cong;

14


15

cây cảnh quý hiếm như lan hài đỏ, lan hài điểm ngọc, lan hài Tam Đảo, lan hài Hê –
len.
Danh mục sách đỏ động vật Việt Nam bao gồm các loài động vật có trong sách
đỏ Việt Nam dưới các mức độ đe dọa khác nhau. Trong số đó là các loài động vật
chỉ tìm thấy duy nhất trên lãnh thổ Việt Nam, không tìm thấy ở nơi khác trên thế
giới như: Gà lôi lam đuôi trắng (Lophura hatinhensis), gà lôi lam màu trắng
(Lophura edwardsi), gà tiền mặt đỏ (polyplectron), gà trĩ sao (Rheinardia ocellata),
Voọc ngũ sắt (Trachipithecus phayrei) và các loài lần đầu phát hiện trên thế giới tại
Việt Nam, hiện tại chưa thấy hoặc ít thấy chúng ở các nước khác: Mang Trường Sơn
(Muntiacus truongsonensis), Mang lớn, Sao la ( Pseudoryx nghetinhensis), Bò rừng
xoăn.


Đối với kinh tế
Rừng vừa là yếu tố bảo vệ môi trường nhưng cũng là một thành phần kinh tế
quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực cung cấp gỗ cho công nghiệp chế biến và xuất
khẩu. Xuất khẩu gỗ là ngành chủ lực của Malaysia, mỗi năm đóng góp vào nền kinh
tế nước này khoảng 7 tỷ USD. Trong những năm gần đây, tình hình xuất gỗ của Việt
Nam ngày một gia tăng đóng góp vào sự phát triển của đất nước [9].
Tùy vào đặc điểm tính chất của từng loại cây mà chúng ta có sản phẩm phù
hợp. Chẳng hạn gỗ huỳnh, săng le, sao nhẹ, bền, xẻ ván dài, ngâm trong nước mặn


277

1992

295

1993

335

1994

360

Rừng còn là nơi cung cấp nguồn dược liệu tự nhiên. Tổ chức y tế thế giới
WHO đánh giá là 80% dân các nước đang phát triển ”ong lâm sản ngoài gỗ để
chữa bệnh, làm thự phẩm bồi bổ sức khỏe, một số loại dược liệu như: Tam thất, nấm
linh chi, Đông trùng hạ thảo…hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về công
dụng và cách phát triển những loài quý này.
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đang thực hiện nhiều dự án phát
triển lâm sản ngoài gỗ như “Trình diễn năng lực phục hồi rừng bền vững ở Việt
Nam” do APFNET tài trợ. Dự án này đã thực hiện được hai năm tại huyện Thanh
Sơn và Tân Sơn thuộc tỉnh Phú Thọ, nguồn vốn gần 600.000 USD, APFNET tài trợ
gần 500.000 USD.


Đối với du lịch sinh thái
Đây là loại hình dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi
trường, đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực

phí vận chuyển, nhập khẩu từ nước ngoài; tăng tính cạnh tranh thương mại trong và
ngoài nước.
1.2.

Thực trạng tài nguyên rừng

1.2.1.

Thực trạng tài nguyên rừng trên thế giới
Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 3.870 triệu ha rừng, trong đó 95% là
rừng tự nhiên và 5% rừng trồng. Phá rừng nhiệt đới và suy thoái rừng ở nhiều vùng
trên thế giới đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến các loại hàng hoá và dịch vụ
từ rừng. Diện tích rừng ở các nước phát triển đã ổn định và đang tăng nhẹ, còn ở các
nước đang phát triển, phá rừng vẫn đang tiếp diễn. Mức thay đổi ước tính hàng năm
diện tích rừng trên toàn thế giới (thập kỷ 90) là 9,4 triệu ha, là số liệu dựa trên mức
phá rừng hàng năm là 14,6 triệu ha và diện tích rừng tăng ước tính là 5,2 triệu ha.
Tài nguyên rừng trên trái đất ngày càng bị thu hẹp về diện tích và trữ lượng.
Số liệu thống kê cho thấy, diện tích rừng Trái đất thay đổi theo thời gian sau:
- Ðầu thế kỷ 20: 6 tỷ ha
- Năm1958
: 4,4 tỷ ha
- Năm1973
: 3,8 tỷ ha
- Năm1995
: 2,3 tỷ ha.

17


18

1.1

Rừng tự nhiên

10.100.186 2.008.254 3.938.689 4.059.302 93.941

1.2

Rừng trồng

A
B
2

3.696.320

76.878

625.848 2.692.621 300.973

Rừng trồng cây đã khép tán 3.282.258

68.266

555.741 2.390.993 267.258

8.612

70.107


39,02%

2

Cây cao su, đặc sản

464.390

1,40%

13.796.506

40,43%

Tổng

18


19

Nguồn: Quyết định số 3135/QĐ-BNN-TCLN ngày 06/08/2015 của Bộ Nông nghiệp
và phát triển nông thôn
* Mất rừng xảy ra phổ biến ở nhiều nơi
Mặc dù tổng diện tích rừng toàn quốc tăng trong những năm qua, nhưng diện
tích rừng bị mất còn ở mức cao. Thống kê năm đến hết ngày 31/12/2014, tổng diện
tích rừng thay đổi là 346.979 ha. Trong đó, diện tích rừng trồng mới 173.813 ha;
diện tích rừng bị khai thác 67.572 ha; diện tích rừng bị cháy 1.385 ha; diện tích
rừng bị sâu bệnh 95 ha, diện tích rừng bị phá 2.170 ha, diện tích chuyển đổi mục
đích sử dụng đất có rừng là 59,172 ha;

Gần đây xuất hiện một số đường dây buôn bán gỗ, động vật hoang dã xuyên biên
giới, quá cảnh qua nước ta sang nước thứ ba.
* Tình hình phòng cháy, chữa cháy rừng
Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, trong giai đoạn 10 năm (20022011), cả nước đã xảy ra 7.380 vụ cháy rừng; diện tích rừng bị thiệt hại 49.837 ha.
Bình quân 715 vụ/năm, diện tích rừng bị thiệt hại gần 5.000 ha/năm. Thiệt hại giá
trị kinh tế về tài nguyên rừng hàng trăm tỷ đồng mỗi năm và ảnh hưởng nghiêm
trọng về môi trường sống.
Rừng bị cháy trong những năm gần đây chủ yếu là rừng trồng, với các loài cây
chính là thông, ”ong, bạch đàn, keo; đối với rừng tự nhiên, chủ yếu là cháy rừng
nghèo kiệt, rừng khoanh nuôi tái sinh mới được phục hồi. Nguyên chủ yếu trực tiếp
gây ra cháy rừng là: Do đốt dọn thực bì làm nương rẫy, đốt dọn đồng ruộng gây
cháy, chiếm 41,80%; do người vào rừng ”ong lửa để săn bắt chim thú, đốt đìa bắt
cá, trăn, rùa, rắn…, hun khói lấy mật ong, chiếm 30,9%; đốt dọn thực bì tìm phế
liệu 6,1%; cháy lân tinh 5,5%; hút thuốc 3%; đốt nhang 2%; cố ý 5%; nguyên nhân
khác 5,7%.
* Phòng trừ sinh vật hại rừng
Những năm qua, trên diện tích rừng cả nước chưa xảy ra dịch bệnh làm mất
rừng với quy mô lớn. ở một số địa phương như: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế có xảy ra hiện tượng dịch sâu róm hại
rừng trồng loài cây thông, có năm diện tích rừng thông bị nhiễm bệnh lên đến hàng
chục ngàn hécta, đã ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và năng xuất nhựa.
Ngành lâm nghiệp đã sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật phòng, trừ, như phun thuốc
sâu, biện pháp sinh học… Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, ứng dụng công nghệ, kỹ
thuật về phòng trừ sinh vật hại rừng còn rất hạn chế, chủ yếu mới thực hiện các giải
pháp ứng phó khi dịch xảy ra, các biện pháp phòng sinh vật hại rừng chưa được
quan tâm đúng mức, do vậy, sẽ rất ”ong túng nếu dịch xảy ra trên quy mô lớn.
Theo quy định hiện hành của pháp luật, công tác quản lý về phòng trừ sinh vật hại
20



1,2 triệu hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta. Ở nhiều tỉnh, rừng tự nhiên giàu còn
lại rất thấp, như Lai Châu còn 7,88%, Sơn La 11,95%, và Lào Cai 5,38%. Sự suy
21


22

giảm về độ che phủ rừng ở các vùng này là do mức tăng dân số đã tạo nhu cầu lớn
về lâm sản và đất trồng trọt. Kết quả đã dẫn tới việc biến nhiều vùng rừng thành đất
hoang cằn cỗi. Những khu rừng còn lại ở vùng núi phía Bắc đã xuống cấp, trữ
lượng gỗ thấp và bị chia cắt thành những đám rừng nhỏ phân tán.

22


23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu rừng phòng hộ bảo vệ môi trường trên địa bàn
huyện Sóc Sơn
- Thời gian: từ tháng 3/2016 đến tháng 6/2016
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp kế thừa
Thu thập các tài liệu khoa học, các tạp chí khoa học, đề tài nghiên cứu về
rừng phòng hộ và các số liệu ”ong quan. Tham khảo, kế thừa các tài liệu, các đề tài
đã được tiến hành trước đó có ”ong quan đến rừng.
2.3.2. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu câu hỏi. Chọn điểm
nghiên cứu có diện tích rừng trồng lớn của huyện là 03 xã: Nam Sơn, Bắc Sơn,
Minh Trí mỗi xã 15 – 20 phiếu.
▪ Phỏng vấn nhóm những người am hiểu gồm cán bộ quản lý rừng; chủ nhiệm
HTX; hộ dân tiêu biểu, những người có nhiều kinh nghiệm chăm sóc và bảo vệ
rừng…số lượng phiếu10 -15 phiếu
▪ Phỏng vấn người dân tại 3 xã có diện tích rừng lớn nhất: Nam Sơn, Bắc Sơn,
Minh Trí mỗi xã 15 – 20 phiếu.
Nội dung chính của phiếu hỏi:
+ Đối với nhóm người am hiểu: Xây dựng phiếu hỏi với nội dung công tác
quản lý, những chính sách và kế hoạch về vấn đề quản lý và bảo vệ rừng, các
phương pháp để phát triển và bảo vệ rừng…Đối tượng là cán bộ quản lý rừng; chủ
nhiệm HTX; hộ dân tiêu biểu, những người có nhiều kinh nghiệm chăm sóc và bảo
vệ rừng 3 xã Nam Sơn, Bắc Sơn, Minh Trí.
+ Đối với người dân: Xây dựng phiếu hỏi liên quan tới các vấn đề khai thác
rừng, các mục đích của sản phẩm khai thác được từ rừng, các nguyện vọng được
tham gia bảo vệ rừng tại địa phương…Đối tượng là nhân dân của 3 xã Nam Sơn,
Bắc Sơn, Minh Trí.
2.3.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

24


25

Tổng hợp các số liệu và chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho việc
làm đề tài, được xử lý như sau:
- Xử lý số liệu thu được bằng phương pháp thống kê.
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status